So sánh truyền thuyết và lễ hội hai bà trưng ở mê linh và phú thọ - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

---------------

NGUYỄN THỊ HỒNG THANH

SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ
TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

---------------

NGUYỄN THỊ HỒNG THANH

SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ
TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ

Chuyên ngành : Văn học dân gian
Mã ngành

: 60 22 01 25

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


Nguyễn Thị Hồng Thanh


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU...................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 3
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 4
3. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 5
4. Dự kiến những đóng góp của luận văn. ................................................. 5
5. Cấu trúc của luận văn. ............................................................................ 5
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI ........................................................... 6
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài ..................................................... 6
1.1.1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết ...................................... 6
1.1.2. Lễ hội ............................................................................................... 9
1.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội ........ Error! Bookmark not
defined.
1.3. Khái quát vùng đất Mê Linh và Phúc Thọ...... Error! Bookmark not
defined.
1.3.1 Mê Linh – một vùng đất giàu truyền thống văn hóa .............Error!
Bookmark not defined.
1.3.2. Phúc Thọ - mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời .......Error!
Bookmark not defined.
1.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................. Error! Bookmark not defined.
1.4.1. Giai đoạn trước 1945..................... Error! Bookmark not defined.
1.4.2. Từ 1945 đến nay ........................... Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết: ...................................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2: NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CHUỖI
TRUYỀN THUYẾT VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA HAI BÀ TRƢNG Ở MÊ
LINH VÀ PHÚC THỌ .................................... Error! Bookmark not defined.

2.3.3.1 Các truyền thuyết địa danh liên quan đến cuộc khởi nghĩa của
Hai Bà Trưng ở Phúc Thọ .................... Error! Bookmark not defined.
2.4. Truyền thuyết phong vật về bánh trôi làng Hát Error! Bookmark not
defined.
Tiểu kết: ...................................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG LỄ HỘI HAI
BÀ TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ ... Error! Bookmark not defined.
3.1. Thống kê các lễ hội về Hai Bà Trƣng và các tƣớng lĩnh trên địa bàn
huyện Mê Linh và Phúc Thọ..................... Error! Bookmark not defined.
3.2. Những điểm tƣơng đồng trong lễ hội Hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi và Hát
Môn.............................................................. Error! Bookmark not defined.
3.3. Những khác biệt trong lễ hội Hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi và Hát Môn
...................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.3.1 Thời gian của lễ hội ....................... Error! Bookmark not defined.
3.3.2. Nghi thức tế lễ ............................... Error! Bookmark not defined.
3.3.2.1. Nghi thức tế lễ ở lễ hội Hạ Lôi – Mê LinhError! Bookmark not
defined.
3.3.2.2. Nghi thức tế lễ ở lễ hội Hát Môn – Phúc ThọError! Bookmark
not defined.
3.3.3. Những kiêng kỵ trong lễ hội ......... Error! Bookmark not defined.
3.3.4 Những lễ vật dâng cúng trong lễ hộiError! Bookmark not defined.
3.4. Ý nghĩa của lễ hội Hai Bà Trƣng ....... Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết: ...................................................... Error! Bookmark not defined.
C. KẾT LUẬN ............................................... Error! Bookmark not defined.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 11

2


A. MỞ ĐẦU

với Hai Bà.
Đặt truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng ở huyện Mê Linh trong sự so
sánh với truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng ở huyện Phúc Thọ để tìm ra
những nét tƣơng đồng và khác biệt thông qua khảo sát, điền dã thực tế, sƣu tầm
tƣ liệu và điều tra xã hội học sẽ cho chúng ta nhiều điều độc đáo, hấp dẫn từ góc
độ văn học dân gian.
Từ những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ là So sánh
truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ để nghiên cứu.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là chuỗi những truyền thuyết
dân gian xung quanh cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng cùng các tƣớng lĩnh; lễ
hội Hai Bà Trƣng và các tƣớng lĩnh trên địa bàn 2 huyện Mê Linh và Phúc Thọ
(Thành phố Hà Nội).
Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở nguồn thƣ
tịch trong các sách chính thống đã xuất bản và tƣ liệu sƣu tầm đƣợc thông qua
điền dã, khảo sát thực tế ở hai huyện Mê Linh và Phúc Thọ (Thành phố Hà
Nội). Riêng phần lễ hội tập trung chủ yếu là lễ hội Hai Bà Trƣng ở hai làng Hạ
Lôi – Mê Linh và Hát Môn – Phúc Thọ. Bởi đây là hai làng tiêu biểu nhất trong
việc thờ tự và tổ chức lễ hội Hai Bà ở Mê Linh và Phúc Thọ nói riêng cũng nhƣ
ở đồng bằng sông Hồng nói chung. Bên cạnh đó luận văn có liên hệ một số lễ
hội tiêu biểu về các tƣớng lĩnh trên địa bàn hai huyện này. Mê Linh và Phúc
Thọ đã qua nhiều lần thay đổi tên gọi, thay đổi địa giới hành chính, nhƣng luận
văn chỉ chủ yếu tập trung khảo sát, nghiên cứu các truyền thuyết và lễ hội ở hai
huyện này với địa giới hành chính nhƣ hiện nay.

4


3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu đa ngành nhƣ điền dã

1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết
Khái niệm truyền thuyết
Trƣớc đây truyền thuyết là một khái niệm khá mơ hồ, thiếu xác định. Có
quan niệm cho rằng truyền thuyết dùng để chỉ một mẩu chuyện đƣợc lƣu truyền
nhƣng chƣa hoàn chỉnh hay không có cốt truyện. Hoặc có quan niệm cho rằng
truyền thuyết là những chuyện truyền miệng lấy nhân vật, sự kiện lịch sử làm
nội dung. Nhƣng hiện nay, thuật ngữ truyền thuyết chủ yếu đƣợc dùng với tƣ
cách là một thể loại văn học dân gian.
Ở Việt Nam, truyền thuyết từ lâu đã đƣợc ghi chép thành văn bản.
Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã đề cập đến khái
niệm này: “Truyền thuyết dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch
sử còn đƣợc truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính xác. Có thể do
truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do tƣởng tƣợng của quần chúng phụ họa,
thêu dệt mà càng sai lạc hơn.Và truyền thuyết phần nhiều chƣa đƣợc xây dựng
thành truyện. Nó mới chỉ là những mẩu chuyện. Nếu nó phát triển đến mức
hoàn chỉnh thì tùy theo nội dung mà nó có thể trở thành truyện cổ tích hoặc thần
thoại” [4, tr.19]. Trong bài viết Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho
sử học in trong cuốn Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các
anh hùng ông cũng viết thêm: “Cái mà ta gọi là truyền thuyết chỉ là những
truyện kể đƣợc quét một lớp sơn ảo tƣởng. Tuy nhiên nếu nhà làm sử khéo tay
sẽ chọn lấy phần tinh chất, phần cốt lõi của hiện thực sau khi đã bóc bỏ cái lớp
sơn ảo tƣởng kia” [ 21, tr. 28].
Phan Trần trong Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử chú ý
đến phƣơng thức phản ánh truyền thuyết: “Truyền thuyết là những truyện
truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch

6




thuyết dân gian thƣờng có một cái lõi sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế
hệ đã lí tƣởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cũng thơ và
mộng. Chắp đôi cánh của sức tƣởng tƣợng và nghệ thuật dân gian làm nên
những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu ta ƣa thích” [9, tr. 9].
Phân loại truyền thuyết
Việc phân loại các thể loại văn học dân gian nói chung và phân loại
truyền thuyết nói riêng khó có thể mạch lạc. Chỉ cần tuyệt đối hóa một đặc
trƣng duy nhất nào đó của thể loại cũng dẫn đến phiến diện trong việc phân
loại. Tùy mục đích, đối tƣợng nghiên cứu mà mỗi nhà nghiên cứu có một cách
phân loại khác nhau. Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam,
viết chung với Võ Quang Nhơn và Nguyễn Hùng Vĩ, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia, in lần thứ hai, xuất bản năm 1996 chia làm ba loại: truyền thuyết lịch
sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Đỗ Bình
Trị trong Văn học [56] chia truyền thuyết làm ba loại: truyền thuyết địa danh,
truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ. Vũ Ngọc Khánh trong Truyền
thuyết Việt Nam [19] lại chia thành: truyền thuyết địa danh và di tích, truyền
thuyết lịch sử, truyền thuyết tổ ngành nghề. Còn Kiều Thu Hoạch trong Văn
học dân gian người Việt – góc nhìn thể loại [14] đã chia truyền thuyết làm ba
loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết phong vật, truyền thuyết địa
danh….Ở đây chúng tôi thấy cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu
Hoạch đã dựa trên đặc trƣng phản ánh của truyền thuyết, lấy đối tƣợng và nội
dung của truyền thuyết làm yếu tố quan trọng. Và ở mỗi tiểu loại lại có đặc
trƣng riêng:
Truyền thuyết nhân vật: là những truyện kể dân gian về những nhân vật
và sự kiện lịch sử.
Truyền thuyết địa danh là những truyện kể dân gian để nhằm giải thích
nguồn gốc tên gọi của tên gọi của địa danh ở các địa phƣơng có gắn các sự kiện

8



nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội
cộng sản văn minh sau này” [17, tr. 172].
Trong Cơ sở văn hóa Việt nam, nhóm tác giả đã định nghĩa lễ hội thông
qua việc lý giải nguồn gốc, thời điểm ra đời lễ hội từ nghi lễ nông nghiệp: “Cƣ
dân Việt và cƣ dân các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam là những cƣ dân nông
nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nƣớc. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ
tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp
để ngƣời dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho mùa vụ đã qua và cầu mong
phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà biến thiên thời gian đã lắng đọng
nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cƣ dân đƣợc gọi là
lễ hội” [60, tr. 97].
Trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh
hùng, tác giả Lê Văn Kỳ đã đƣa ra định nghĩa: “Hội lễ là một cuộc vui lớn của
cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngƣỡng, thi thố tài năng,biểu
dƣơng sức mạnh, tái hiện cuộc sống con ngƣời trong trƣờng kỳ lịch sử.Nó là
một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hóa dân gian luôn luôn tƣơng
tác lẫn nhau” [21, tr. 38].
Lễ hội là một diễn xƣớng văn hóa tổng hợp với nhiều yếu tố cấu thành.
Nhƣng dù là lễ hội, thời đại nào cũng đều nhất thiết phải có hai yếu tố cơ bản là
lễ và hội. Hai thành tố này có quan hệ biện chứng, hữu cơ không tách rời. Mà
theo nhƣ Đinh Gia Khánh: “Danh từ hội lễ nên đƣợc dùng nhƣ một thuật ngữ
văn hóa. Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là
hội và lễ. Hội là tập hợp đông ngƣời trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là các
nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [17, tr. 172].
Trần Quốc Vƣợng cũng cho rằng: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa
không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng thần, thánh, phật, mẫu…) và hội (tụ hội

10

11


Q.2 : Truyền thuyết về thời Bắc thuộc Ngô - Đinh - Tiền Lê.
15. Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An (2007), Tuyển tập văn học dân gian Việt
Nam, Tái bản lần thứ 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
T.1 : Thần thoại - truyền thuyết
16. Hồ Quốc Hùng (2003), Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại, Nxb Trẻ,
Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học Tp. Hồ Chí Minh.
17. Đinh Gia Khánh (1987), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
18. Vũ Ngọc Khánh (1995), Từ vựng thuật ngữ Folklore Việt Nam, Nxb Văn
hóa thông tin.
19. Vũ Ngọc Khánh, Trần Thị An, Phạm Minh Thảo (1998), Truyền thuyết Việt
Nam, Nxb. Văn hoá Thông tin.
20. Vũ Tiến Kỳ (1990), Tìm hiểu truyền thuyết qua lễ hội, Tạp chí văn học dân gian,
số 4.
21. Lê Văn Kỳ (1996), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về
các anh hùng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
22. Nguyễn Thị Lâm khảo cứu, phiên âm, chú giải, Nguyễn Ngọc San hiệu đính
(2001), Thiên nam ngữ lục, Nxb. Văn học, Trung tâm Ngôn ngữ Đông Tây.
23. Ngô Sĩ Liên (1973), Đại Việt sử kí toàn thư, Bản dịch của Hoàng Văn Lâu Tập IV - NXB khoa học xã hội, Hà Nội.
24. Mị Long, Trưng Vương (Sự tích Hai Bà),Tập sách quốc âm, Hiệu sách Văn
Hiến, Hà Nội.
25. Đinh Văn Nhật (1982), Huyện lị Mê Linh và quê hƣơng của Hai Bà Trƣng
qua thƣ tịch cổ, Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr 50 – 57.
26. Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên) (2012), Văn học Việt Nam - Văn học dân gian những công trình nghiên cứu, Tái bản lần 6, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

12



42. Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt
Nam, Nxb. Giáo dục.
43. Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1972), Lĩnh Nam Chích Quái, Đinh Gia Khánh,
Nguyễn Ngọc San dịch, tái bản, Nxb văn học, Hà Nội.
44. Vũ Quỳnh (1993), Tân Lĩnh nam chích quái, Bùi Văn Nguyên dịch thuật,
chú thích và dẫn nhập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
45. Bùi Đăng Sinh (2007), Văn hóa dân gian Vĩnh Phúc, Sở văn hóa thông tin
Vĩnh Phúc.
46. Bùi Quang Thanh (1982), Truyền thuyết dân gian với tâm lý cộng đồng
ngƣời Việt, Tạp chí văn học, số 2.
47. Bùi Quang Thanh (1983), Sơ bộ thẩm định một số giá trị của truyền thuyết
dân gian về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Luận văn Th.s, ĐH Sƣ phạm Hà
Nội.
48. Bùi Thiết, Hà Văn Kỉnh, Nguyễn Hồng Dƣơng…(1979), Một số truyền
thuyết về tướng lĩnh Hai Bà Trưng, Hà Sơn Bình, Ty văn hoá thông tin Hà Sơn
Bình.
49. Bùi Thiết (1982), Ngọc phả và truyền thuyết về Hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi,
Nghiên cứu lịch sử, số 4, Tr 58 – 62.
50. Nguyễn Khắc Thuần (2000), Danh tướng Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
51. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng, lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hóa thông
tin, Viện văn hóa.
52. Lê Kim Thuyên (2003), Hai Bà Trưng và các tướng của Hai Bà trên đất
Vĩnh Phúc, di tích và sự tích, Sở Văn hóa thông tin – thể thao Vĩnh Phúc.
53. Lê Kim Thuyên (2006), Lễ hội Vĩnh Phúc, Sở văn hóa thông tin Vĩnh Phúc.
54. Phan Trần (1967), Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử, Tạp chí
văn học, số 3.

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status