ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ
TRƯNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ
TRƯNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ
Chuyên ngành : Văn học dân gian
Mã ngành
: 60 22 01 25
trường diễn xướng của lễ hội. Qua đó người đọc sẽ hình dung một cách tổng thể
hơn về cuộc khởi nghĩa của hai vị nữ vương đầu tiên của Việt Nam.
Truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng tồn tại ở nhiều địa phương, vùng
miền khác nhau, mỗi vùng miền lại lưu truyền những câu chuyện kể, có những
nghi lễ thờ cúng khác nhau theo những đặc điểm, phong tục, tập quán, quan
niệm riêng của mình. Hai trong số những địa phương tiêu biểu trong việc lưu
truyền truyền thuyết và lễ hội Hai Bà là Mê Linh – quê hương của Hai Bà, cũng
là nơi Hai Bà xưng vương, đóng đô và Phúc Thọ - nơi Hai Bà lập đàn thề khởi
nghĩa, trẫm mình tự tận để bảo toàn danh tiết. Ngày 9/12/2013 vừa qua, đền Hát
Môn (huyện Phúc Thọ) và đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh) được Thủ tướng
chính phủ ký quyết định số 2383/QĐ-TTg xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc
4
biệt. Đây như một sự ghi nhận, tôn vinh của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đối
với Hai Bà.
Đặt truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở huyện Mê Linh trong sự so
sánh với truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở huyện Phúc Thọ để tìm ra
những nét tương đồng và khác biệt thông qua khảo sát, điền dã thực tế, sưu tầm
tư liệu và điều tra xã hội học sẽ cho chúng ta nhiều điều độc đáo, hấp dẫn từ
góc độ văn học dân gian.
Từ những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ là So sánh
truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ để nghiên cứu.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là chuỗi những truyền thuyết
dân gian xung quanh cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh; lễ
hội Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh trên địa bàn 2 huyện Mê Linh và Phúc Thọ
(Thành phố Hà Nội).
Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở nguồn thư
Luận văn cũng góp thêm một phần vào việc giáo dục cho thế hệ sau thêm
tự hào về cha ông mình đã từng chiến đấu hy sinh chống giặc ngoại xâm bảo vệ
bờ cõi, giang sơn giành lại độc lập cho dân tộc.
5. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn được
trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về đề tài
Chương 2. Những tương đồng và khác biệt trong chuỗi truyền thuyết về cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ
Chương 3. Những tương đồng và khác biệt trong lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê
Linh và Phúc Thọ.
6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết
Khái niệm truyền thuyết
Trước đây truyền thuyết là một khái niệm khá mơ hồ, thiếu xác định. Có
quan niệm cho rằng truyền thuyết dùng để chỉ một mẩu chuyện được lưu truyền
nhưng chưa hoàn chỉnh hay không có cốt truyện. Hoặc có quan niệm cho rằng
truyền thuyết là những chuyện truyền miệng lấy nhân vật, sự kiện lịch sử làm
nội dung. Nhưng hiện nay, thuật ngữ truyền thuyết chủ yếu được dùng với tư
cách là một thể loại văn học dân gian.
Ở Việt Nam, truyền thuyết từ lâu đã được ghi chép thành văn bản.
Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã đề cập đến khái
niệm này: “Truyền thuyết dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch
sử còn được truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác. Có thể do
truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do tưởng tượng của quần chúng phụ họa,
lịch sử chính xác đích thực, nhưng lại có thể tìm thấy những thứ mà không có
một tài liệu lịch sử nào có thể ghi lại được. Tính chính xác lịch sử trong truyền
thuyết, như nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch khẳng định: không phải hoàn toàn
ở sự phản ánh về thời gian, không gian, nhân danh, sự biến, trình tự biên niên
của sự kiện mà chủ yếu là ở bản chất, ở cái cốt lõi của lịch sử. Đó là một thứ
lịch sử văn hoá - tinh thần của nhân dân. Nó không giống như chính sử, nhưng
lại luôn được dân gian thừa nhận đó chính là lịch sử đáng tin cậy của mình. Và
truyền thuyết thể hiện tất cả những điều đó nhờ yếu tố tưởng tượng, hư cấu.
Yếu tố tưởng tượng, hư cấu trong truyền thuyết làm cho hành trạng của mỗi
nhân vật anh hùng trở nên kỳ vĩ, nhân vật được sánh ngang tầm thần thánh, tạo
nên một cốt truyện truyền cảm, sinh động, vừa chân thực vừa hấp dẫn, giúp cho
truyền thuyết trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ chứ không phải là một
tài liệu sử học. Mà nói như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Những truyền
8
thuyết dân gian thường có một cái lõi sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế
hệ đã lí tưởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cũng thơ và
mộng. Chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên
những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu ta ưa thích” [9, tr. 9].
Phân loại truyền thuyết
Việc phân loại các thể loại văn học dân gian nói chung và phân loại
truyền thuyết nói riêng khó có thể mạch lạc. Chỉ cần tuyệt đối hóa một đặc
trưng duy nhất nào đó của thể loại cũng dẫn đến phiến diện trong việc phân
loại. Tùy mục đích, đối tượng nghiên cứu mà mỗi nhà nghiên cứu có một cách
phân loại khác nhau. Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam,
viết chung với Võ Quang Nhơn và Nguyễn Hùng Vĩ, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia, in lần thứ hai, xuất bản năm 1996 chia làm ba loại: truyền thuyết lịch
sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Đỗ Bình
là hội hè hay hội hè đình đám….
Dù gọi với tên gọi nào cũng đều bao chứa hai yếu tố cơ bản của nó là lễ
và hội. Và cũng không thể coi lễ quan trọng hơn hay hội quan trọng hơn. Bởi
nếu thiếu một trong hai yếu tố này sẽ không còn là hội lễ nữa. Vì thế gọi là lễ
hội hay hội lễ đều được mà không ảnh hưởng đến nội dung, tính chất của lễ hội.
Nhưng phần đông các học giả cũng như trong dân gian gọi là lễ hội.
Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm, định nghĩa về lễ
hội. Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt
văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn
giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [18, tr. 79].
Đinh Gia Khánh thì cho rằng: “Trước hết phải nói rằng hội lễ là môt hình
thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài người trên
cơ sở một nhu cầu không thể không thỏa mãn của con người sống thành xã hội.
Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc, tức là dưới chế độ cộng sản
10
nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội
cộng sản văn minh sau này” [17, tr. 172].
Trong Cơ sở văn hóa Việt nam, nhóm tác giả đã định nghĩa lễ hội thông
qua việc lý giải nguồn gốc, thời điểm ra đời lễ hội từ nghi lễ nông nghiệp: “Cư
dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân nông
nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ
tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp
để người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho mùa vụ đã qua và cầu mong
phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà biến thiên thời gian đã lắng đọng
nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân được gọi là
lễ hội” [60, tr. 97].
Trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh
mâu thuẫn. Tất cả đều khẳng định hội lễ là một cuộc vui của cộng đồng, hội đi
đôi với lễ để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và đảm bảo cho cuộc vui đó hoàn
thiện hơn.
Tổng hợp các quan điểm của các học giả trên, chúng tôi cho rằng: Lễ hội
là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng, bao gồm phần lễ và phần
hội. Lễ là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con
người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước
cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ trong lễ hội là hoạt
động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng chung của cộng đồng. Hội
là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu
cuộc sống.
1.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội
Truyền thuyết và lễ hội đều là sản phẩm hoạt động tinh thần của nhân
dân, do dân sáng tạo, bồi đắp, lưu giữ và thể hiện. Tuy nhiên truyền thuyết và lễ
12
hội là hai lĩnh vực khác nhau, truyền thuyết thuộc phạm trù văn học dân gian,
còn lễ hội thuộc phạm trù văn hóa – xã hội. Truyền thuyết tập trung khắc hoạ
nhân vật, sự kiện lịch sử bằng ngôn từ, bằng hình tượng, bằng các biện pháp
nghệ thuật theo đặc trưng của thể loại. Trong khi đó lễ hội là một sinh hoạt văn
hoá dân gian tổng hợp, cần có môi trường diễn xướng, có cộng đồng tham dự.
Lễ hội ca ngợi người anh hùng bằng tín ngưỡng, bằng nghi thức lễ bái, bằng
phong tục, bằng sự kiêng kị, bằng vật phẩm dâng cúng, bằng việc diễn lại sự
tích, hành trạng, bằng trò chơi dân gian, bằng đám rước….
Với thế mạnh, và cũng là đặc trưng thể loại của mình, cả truyền thuyết và
lễ hội là công cụ để nhân dân nhận thức về lịch sử, là tấm gương phản chiếu
trung thành lý trí và tình cảm của nhân dân trong sự nhận thức đó.
Về mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội có thể nói quan hệ giữa
hiện bằng diễn xướng trong lễ hội, tạo sự sinh động, hấp dẫn, thu hút và để lại
ấn tượng sâu sắc cho mọi người, tạo nên một diện mạo văn hóa khá hoàn chỉnh,
mang dấu ấn riêng về nét đẹp văn hóa làng nước – một sản phẩm Foklore độc
đáo của dân tộc.
Mối quan hệ này được thể hiện rõ trong các truyền thuyết và lễ hội ở
một số nơi như:
Hội chọi trâu Đồ Sơn 9/8 âm lịch gắn với truyền thuyết về người anh
hùng nông dân áo vảo Quận He Nguyễn Hữu Cầu chống lại nhà nước phong
kiến tàn bạo những năm 1741 – 1745. Để tưởng nhớ công lao và người anh
hùng, nhân dân mở hội múa cờ và chọi trâu.
Hội Gióng được tổ chức từ 5 – 12/4 âm lịch hàng năm ở làng Phù Đổng
để tưởng nhớ người anh hùng làng Gióng. Đây là lễ hội hoành tráng, mang tính
chất hoàn chỉnh, mẫu mực trên các bình diện: truyền thuyết, tổ chức và nghệ
thuật biểu diễn. Lễ hội diễn lại đầy đủ cuộc đời, hành trạng của Thánh Gióng từ
lúc nhỏ cho đến lúc lớn lên đánh trận, múa cờ, chém giặc…
14
Hay tục đánh phết ở Hiền Quan (Tam Nông – Phú Thọ) trong lễ hội bà
Thiều Hoa công chúa – tướng lĩnh của Hai Bà Trưng; hay tục hú đáo trong lễ tế
thần Ngọc Trinh công chúa ở xã Lũng Hòa – Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc…. Tất
cả đều thể hiện rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội.
Điểm qua các lễ hội trên đây ta thấy rằng các lễ hội bao giờ cũng gắn với
truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết là nội dung còn lễ hội là hình thức.
Như vậy có thể nói, truyền thuyết là cốt lõi của lễ hội, khiến cho lễ hội có
nội dung thiêng liêng, còn lễ hội làm cho việc diễn xướng truyền thuyết được
sinh động, thu hút sự gắn bó và cộng cảm của tập thể.
Đối với lễ hội, truyền thuyết đóng vai trò là xương sống, là cốt truyện
dẫn dắt tiến trình lễ hội, là cách bảo lưu truyền thuyết có hiệu quả nhất, là sự
sử - văn hoá như một minh chứng cho đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo tinh tế
của người Việt, đồng thời còn đánh dấu sự ra đời và phát triển của văn minh
cộng đồng, làng xã Việt Nam.
Qua nghiên cứu tìm hiểu, các nhà khoa học đã cho thấy các di tích lịch
sử, đình, đền, chùa, miếu là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, ẩn
chứa trong đó là cốt cách, là tâm hồn của người dân đất Việt. Từ lâu trong tâm
thức của người dân Mê Linh, các di tích lịch sử - văn hoá chính là một phần
linh hồn, một nét văn hoá đặc sắc của quê hương. Do vậy, nơi đây đã lưu giữ
được 179 di tích, trong đó 27 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 01 di tích
được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 42 di tích được xếp hạng cấp tỉnh,
thành phố.
Cũng giống như các di tích lịch sử - văn hoá trong cả nước, di tích lịch
sử - văn hoá huyện Mê Linh gồm có: đình, đền, chùa, miếu; bên cạnh còn có di
chỉ khảo cổ học.
Di chỉ khảo cổ học được tìm thấy ở Mê Linh đó là di tích Thành Dền. Di
chỉ Thành Dền ở xã Tự Lập được phát hiện năm 1970 với diện tích khoảng
16
2,5ha. Hiện vật thu lượm được khá phong phú, bao gồm: đồ đá, đồ đồng, và đồ
gốm… Đặc biệt đây còn tìm được nhiều khuôn đúc và hàng trăm cục sỉ đồng.
Có thể khẳng định Thành Dền không những là một di chỉ cư trú mà còn là một
trung tâm luyện đúc đồng quan trọng đương thời. Cùng với di chỉ Đồng Đậu
huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc, di chỉ Thành Dền ở Mê Linh đã tạo nên một bộ
mặt văn hoá, một giai đoạn đồ đồng khá phát triển ở cả lưu vực sông Hồng thời
kỳ tiền Hùng Vương. Cho đến nay trong giai đoạn văn hoá Đồng Đậu, trên lưu
vực sông Hồng, chưa có điểm nào phong phú, toàn diện hơn di chỉ Đồng Đậu
và Thành Dền.
Mê Linh là huyện đồng bằng, nên không có sự phân chia vùng miền.
ông như: đình Diến Táo, đền Kim Giao xã Tiến Thắng thờ Lý Nam Đế, xã
Quang Minh có 4 di tích thờ Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng và các
tướng của Triệu Việt Vương. Các di tích lịch sử - văn hoá này đã và đang làm
thành một vùng di tích về thời Triệu Việt Vương ở phía nam Mê Linh.
Là huyện có truyền thống văn hoá lâu đời, trong suốt thời kỳ phong kiến
Việt Nam (1075-1919), nghĩa là từ triều Lý mở khoa thi đầu tiên đến khoa thi
cuối cùng dưới triều Nguyễn, huyện Mê Linh liên tục có người đăng khoa.
Toàn huyện có 15 tiến sỹ Nho học, trong đó dưới triều Lê có 12 danh nhân. Các
danh Nho thể hiện là những người có nhiều đóng góp cho quê hương mình. Đỗ
Nhuận người thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, đỗ tiến sĩ năm 1446 lúc 20 tuổi. Ông
làm quan đến chức Thượng Thư, Đông Các đại học sĩ, từng được vào cung dạy
học cho Vương tử và thường được đạo đàm với vua Lê. Nhờ giỏi thơ mà Đỗ
Nhuận được vua Lê Thánh Tông phong làm Tao đàn Phó nguyên suý. Ông đã
cùng các ông Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đàm Văn Lễ, Đào Cử biên
soạn sách “Thiên Nam dư hạ tập”, ghi chép chính sự về triều Lê, gồm 100
quyển. Ông còn cùng với Thân Nhân Trung và Lương Thế Vinh khảo cứu âm
nhạc nước nhà và Trung Quốc, đặt ra hai bộ Đồng Văn và Nhã Nhạc. Hiện nay,
18
trên địa bàn huyện cũng có nhiều di tích thờ các vị. Do đó, các di tích lịch sử
văn hoá nơi đây không chỉ có giá trị về mặt tâm linh, nghệ thuật, kiến trúc và
còn bao hàm tinh thần hiếu học, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc cho các thế hệ con
cháu noi theo.
Phần lớn các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Mê Linh là thờ nhân
thần, vì nơi đây là vùng đất gắn liền với các sự kiện lịch sử đấu tranh giải phóng
dân tộc như: Hai Bà Trưng, thời kỳ nhà Tiền Lý. Tuy là huyện nằm ven sông,
nhưng Mê Linh ít có di tích thờ thủy thần, ngay cả một xã nằm ven sông vẫn
thờ nhân thần, điều này chứng tỏ nhân dân nơi đây ít chịu ảnh hưởng bởi yếu tố
Làng Hạ Lôi – xã Mê Linh trước kia có tên là Cổ Lôi trang (trang Cổ
Lôi), là làng của bốn làng nhỏ hợp lại: làng Đường, làng Nội, làng Hội, làng
Kiên. Trải qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính trong lịch sử, Mê Linh một
thời là huyện Chu Diên, sau đổi là huyện Yên Lãng lệ thuộc vào phủ Tai Đới.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, làng Hạ Lôi thuộc địa phận xã Mê
Linh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ năm 2008, theo quyết định mở rộng
thủ đô Hà Nội, làng Hạ Lôi thuộc xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà
Nội.
Phải chăng mạch nguồn Nghĩa Lĩnh hội tụ về đây đã tạo thành nguyên
khí, để rồi tại mảnh đất linh thiêng này đã sản sinh ra cho dân tộc hai vị nữ anh
hùng là Trưng Trắc và Trưng Nhị cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân xâm lược
ra khỏi bờ cõi. Đồng Đống, đồng Tranh, đồng Hàn, đồng Đỗi, Bãi Huyện, Hồ
Tắm Voi…. Vẫn còn lưu dấu chân của các vị anh hùng xưa, mãi âm vang nơi
hồn thiêng sông núi.
Trải qua thời gian, các di tích lịch sử - văn hoá vẫn mãi mãi biểu thị lòng
tri ân, uống nước nhớ nguồn của các thế hệ đối với những người có công với
nước với dân; đồng thời còn là minh chứng cho đôi bàn tay khéo léo, óc sáng
tạo của nhân dân, và là nơi để mỗi người dân Việt gửi gắm niềm tin, tâm hồn
của mình sau những ngày lao động vất vả. Bảo vệ, tu bổ và tôn tạo di tích cũng
20
chính là chúng ta đang đọc và thực hiện bản thông điệp không lời của tiền nhân
gửi lại cho chúng ta, cho hôm nay và mai sau.
1.3.2. Phúc Thọ - mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời
Từ trung tâm Hà Nội, nếu đi theo quốc lộ 32 theo hướng Sơn Tây khoảng
35 km là chúng ta đến địa phận huyện Phúc Thọ. Phúc Thọ là huyện đồng bằng
Bắc Bộ, nằm bên bờ hữu ngạn của cả hai con sông: sông Hồng và sông Đáy,
thuộc hệ thống sông Hồng. Huyện được thành lập vào ngày 2/8/1822. Huyện
biết coi trọng đạo lý, giữ gìn nét đẹp truyền thống và những tinh hoa của dân
tộc. Họ đã biết phát huy mối quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, đặc biệt là mối
quan hệ của các dòng họ trong mỗi làng xã để tạo nên thuần phong mỹ tục riêng
của từng làng xã.
Với truyền thống hiếu học, Phúc Thọ là vùng đất có nhiều vị đỗ đạt cao.
Tiêu biểu là Kiều Văn Bá 33 tuổi đỗ đệ tam giáp, đồng tiến sĩ khoa Tân Mùi,
niên hiệu Hồng Thuận (1511); Hoàng Bồi năm 27 tuổi đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ
(Hoàng Giáp) khoa Quý Mùi – Hồng Đức (1493), đời Lê Thánh Tông; Nguyễn
Đạo Hưng, 29 tuổi đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng Giáp) khoa Quý Sửu, niên
hiệu Hồng Đức (1493); Nguyễn Đỗ Cung (Nhâm Tí 1912 - 1977), họa sĩ xuất
sắc trong thế hệ tạo hình đầu tiên của nước ta….. Ở Phúc Thọ có làng Thư Trai
– xã Phúc Hòa nổi danh là làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học lâu đời với
rất nhiều người đỗ đạt, làm quan. Đặc biệt, các vị đỗ đạt trong làng này có quan
hệ huyết thống rất gần gũi, hoặc là bố con, ông cháu, hoặc là anh em. Nhiều
người cho rằng đây là truyền thống hiếu học được thể hiện trong một số gia
đình ở Thư Trai.
Phúc Thọ cũng là vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hiến với cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng lừng lẫy, nhiều bậc hiền tài đóng góp cho đất
nước trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, văn hóa…
Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, Phúc Thọ luôn làm tốt
vai trò “cửa ngõ” bảo vệ Thủ đô, góp công vào chiến thắng chung của dân tộc.
22
Những tên tuổi các vị anh hùng của Phúc Thọ đã đi vào lịch sử dân tộc có thể
kể đến là: Hai Bà Trưng, Phùng Tú, Phùng Huyền, Phùng Cát, Giang Văn
Minh, Đốc Ngữ, Hoàng Đạo Cật, Hà Nguyên Thị……
Phúc Thọ còn là quê hương của truyền thuyết và thơ ca dân gian. Ngoài
truyền thuyết Hai Bà Trưng nổi tiếng ở Hát Môn, ở đây còn lưu giữ một số
Phúc Thọ và xã Hát Môn dài khoảng 15km. Sông này còn có tên là sông Đáy
chảy qua địa bàn 3 tỉnh: Hà Tây (cũ), Hà Nam và Ninh Bình rồi đổ ra biển. Xưa
kia đây là con sông lớn, là huyết mạch giao thông quan trọng của quận Giao
Chỉ. Theo dòng sông Hát, người ta có thể ngược lên Mê Linh, Việt Trì, Hòa
Bình hoặc xuôi về Nam vào tận Cửu Chân (Thanh Hóa). Chính vì vị trí địa lý
như vậy mà Hai Bà đã chọn Hát Môn làm căn cứ khởi nghĩa: lấy sông nước Hát
Giang làm căn cứ địa, rừng xanh Hát Môn làm nhà, chọn bãi cát dài Trường Sa
làm nơi lập đàn thề, tế cờ khao quân, đọc hịch khởi nghĩa. Tất nhiên, do biến
đổi của thời gian, Hát Môn với rừng xanh lau lách trước kia không còn, mà nay
chỉ còn trong ký ức. Nhưng nhân dân nơi đây vẫn rất tự hào với truyền thống
lịch sử, văn hóa của địa phương.
Xã Hát Môn nổi tiếng với đền thờ Hai Bà Trưng. Sau nhiều lần trùng tu,
tôn tạo, quần thể ngôi đền gồm các hạng mục: Quán tiên, cổng Tứ trụ, Nghi
Môn, đền chính, nhà Tạm ngự, nhà Ngự dội, nhà tưởng niệm, thủy đình, đàn thề
và không gian lễ hội rộng lớn. Nơi đây cũng lưu giữ được hệ thống truyền
thuyết với các lễ hội Hai Bà được tổ chức thường niên vào các ngày 6/3, 4/9,
24/12 (âm lịch). Đó là không gian văn hóa đậm đặc văn hóa xứ Đoài, mang vẻ
đẹp nhân văn, có ý nghĩa giáo dục rất lớn cho thế hệ trẻ về lịch sử, văn hóa.
Tóm lại, Phúc Thọ - Hà Nội là một vùng văn hóa, lịch sử lâu đời, tiêu
biểu cho văn hóa xứ Đoài. Chiều dài lịch sử huyện Phúc Thọ cũng là bề dày của
văn hóa, của những chiến công oanh liệt trong trang sử vàng đấu tranh xây
dựng, bảo vệ đất nước. Đó là những nét đẹp cần được nâng niu, trân trọng và
24
cũng góp một phần không nhỏ vào làm tôn vinh thêm nét đẹp văn hoá, phong
tục của văn hoá Việt.
1.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cho đến nay đã trải qua được gần