skkn một số BIỆN PHÁP GIÁO dục kĩ NĂNG SỐNG CHO học VIÊN TRUNG tâm GIÁO dục THƯỜNG XUYÊN TỈNH đăk NÔNG THÔNG QUA VIỆC TÍCH hợp dạy học môn NGỮ văn lớp - Pdf 44

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VỰNG VIẾT TẮT

3

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Phạm vi nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cở sở lí luận
2.2. Thực trạng vấn đề giáo dục kỹ năng sống
2.2.1. Đối tượng học viên tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
2.2.2. Kỹ năng sống của học viên Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
2.3. Các biện pháp tiến hành
2.3.1. Lồng ghép kỹ năng sống qua từng phân môn
2.3.1.1. Phân môn Giảng văn
2.3.1.2. Phân môn Tiếng việt
2.3.1.3. Phân môn Làm văn
2.3.2. Các giải pháp thực hiện lồng ghép kỹ năng sống trong giờ dạy

4
4
5
5
5
5
6

PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ KHẢO SÁT

1


DANH MỤC TỪ VỰNG VIẾT TẮT
1
2
3
4
5

GDTX
GV
HV
KNS
SL

Giáo dục thường xuyên
Giáo viên
Học viên
Kỹ năng sống
Số lượng

2


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển

Bồi dưỡng các KNS cần thiết cho học viên Trung tâm GDTX tỉnh Đăk
Nông nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập, nhận thức và hình thành
thói quen, nhân cách.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giảng dạy KNS thông qua giờ dạy môn Ngữ văn cho học
viên lớp 11 Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí thuyết cho đề tài.
4


+ Các tài liệu, công trình nghiên cứu về lí luận dạy học, phương pháp
dạy kỹ năng sống cho học viên.
+ Sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành và các tài liệu chuyên môn.
+ Trao đổi với giáo viên, học viên để tìm hiểu về thực trạng đối tượng
học viên tại Trung tâm và các biện pháp giảng dạy KNS cho học viên.
- Phương pháp: Thử nghiệm dạy khối lớp 11 ở Trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh Đăk Nông.
+ Đánh giá tính hiệu quả của biện pháp tác động thông qua sự thay đổi
nhận thức, thái độ và hành vi của học viên.
+ Quan sát sư phạm để tìm hiểu hứng thú học tập của học viên.
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Ngữ văn lớp 11 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đăk Nông.

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Kỹ năng
Là năng lực để chúng ta làm một việc gì đó. Kỹ năng không tồn tại độc
lập. Nó là một hình thái của tư duy, của khái niệm. Hình thành khái niệm phải
đi đến kỹ năng. Khi khái niệm được chiếm lĩnh (chuyển vào trong người học)

2.1.3. Một số kỹ năng sống cơ bản
2.1.3.1. Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình
- Kỹ năng tự nhận thức;
- Kỹ năng xác định giá trị bản thân;
- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc;
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng;
6


- Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ;
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin;
- Kỹ năng kiên định;
- Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm;
- Kỹ năng đặt mục tiêu;
- Kỹ năng quản lý thời gian.
2.1.3.2. Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với người khác
- Kỹ năng giao tiếp;
- Kỹ năng lắng nghe tích cực;
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông;
- Kỹ năng thương lượng;
- Kỹ năng hợp tác;
- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn;
- Kỹ năng hợp tác;
- Kỹ năng từ chối.
2.1.3.3. Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin;
- Kỹ năng tư duy phê phán;
- Kỹ năng tư duy sáng tạo;
- Kỹ năng ra quyết định;
- Kỹ năng giải quyết vấn đề.

rất hạn chế.
Bên cạnh đó, đối tượng tuyển sinh của Trung tâm GDTX là học viên
người lớn (người lao động phổ thông có độ tuổi từ 20 trở lên). Trong học tập,
học viên người lớn có những đặc điểm riêng, khác so với học viên đúng độ
tuổi. Một trong những điểm khác biệt căn bản đó là yếu tố tâm lý, tác động và
liên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả học tập của đối tượng này. Việc
học tập của học viên người lớn có mục đích rõ ràng: họ học cho ngày hôm
nay, học để làm gì, nên việc học tập của học viên người lớn có tính thực tế rất
cao. Họ chỉ có nhu cầu học những nội dung thiết thực, những cái có khả năng
vận dụng được ngay. Vì vậy họ rất nhạy bén khi tiếp cận với những kỹ năng
sống có tác dụng hữu ích với công việc, cuộc sống của họ, mục đích học tập
của họ là làm tốt hơn công việc đang làm, để chuyển đổi công việc,…
8


Hầu hết các học viên người lớn không có thời gian để học tập một cách
bài bản, khả năng học tập của học hạn chế, hổng nhiều kiến thức, tư tưởng dễ
bị phân tán do phải vừa làm vừa học, vừa phụ giúp gia đình. Tuy nhiên, học
viên người lớn là người tự lập, có tự trọng cao, có năng lực chịu trách nhiệm
cao. Họ cũng đã có kinh nghiệm KNS nhất định. Đây là điểm thuận lợi khi
dạy học và tích hợp giáo dục KNS cho họ, nhưng cũng là điểm hạn chế, cản
trở quá trình học tập, nhận thức vì học viên người lớn thường ứng xử theo
thói quen, họ có cảm giác “biết rồi” khi học.
2.2.2. Kỹ năng sống của học viên Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
Hiện nay, dư luận hết sức quan tâm và lo ngại về các biểu hiện lệch lạc,
thậm chí vi phạm pháp luật của học sinh Trung học phổ thông nói chung và
học viên ở các Trung tâm GDTX nói riêng ngày càng tăng.
- Đối tượng tôi đề cập trong sáng kiến này chủ yếu tập trung vào đối
tượng học viên trong độ tuổi đến trường. Phần lớn học viên ở Trung tâm
GDTX tỉnh Đăk Nông nhiều học viên nam hơn học viên nữ, vì nhiều lí do mà

biệt quan trọng là họ thích ứng với những thay đổi của xã hội và giải quyết tốt
hơn những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
2.3. Các biện pháp tiến hành giáo dục KNS
2.3.1. Lồng ghép giáo dục KNS qua từng phân môn
2.3.1.1. Phân môn Giảng văn
Lồng ghép KNS qua các tác phẩm văn học tạo hứng thú cho các em
trong việc tiếp thu kiến thức. Các em phát huy được vai trò của mình trong
từng tiết học. Một buổi sáng bước vào lớp với cỡ 15 học viên với những
gương mặt ngơ ngác, ngáp ngủ, nằm vật vờ ra bàn, GV giảng bài độc thoại
một mình. Đó là điều tôi đã trải qua với nhiều tiết học. Thiết nghĩ, nếu cứ để
tình trạng này kéo dài môn Ngữ văn đặc biệt là giờ giảng văn trở nên ngán
ngẫm, nhàm chán là phương tiện “ru ngủ” cho học viên. GV chỉ là cái máy
phát âm thanh không hơn không kém, GV đặt câu hỏi và tự trả lời đáp án.
Việc lồng ghép KNS qua các chi tiết, hình ảnh, nội dung bài giảng văn
Mỗi chi tiết trong tác phẩm tự sự, mỗi hình ảnh trong tác phẩm trữ tình và nội
dung nói chung của các tác phẩm văn học đều mang trên mình nó những giá
trị thẩm mĩ và tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc một thông
điệp nào đó.
10


Ví dụ: Bài “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ. Bài thơ là bức
chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ về một cá tính mạnh mẽ, một con
người xuất chúng dám sống là mình, vượt lên thói tục thông thường để khẳng
định bản ngã vừa là một tuyên ngôn cho lí tưởng sống phóng khoáng đối lập
với xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu đương thời. Nguyễn Công Trứ đã
khiến chúng ta phải suy nghĩ về bài học “ hãy tin vào chính mình”. Nếu nghĩ
ta làm được thì sẽ làm được. Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường, kẻ thất bại
mà luôn luôn đòi hỏi sự vượt trội của bản thân. Có như vậy các em mới thành
công trong cuộc sống.

nhiệm. Tình thương là cái quý giá của con người, bệnh vô cảm đã làm mất
phẩm chất ấy. Vì vậy trái tim mỗi con người cần được thắp sáng ước mơ, khát
vọng, ý chí và sự sáng tạo gắn bó với cộng đồng. Điều đó sẽ chống được bệnh
vô cảm và làm cho cuộc đời của con người có ý nghĩa.
2.3.2. Các giải pháp thực hiện lồng ghép KNS trong giờ dạy
Trong quá trình dạy học tích hợp giáo dục KNS theo tôi mỗi GV cần có
một phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực phù hợp với từng bài học kết hợp
với việc sử dụng các phương tiện dạy học: sách giáo khoa, máy chiếu, bảng
phụ,…
Căn cứ vào tình hình thực tế của lớp dạy về đối tượng, số lượng HV
trong mỗi giờ học tôi đã cố gắng lồng ghép KNS từ những điều nhỏ nhất, sử
dụng các phương pháp dạy học phù hợp để tạo hứng thú học tập cho HV, để
các em tự đặt mình vào vấn đề các nhân vật gặp phải, tự mình tìm ra hướng
giải quyết, tự mình nói ra những suy nghĩ mà có khi trước đây một số em
chưa bao giờ làm điều đó. Từ đó, tôi thấy tiết học sôi nổi, các em hứng thú khi
lĩnh hội kiến thức mới. Đây là một số phương pháp dạy học tích cực tôi đã áp
dụng trong các giờ dạy tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông và thu được kết
quả tốt. Tuy nhiên, tùy theo từng phân môn bài học mà GV áp dụng cho phù
hợp. Một giờ học sôi nổi các em HV nắm được kiến thức trọng tâm, rèn luyện
được các KNS cần thiết cho mỗi cá nhân HV đó là điều tôi đã và đang cố
gắng phát huy trong quá trình giảng dạy. Để khi bước vào đời các em có đầy
đủ các hành trang về tri thức, trang bị đầy đủ những KNS cần thiết để đứng
vững, không sa ngã trước những va vấp trong cuộc sống.
12


Giải pháp thứ nhất: Đưa ra những tình huống thực tế
Với đối tượng là học viên Trung tâm GDTX giờ học Ngữ văn đôi khi
còn tạo áp lực cho các em. Nếu như mỗi giờ lên lớp giáo viên chỉ là người
truyền thụ còn học viên chỉ “lĩnh hội” theo kiểu nghe đọc và chép, nhìn bảng

qua đó các em thấy hứng thú và rút ra cho mình được kỹ năng sống nhỏ nhất
khi tham gia bài học.
Ví dụ: Khi dạy bài “Đặc điểm loại hình tiếng Việt” rèn luyện cho HV
các kỹ năng:
- Tư duy sáng tạo: Phân tích đối chiếu đặc điểm loại hình tiếng Việt với
các ngôn ngữ khác, từ đó biết cách sử dụng tiếng Việt phù hợp với ngữ pháp
và ngữ nghĩa.
- Tự nhận thức về việc trau dồi vốn hiểu biết tiếng Việt của bản thân để
sử dụng tiếng Việt tốt hơn trong giao tiếp.
Giáo viên cho HV tìm ví dụ một câu tiếng Việt tương đương với câu
tiếng Anh
- Tiếng Anh: I saw her, three days ago.
- Tiếng Việt: Tôi thấy cô ấy cách đây ba ngày.
Giáo viên hướng dẫn HV phâm tích ví dụ:
- Đặc điểm loại hình ngôn ngữ hòa kết của tiếng Anh trong ví dụ trên
thể hiện ở:
+ Ranh giới các âm tiết không rõ ràng: các từ three, ago dù có dạng
hai âm tiết nhưng chúng được phát âm nối liền nhau.
+ Từ có sự biến đổi về hình thức: từ saw (thấy, nhìn thấy) có hình
thức tồn tại ở thì quá khứ. Thì hiện tại của từ này viết là see. Cũng tương tự
như vậy là từ her (cô ấy). Trong câu này "cô ấy" không phải là chủ ngữ (she)
mà đóng vai trò là tân ngữ, thế nên dạng thức tồn tại của nó là tính từ sở hữu
(her).
+ Trật tự không được sắp xếp theo thứ tự trước sau. Trạng ngữ của câu
đặt ở cuối câu. Đồng thời trong trạng ngữ thì trật từ thuận cũng bị đảo lộn:
từ cách đây (ago) lại đặt sau phần chỉ thời gian (three days).
- Ngược lại với những đặc điểm trên của tiếng Anh là những đặc điểm
của loại hình ngôn ngữ đơn lập trong câu dịch tiếng Việt:
14


15


Việc đưa ra những tình huống thực tế thường tạo cho các em tâm thế
“nhập cuộc”, hào hứng, cảm thấy mình là người trong cuộc, cần phải thể hiện
suy nghĩ và hành động cụ thể. Qua những tình huống đó, các em HV dần dần
hình thành các KNS theo từng tình huống cụ thể, các em biết cách giải quyết
vấn đề và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng hợp lí.
Giải pháp thứ hai: Lĩnh hội kiến thức qua hoạt động đối thoại
Để tránh hiện tượng “độc thoại” trên bục giảng GV cần tạo ra không
khí học tập thông qua việc đối thoại, vấn đáp đa dạng giữa GV-HV. Trong quá
trình dạy học văn, giáo viên nên cố gắng để tạo ra những hoạt động đối thoại
đa dạng. Để có những cuộc đối thoại đạt hiệu quả, cần xác định những vấn đề
trọng tâm, mở ra nhiều cách giải thích khác nhau, kích thích khả năng tư duy
sáng tạo, thúc đẩy HV bộc lộ quan điểm và đối thoại.
Học xong bài “Chí Phèo” GV hỏi: Cuối tác phẩm Chí Phèo đâm chết
Bá Kiến để trả thù. Vậy trong xã hội bây giờ, nếu ai có thù oán với em, em có
hành động như Chí Phèo không? Vì sao?
GV cho các em HV phản biện lại ý kiến của mình. Có ý kiến nói
“không”, với tính cách của HV Trung tâm có ý kiến nói “có” và đưa ra cách lý
giải riêng của từng em. Vì vậy cần GV định hướng phân tích bản chất của sự
việc, chỉ ra chỗ nào đúng, chỗ nào sai. Từ đó giúp học viên rút ra bài học về
sự xử lí khi có mâu thuẫn.
Ở phân môn Tiếng việt: Ví dụ trong bài “Thực hành về thành ngữ, điển
cố” những kiến thức về lý thuyết các em đã được học ở chương trình Ngữ văn
cấp Trung học cơ sở, nếu như GV hỏi: Em hãy cho biết thành ngữ là gì? Điển
cố là gì?. Nếu như đối tượng là học sinh phổ thông những em học khá sẽ lấy
được ví dụ và hiểu được nội dung dù không đầy đủ. Đối tượng là HV Trung
tâm thì hầu hết các em đều lắc đầu, ngồi khép nép sợ cô gọi đến mình. Tôi đã
tiến hành giảng dạy bài học bằng power poin và tiết học rất thành công, các

dụng phương pháp dạy học theo nhóm. Sử dụng một phương pháp dạy học
không có nghĩa là đề cao và coi đó là phương pháp độc tôn, bởi lẽ không có
phương pháp nào là vạn năng.
19


Tùy vào đối tượng và nội dung kiến thức của bài học mà chúng ta lựa
chọn phương pháp dạy học cho phù hợp. Tôi thấy rằng khi đưa dạy học tích
hợp KNS vào trong các giờ dạy Ngữ văn, các em đã có những chuyển biến
tích cực trong suy nghĩ và hành động, trong giờ học các em HV đã giơ tay
phát biểu, bàn luận và tự các em rút ra được những kĩ năng sống cho riêng
mình qua bài giảng của giáo viên. Thông qua hoạt động nhóm giúp các em
hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng xã hội tốt hơn.

(Một giờ học thảo luận nhóm tại lớp 11A Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông)
Để tiến hành thảo luận nhóm:
- Giáo viên tổ chức phân nhóm, cho HV tự bầu trưởng nhóm, GV thông
báo quy trình và thời gian thảo luận.
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm; giáo viên chỉ làm nhiệm vụ quan sát,
theo dõi mà không tham gia ý kiến.

20


- Khi HV trình bày, GV phải nghe cẩn thận những điều HV đó nói để
hiểu các em định nói gì hoặc ghi chép nhanh lại những điểm cơ bản của mỗi ý
kiến để chuẩn xác kiến thức.
- Sau khi thảo luận: Giáo viên phải tổng kết những ý kiến phát biểu
thống nhất và chưa thống nhất để mình tham gia vào những ý kiến chưa thống
nhất và bổ sung thêm những ý cần thiết; đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận

tạo cầu nối liên kết
giữa cái “Đã biết” và
“Chưa biết”. Cầu nối
này sẽ kết nối kinh
nghiệm hiện có của
học sinh với bài học
mới

21

Vai trò của GV và
Mô tả quá trình
học viên/gợi ý một
thực hiện
số kỹ thuật dạy
học
- GV đặt câu hỏi - GV lập kế hoạch,
nhằm gợi lại những nêu vấn đề.
hiểu biết đã có liên
quan đến bài học
mới.
- GV giúp học viên - Học viên trao đổi
phân tích các hiểu chia sẻ, sử dụng.
biết
hoặc
trải Một số kỹ thuật dạy
nghiệm.
học: Động não,
thảo luận, chơi trò
chơi,…

những hiểu biết và kỹ
năng còn sai lệch.

tiết những nét đặc
sắc về nội dung của
văn bản.
- Tiếng Việt và tập
làm văn: Hướng
dẫn học sinh tìm
hiểu nội dung bài
học.
- GV chuẩn bị hoạt
động yêu cầu học
sinh sử dụng kiến
thức và kỹ năng
mới.
- Học viên làm việc
theo nhóm, cặp
hoặc cá nhân để
hoàn thành nhiệm
vụ.
- GV giám sát tất
cả mọi hoạt động và
điều chỉnh khi cần
thiết, GV khuyến
khích học sinh thể
hiện những điều các
em suy nghĩ hoặc
mới lĩnh hội được.


lực, tính cách của từng cá nhân học viên để kịp thời uốn nắn, sửa chữa, tạo
môi trường học tập thân thiện, tích cực.
- Trong mỗi tiết học các em hào hứng hơn khi tìm hiểu kiến thức mới
và thông qua việc tích hợp giảng dạy KNS trong môn Ngữ văn mỗi giờ học
Văn không còn nhàm chán theo kiểu “cô đọc trò chép” học viên thụ động
chiếm lĩnh kiến thức mới. Học viên chủ động tìm tòi kiến thức trong không
khí sôi nổi, khắc sâu hơn bài học và tăng dần khả năng cảm nhận tác phẩm
văn học. Học viên quen dần với phương pháp học tập nhóm, biết phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Các kỹ năng trên được vận
dụng thuần thục, học viên hứng thú hơn trong giờ học Ngữ văn, phát huy vai
trò của học viên trong từng tiết học. (Bảng khảo sát phụ lục 2)

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Ngữ văn là môn học có khả năng đặc biệt trong giáo dục KNS cho
người học, việc tích hợp giáo dục KNS vào trong quá trình dạy học nói chung
23


và dạy môn Ngữ văn nói riêng là một phương pháp có thể đem lại hiệu quả
cao trong giáo dục. Nhiều bài học của môn Ngữ văn hướng đến việc giúp học
viên nhận thức được các giá trị trong cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng
xử có văn hóa trong các tình huống giao tiếp đa dạng của cuộc sống. Mặt
khác, các KNS còn được giáo dục thông qua phương pháp học tập tích cực,
dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học với những kinh nghiệm bản thân
người học, tương tác giữa người học với nhau để thực hành vận dụng linh
hoạt vào các tình huống phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, để vận dụng tốt và rộng rãi phương pháp này vào dạy học và
để đạt kết quả cao thì bản thân mỗi giáo viên phải nắm vững chuyên môn, yêu
nghề, sáng tạo trong lao động, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đòi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status