Phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn,
TS. Đỗ Thị Kim Hoa. Cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa Lý luận
chính trị, Bộ môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Viện
Đào tạo sau Đại học, trường Đại học kinh tế quốc dân.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng,
Sở thương mại thành phố Đà Nẵng. Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn, do khả năng và thời gian có hạn sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được các thầy giáo, cô giáo,
các cơ quan hữu quan và các bạn đọc tham gia góp ý để lần nghiên cứu sau có
những đóng góp thiết thực hơn cho đề tài.
Tác giả
Trần Thị Thùy Trang
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa là:
1. ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2. BQ Bình quân
3.CNXH Chủ nghĩa xã hội
4. DNTN Doanh nghiệp tư nhân
5. GDP Tổng sản phẩm quốc nội
6. TKQĐ Thời kỳ quá độ
7. TNHH Trách nhiệm hữu hạn
8. TNTN Thương nghiệp tư nhân
9. WTO Tổ chức thương mại thế giới
2
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Một trong những đặc trưng cơ bản của TKQĐ lên CNXH là sự tồn tại

nhân nghiên cứu, đã trình bày tính tất yếu của sự tồn tại nền kinh tế nhiều
thành phần, thực trạng và vai trò của kinh tế tư nhân và một số biện pháp của
Đảng và Nhà nước đối với thành phần kinh tế này. Cụ thể như:
- GS. TS Tô Xuân Dân, T.S. Nghiêm Xuân Đạt, TS. Vũ Trọng Lâm
(2002), Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa
học và kỹ thuật, Hà Nội; các tác giả đã phân tích vai trò của doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư hiệu quả hơn so với
doanh nghiệp quốc doanh, vì vậy theo các tác giả cần phải tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển hơn nữa thông qua cơ chế,
chính sách quản lý hợp lý của Nhà nước.
- PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong
tiến trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội; tác giả đã cho ta thấy rõ hơn vị trí
và tầm quan trọng của kinh tế tư nhân Việt Nam trong thời kỳ phát triển đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là niềm tin và kỳ vọng của tác giả
đối với tương lai của thành phần kinh tế tư nhân.
- CN. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2004), Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm
phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đề tài cấp thành phố; Đà
Nẵng; tác giả nghiên cứu môi trường đầu tư và vấn đề xây dựng tổ chức đảng
ở các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng.
Riêng ở thành phố Đà Nẵng chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt
động kinh doanh của thương nghiệp tư nhân. Chính vì vậy, luận văn của tôi sẽ
đi sâu nghiên cứu thực trạng và các giải pháp phù hợp để phát triển thương
nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
2
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương
nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói
riêng.
- Làm rõ thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành

quốc tế. Do vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các
trường đại học, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn.
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thương nghiệp tư
nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển thương nghiệp tư
nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1 THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ CÁC LOẠI HÌNH THƯƠNG NGHIỆP TƯ
NHÂN Ở NƯỚC TA
1.1.1. Khái niệm thương nghiệp tư nhân.
Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế là đòi hỏi
tất yếu khách quan của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trường - giai
đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Trong một nền kinh tế, trao đổi là một yếu tố, một giai đoạn quá độ của
sản xuất; nó chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với
tư cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản xuất với
tư cách là hàng hóa. Nhưng trong quá trình đó trao đổi lại trực tiếp làm xuất
hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thương nghiệp. Xét bề ngoài tưởng
như lưu thông tách biệt với sản xuất, nhưng thực chất lưu thông nói chung,
hoạt động thương nghiệp nói riêng là một trong các khâu của quá trình tái sản
xuất xã hội, trong đó hoạt động thương nghiệp có tác dụng thúc đẩy hoặc cản
trở sản xuất. Như Ph.Ăngghen đã khẳng định hai chức năng sản xuất và trao

động của thị trường và yêu cầu không ngừng mở rộng của thị trường. Vì vậy,
hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp không chỉ đơn thuần bao gồm các
hoạt động mua và bán thuần tuý mà còn được mở rộng thêm với các công
đoạn có liên quan đến quá trình thúc đẩy nhanh việc mua bán hàng hóa. Đến
nay, để thực hiện quá trình lưu thông thuận lợi, các chủ thể kinh doanh
thương nghiệp buộc phải thực hiện nhiều hoạt động trước và sau hoạt động
mua, bán như: xúc tiến thương mại (quảng cáo, đại diện thương mại, môi giới
6
thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa…), gia công, chế biến, đóng gói hàng
hóa, dịch vụ sau bán hàng (bảo hành, bảo dưỡng…).
1.1.2. Các loại hình thương nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay.
Thương nghiệp tư nhân tồn tại và hoạt động dưới nhiều hình thức. Luận
văn sẽ dựa vào những tiêu thức sau đây để phân chia thương nghiệp tư nhân
thành các loại hình khác nhau: tiêu chí hình thức tổ chức và tiêu chí theo
phạm vi và hình thức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp.
1.1.2.1. Theo hình thức tổ chức:
Dựa theo hình thức tổ chức, thương nghiệp tư nhân được chia làm hai
loại là loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và loại hình
thương nghiệp dựa trên sở hữu tư bản tư nhân.
* Loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ (các hộ cá
thể, tiểu chủ kinh doanh thương nghiệp):
Loại hình này thường được tổ chức kinh doanh theo kiểu hộ gia đình,
hay một cá nhân, hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về vốn và các điều
kiện kinh doanh khác với việc sử dụng sử dụng sức lao động của chính hộ
hay cá nhân đó, còn thuê mướn lao động làm thuê chỉ có vai trò bổ sung,
mang tính thời vụ.
* Loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư bản tư nhân:
Đây là mô hình tổ chức của các hãng buôn lớn, tồn tại dưới hình thức
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tư bản tư nhân
về vốn, tài sản và các nguồn lực khác được thu hút vào kinh doanh, có tính

thị trường lớn hơn so với doanh nghiệp TNTN.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên
hợp danh. Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
8
của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
1.1.2.2. Theo phạm vi và hình thức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
thương nghiệp:
Dựa theo phạm vi và hình thức hoạt động trong lĩnh vực thương
nghiệp, có thể phân biệt hoạt động của thương nghiệp tư nhân theo hai loại là
thương nghiệp tư nhân kinh doanh nội địa và thương nghiệp tư nhân hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Một là: Thương nghiệp tư nhân kinh doanh nội địa (bao gồm các hoạt
động thu mua, bán buôn, bán lẻ).
Hoạt động thu mua, đây là một đòi hỏi khách quan đối với nền sản xuất
hàng hoá nhỏ. Việc tồn tại và phát triển lực lượng tiểu thương làm đại lý, thu
gom hàng hoá là cần thiết. Đó là công việc tập trung các nguồn hàng từ các
kênh sản xuất khác nhau để thực hiện các hoạt động kinh doanh tiếp theo. Tuy
nhiên, khi đòi hỏi phải thu gom một số lượng hàng hoá lớn thì bản thân hoạt
động thu mua lại đòi hỏi tiềm lực kinh tế, năng lực kinh doanh của các chủ thể
mua phải ở mức đủ lớn mà thương nghiệp cá thể, tiểu chủ khó có thể đáp ứng.
Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu trên các hộ tư thương buộc phải liên kết, hợp tác với
nhau hoặc liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân có tiềm
lực tài chính mạnh hơn. Hoạt động thu mua phát triển sẽ có tác dụng khơi thông
nguồn hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tiêu
dùng.
Hoạt động bán buôn, là khâu phát luồng hàng hoá tới các kênh bán lẻ
và một phần bán trực tiếp cho các chủ thể sản xuất (các yếu tố đầu vào). Mục
tiêu hoạt động của các nhà bán buôn là tiêu thụ được khối lượng hàng hoá lớn

10
hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại thì các đối tác trong quan hệ
kinh tế cũng hết sức đa dạng với tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh
tranh cao, có bề dày kinh nghiệm. Trong cơ chế cũ, hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu do các doanh nghiệp thương mại Nhà nước thực hiện. Khi
chuyển sang cơ chế mới là cơ chế thị trường và trong xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế thì các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại là
một xu hướng tất yếu. Để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển thì việc huy
động các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong sự quản
lý của Nhà nước là chủ trương hết sức đúng đắn. Tuy nhiên, thương nghiệp tư
nhân nước ta khi tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gặp phải rất
nhiều khó khăn do tiềm lực kinh tế yếu, chưa có kinh nghiệm, khả năng nắm
bắt và xử lý thông tin thị trường nước ngoài chưa kịp thời, công tác xúc tiến
thương mại không được tổ chức thường xuyên. Đặc biệt là trình độ ngoại
ngữ, hiểu biết hệ thống pháp luật và thông lệ thương mại quốc tế của đội ngũ
doanh nhân chưa đáp ứng được yêu cầu khi tham gia kinh doanh xuất nhập
khẩu.
1.1.3 Đặc điểm hoạt động của thương nghiệp tư nhân
Một là, thương nghiệp tư nhân là hoạt động thương nghiệp đầu vào
và thương nghiệp đầu ra cho quá trình sản xuất
Hoạt động thương nghiệp tư nhân đó là hoạt động lưu thông hàng hóa
với nguồn vốn do sở hữu tư nhân. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, khi nói
đến hoạt động thương nghiệp tư nhân chính là nó đến hoạt động liên quan đến
việc mua sắm vật tư, kỹ thuật cho sản xuất (thương nghiệp đầu vào) và quá
trình tiêu thụ sản phẩm (thương nghiệp đầu ra).
Trong nền kinh tế thị trường, thương nghiệp tư nhân được coi là một bộ
phận hữu cơ, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra là để bán cho
người tiêu dùng, do đó người tiêu dùng chiếm vị trí trung tâm và là đối tượng
11

Mục tiêu kinh doanh chủ yếu của thương nghiệp cá thể, tiểu chủ xuất
phát từ nhu cầu giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho các thành viên trong gia
đình, họ hàng. Thực tế cho thấy, nhiều hộ kinh doanh thương nghiệp vẫn hoạt
động kể cả trong những trường hợp sau khi hạch toán kinh doanh không có
lãi hoặc lãi ít để đảm bảo việc làm cho các thành viên trong gia đình. Trong
một số trường hợp, kinh doanh thương nghiệp gắn với sản xuất hàng hoá nhỏ,
tức là các hộ vừa sản xuất, vừa tiêu thụ sản phẩm của mình.
Với quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, thương nghiệp cá
thể, tiểu chủ thường có tính năng động vì dễ thích ứng với những điều kiện
môi trường và địa bàn kinh doanh khác nhau. Đặc điểm này rất phù hợp với
hoàn cảnh nước ta đang trong quá trình chuyển sang phát triển kinh tế thị
trường, nhưng đó cũng chính là các nhân tố gây ra tình trạng kinh doanh tự
phát, vô chính phủ trên thị trường của loại hình thương nghiệp cá thể, tiểu
chủ, nhất là trong điều kiện quản lý nhà nước còn yếu kém. Đồng thời những
hạn chế về quy mô, vốn, chất lượng nguồn nhân lực, phương thức tổ chức
kinh doanh, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường sẽ gây cản trở
cho sự phát triển của thương nghiệp cá thể, tiểu chủ, đặc biệt trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, sự phát triển của loại hình kinh tế này rất cần
tới sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Nhà nước. Trong quá trình phát triển của
mình, thương nghiệp cá thể, tiểu chủ có thể tự khắc phục dần những hạn chế
trên bằng cách tự nguyện hợp tác, liên kết với nhau và với các loại hình kinh
tế khác dưới những hình thức thích hợp. Vì vậy, hợp tác, liên kết là một trong
những xu hướng vận động của thương nghiệp cá thể, tiểu chủ. Cũng trong quá
trình đó, một số cơ sở kinh doanh của thương mại cá thể, tiểu chủ dưới tác
động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh có thể trở thành tổ chức kinh
doanh với quy mô lớn hoạt động theo phương thức các doanh nghiệp tư bản
13
tư nhân. Đó là quá trình chuyển hoá thương nghiệp cá thể, tiểu chủ thành
thương nghiệp tư bản tư nhân.
Đối với các doanh nghiệp thương nghiệp tư bản tư nhân sức sống tự

khai thông tin các hoạt động của mình, sự phá sản của một số doanh nghiệp
của tư nhân, sẽ kéo theo sự không ổn định trong thu nhập cũng như việc làm
cho một bộ phận người lao động…
Như vậy, khác với thương nghiệp Nhà nước, thương nghiệp tư nhân, vì
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên tự quyết định và tự chịu trách nhiệm
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên thương nghiệp tư nhân
hoạt động linh hoạt với sự biến động của nền kinh tế thị trường hơn so với
thương nghiệp nhà nước. Mặc khác, trong cơ chế thị trường, rất nhiều thị
trường ngách nên thương nghiệp nhà nước khó đảm bảo hiệu quả. Trong hoạt
động kinh doanh, mặc dù thương nghiệp tư nhân vẫn tồn tại những mặc tiêu
cực khó tránh khỏi nhưng thương nghiệp tư nhân hoạt động linh hoạt và hiệu
quả so với hoạt động thương nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhất là
khi có sự biến động của nền kinh tế trong nước và toàn cầu.
Thứ ba, xu hướng về lĩnh vực tham gia của thương nghiệp tư
nhân
Trước đổi mới, mạng lưới hoạt động của thương nghiệp quốc doanh bao
gồm hoạt động thu mua, hoạt động bán buôn, hoạt động bán lẻ và được mở rộng
khắp nơi, ở thành phố và ở nông thông, ở miền xuôi, miền biển và miền núi,
ngoài ra thương nghiệp quốc doanh nắm trọn quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hóa đã giúp cho thương nghiệp quốc doanh nắm được nguyên liệu và
nguồn hàng công nghiệp, nó chi phối toàn bộ nền kinh tế của đất nước, trong khi
đó hoạt động của thương nghiệp tư nhân có xu hướng là xóa bỏ và bị phủ nhận.
15
Tuy nhiên, sau đổi mới, Nhà nước đã ban hành một số quyết định theo
hướng khuyến khích mở rộng lưu thông hàng hóa, mở rộng quyền tổ chức và
công dân Việt Nam được đăng ký kinh doanh trong ngành thương nghiệp. Trong
hoạt động xuất nhập khẩu, nhà nước đã mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia để thúc đẩy
kinh tế trong nước phát triển. Với sự hoạt động linh hoạt, và dễ thích ứng với sự
thay đổi của môi trường cạnh tranh, vì vậy ngày nay trong tất cả các hoạt động

sống và lao động vật hóa trong việc tạo ra một sản phẩm như trong lĩnh vực
sản xuất mà còn bao hàm cả việc phát triển sản xuất, phát triển lưu thông.
Hay nói cách khác, để đánh giá quá trình hoạt động của thương nghiệp tư
nhân có phát triển hay không, người ta thường dựa trên các tiêu chí về số
lượng các doanh nghiệp, quy mô hoạt động của doanh nghiệp cả về vốn và số
lao động, thị phần tiêu thụ, loại hình kinh doanh…
● Số lượng các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân:
Số lượng các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân là một trong những
tiêu chí để đánh giá hoạt động thương nghiệp tư nhân ở trong nước có phát
triển hay không. Theo tác động của quy luật giá trị, trong hoạt động kinh
doanh, nếu một ngành nào đó đầu tư kinh doanh mà mang lại lãi cao, thì các
doanh nghiệp sẽ đổ xô đầu tư vào ngành đó. Do đó, nếu tình hình kinh doanh
của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân ngày càng hiệu quả thì số lượng
các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng nhiều, còn không thì ngược lại. Dựa
vào số liệu các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hàng năm trên phạm vi cả
nước mà ta có thể xác định được sự phát triển của thương nghiệp tư nhân.
● Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân:
Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân cũng
là tiêu chí để xác định sự phát triển của thương nghiệp tư nhân, trong đó quy
mô hoạt động của doanh nghiệp đó là nguồn vốn đầu tư và nguồn lao động
17
+ Nguồn vốn:
Ở nước ta các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân hoạt động trước
đây chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng các doanh nghiệp có
quy mô lớn chiếm tỷ trọng thấp nên số lượng vốn ban đầu của các doanh
nghiệp là thấp, do ban đầu các doanh nghiệp trên chỉ kinh doanh một cách tự
phát, hoặc sao chép lại phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp khác
mà không có dự án kinh doanh dài hạn và thích hợp. Tuy nhiên, trong quá
trình hoạt động kinh doanh, nhiều doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân hoạt
động kinh doanh hiệu quả, làm cho nguồn vốn lớn hơn gấp nhiều lần so với

năng kinh doanh của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân. Trên thực tế,
dựa vào thị phần chiếm lĩnh trên thị trường của các doanh nghiệp thương
nghiệp tư nhân làm cơ sở để phản ánh được xu hướng phát triển của chúng, vì
qua thị phần tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân
cũng cho thấy được mức độ ảnh hưởng trong hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân đối với nền kinh tế của đất nước.
● Loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp thương nghiệp tư
nhân:
Dựa vào loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp thương nghiệp tư
nhân cũng là tiêu chí để xác định sự phát triển của thương nghiệp tư nhân.
Nếu như trước đây thương nghiệp tư nhân chỉ tham gia hoạt động bán lẻ,
phạm vi kinh doanh nhỏ, tình trạng mua bán lấn chiếm vỉa hè là chủ yếu gây
mất trật tự, mỹ quan đô thị. Tuy nhiên, sự phong phú về hàng hóa, mức sống
được nâng cao, sự gia tăng của khách nước ngoài vào làm việc và du lịch,
cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực thương nghiệp giữa các thành
phần kinh tế đã góp phần to lớn vào hình thức bán của các doanh nghiệp
thương nghiệp tư nhân, từ hình thức bán lẻ là chủ yếu sang hình thức bán
buôn và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng hình thức bán buôn trên
19
phạm vi cả nước. Bên cạnh đó, trên thị trường nước ta đã xuất hiện nhiều
doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân kinh doanh mang dáng dáp của các tập
đoàn kinh tế lớn như SATRA, Công ty Phú Thái, Công ty cổ phần và thương
mại G7…với phương thức kinh doanh mới theo hướng hiện đại, văn minh
làm cho hoạt động kinh doanh thương nghiệp trên địa bàn cả nước có xu
hướng này càng phát triển.
Bên cạnh đó, đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, trước đây
hoạt động này chỉ do thương nghiệp nhà nước đảm nhận và chi phối toàn bộ
toàn nền kinh tế, nhưng ngày nay thương nghiệp tư nhân còn kinh doanh
không chỉ ở thị trường nội địa mà còn tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu
và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

sd:
: Thu nhập quốc dân được sử dụng
R
sx
: Thu nhập quốc dân được sản xuất
Tiêu chí này cho biết thu nhập quốc dân của một nước tăng giảm như
thế nào khi có sự tác động của hoạt động của thương nghiệp tư nhân. Nếu
tương quan trên lớn hơn 1 thì thương nghiệp tư nhân đã làm tăng thu nhập
quốc dân, và cho thấy nó có xu hướng ngày càng phát triển, còn tương quan
nhỏ hơn 1 thì đã làm giảm thu nhập quốc dân, và hoạt động kinh doanh của
các thương nghiệp tư nhân không hiệu quả, không phát triển.
Ngoài ra, để xem xét xu hướng phát triển trong hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân, người ta dựa vào tiêu chí tính
mức doanh lợi trên doanh số bán ra của doanh nghiệp, tiêu chí này được xác
định dựa trên công thức:
P
P’ = x 100%
DS
Trong đó:
P’: Mức doanh lợi của doanh số bán trong kỳ của doanh nghiệp thương
nghiệp tư nhân (%)
21
P: Lợi nhuận thực hiện trong kỳ của doanh nghiệp thương nghiệp tư
nhân.
DS: Doanh số bán thực hiện trong kỳ của doanh nghiệp thương nghiệp
tư nhân
Tiêu chí này cho biết một đồng doanh số bán thực hiện trong kỳ của
các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
cho doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân trong kỳ. Do đó nó có ý nghĩa quan
trong trong việc chỉ ra cho các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân thấy kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status