Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lý ở trường phổ thông - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT THIỆU HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hiền
Chức danh:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn Địa lí

THANH HÓA NĂM 2016

1


A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong những năm gần đây, nội dung, chương trình giao dục ở nước ta có
nhiều thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của
đất nước. Điều đó đòi hỏi sự đổi mới về phương pháp dạy và học của thầy và trò.
Phương pháp giáo dục truyền thống “lấy học sinh làm trung tâm” đã tồn tại quá
lâu, nay đang tồn tại khá nhiều nhược điểm và đang được điều chỉnh để để tiến
tới nhường chỗ cho quan điểm giáo dục tích cực “lấy trò làm trung tâm”. Đây là
quan điểm có nhiều ưu thế ở các nước phát triển. ở Việt Nam phương pháp này
đang được ứng dụng khá phổ biến ở các trường phổ thông như: phương pháp vấn
đáp, thảo luận, đàm thoại, nêu vấn đề… Mỗi phương pháp đều có những ưu thế
riêng, trong đó phương pháp đàm thoại đã được sử dụng khá phổ biến. Sử dụng
phương pháp này có vai trò quan trọng trong việc kích thích tính tích cực, độc
lập sáng tạo trong học tập, bồi dưỡng cho người học năng lực diễn đạt những vấn

- Đàm thoại củng cố được sử dụng sau khi giảng kiến thức mới nhằm giúp học
sinh nắm vững những tri thức cơ bản nhất; mở rộng đào sâu những khái niệm,
định luật đã lĩnh hội; khắc phục những nhận thức sai lệch, mơ hồ, thiếu chính
xác.
- Đàm thoại tổng kết được sử dụng lúc cần giúp học sinh hệ thống hoá, khái quát
hoá kiến thức sau khi học một chương trình môn học.
- Đàm thoại kiểm tra được sử dụng trước, trong hoặc cuối tiết học, cuối chương
hay cuối chương trình nhằm giúp học sinh tự kiểm tra kiến thức của mình.
b. Căn cứ vào tính chất nhận thức của học sinh người ta phân biệt: Đàm thoại tái
hiện, đàm thoại giải thích - minh hoạ, đàm thoại tìm tòi - phát hiện.
- Đàm thoại tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại
kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ không cần suy luận.

3


- Đàm thoại giải thích- minh hoạ: Có mục đích làm sáng toả một đề tài náo đó.
Giáo viên nêu ra một hệ thống câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học
sinh dễ hiểu, dễ nhớ.
- Đàm thoại tìm tòi- phát hiện: Phương pháp này sử dụng bản chất của phương
pháp đàm thoại gợi mở, giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến kể cả tranh luận: giữa
thầy và cả lớp hoặc giữa trò với trò, thông qua đó trò nắm được tri thức mới.
3. Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại.
Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) nếu được giáo viên vận dụng khéo léo
và có hiệu quả sẽ có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học
tập; bồi dưỡng cho người học năng lực diễn đạt những vấn đề khoa học bằng lời
nói; bồi dưỡng hứng thú học tập làm cho không khí lớp học sôi nổi.
Mặt khác phương pháp đàm thoại vấn đáp còn giúp giáo viên thường
xuyên thu được những tín hiệu ngược từ kết quả học tập của người học để kịp
thời điều chỉnh hoạt động dạy và học nhằm đạt được chất lượng, hiệu quả học

- Trình độ nhận thức của học sinh còn yếu.
- Phương pháp dạy học truyền thống đã trở thành thói quen của rất nhiều giáo
viên, nên khi chuyển sang phương pháp mới họ còn không ít bở ngỡ. Mặc dù
trong những năm qua nền giáo dục Việt Nam đã có nhiều biện pháp để thay đổi
phương pháp giảng dạy đến các trường phổ thông. Trên thực tế giáo viên đã đổi
mới phương pháp dạy học nhưng mới chỉ là đàm thoại đơn thuần; giáo viên đặt
câu hỏi – học sinh trả lời. Hệ thống câu hỏi còn ít, chủ yếu dựa vào sách giáo
khoa, chưa phát huy được tính tìm tòi sáng tạo của học sinh. Trong khi đó giáo
viên lại sử dụng phương pháp này không đồng đều giữa các tiết học, các tình
huống sư phạm, hệ thống câu hỏi chưa thu hút được sự hứng thú của học sinh.
Kết quả các em cảm thấy nhàm chán trong các tiết học, kiến thức lĩnh hội lại
không được bao nhiêu

5


Sau khi tổng hợp được một số nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc sử
dụng phương pháp đàm thoại kết quả chưa cao, tất cả các giáo viên đều cho rằng
việc đổi mới phương pháp đàm thoại hiện nay là điều hết sức cần thiết.
2. Đối với học sinh.
Song song với tình hình sử dụng phương pháp đàm thoại của giáo viên
như trên, nhận thức của học sinh như thế nào khi giáo viên sử dụng phương pháp
này trong các tiết học. Trong quá trình giảng dạy ở tất cả các khối lớp tôi đã sử
dụng nhiều phương pháp mới nên việc lĩnh hội kiến thức của các em đã có hiệu
quả cao hơn, trong đó phương pháp đàm thoại đã được sử khá phổ biến nhưng tất
cả các em đều cho rằng: Các thầy cô giáo sử dụng phương pháp này trong tất cả
các tiết học nhưng gần như chỉ có tính chất điệp khúc: Giáo viên hỏi học sinh trả
lời, hệ thống câu hỏi chưa phù hợp với đối tượng học sinh, nhiều câu hỏi quá
đơn giản nhưng nhiều câu hỏi lại quá khó đối với các em... Rút kinh nghiệm từ
những ý kiến đó tôi đã đổi mới phương pháp đàm thoại qua từng tiết học. Sau

- Câu hỏi phải được đặt theo những qui tắc hợp lô gíc.
- Việc diễn đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân,
trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh.
- Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất không thể có
hai câu trả lời đều đúng, về hình thức phải gọn gàng, sáng sủa.
c. Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp đàm thoại
- Giáo viên cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định cho học sinh trả
lời. Khi một học sinh trả lời xong; cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ
sung, sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn
với tinh thần phê phán; qua đó mà kích thích hoạt động chung của lớp. Giáo viên
cần lắng nghe khi học sinh trả lời để dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính được
tốt hơn.

7


- Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác. Chú ý
uốn nắn, nhận xét, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp học sinh hệ thống hoá
tri thức tiếp thu được trong quá trình đàm thoại.
- Không những chỉ chú ý đến kết quả câu trả lời của học sinh mà còn chú ý xem
cách diễn đạt câu trả lời đó có chính xác, rõ ràng, lô gíc không. Đó là điều kiện
quan trọng để phát triển tư duy lô gíc của học sinh
- Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp nhằm thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc
mắc và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống vấn đề và thu hút
toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận để giảI quyết vấn đề đó.
- Tạo không khí học tập để học sinh không quá lo ngại khi trả lời, các học sinh
kém không mặc cảm về trình độ của mình.
- Khuyến khích, động viên sự cố gắng của học sinh, nếu giáo viên tin ở sự cố
gắng của học sinh thì các em sẽ thêm nỗ lực, phấn đấu không nản chí.
- Giáo viên nên trân trọng mỗi tiến bộ nhỏ của học sinh, tuy nhiên cũng không

độ học sinh, có đầy đủ, rõ ràng, chính xác không.
b. Sử dụng câu hỏi ở trên lớp
Khi nêu câu hỏi phải thu hút được sự chú ý và kích thích hoạt động chung của cả
lớp, sau đó mới chỉ định một học sinh nào đó trả lời, học sinh phải nói to để cả
lớp nghe rõ. Khi một học sinh trả lời, yêu cầu cả lớp chăm chú nghe, phát biểu ý
kiến bổ sung. Cần chú ý sau khi nêu câu hỏi cho cả lớp, hãy để một thời gian
thích hợp rồi mới chỉ định học sinh trả lời, điều này làm cho chất lượng trả lời
của học sinh được nâng lên, hoạt động của lớp cũng tích cực thêm. Giáo viên
cũng cần lưu ý bảo đảm cho mọi học sinh trong lớp được bình đẳng trước cơ hội
tiếp nhận câu hỏi và tham gia trả lời câu hỏi. Giáo viên cần bao quát lớp, phân
phối hợp lý việc chỉ định học sinh, phát hiện để huy động nhiều loại đối tượng
trong tiết học cùng tham gia tích cực.

9


IV. Thực nghiệm.
1. Mục đích thực nghiệm.
- Thực nghiệm nhằm mục đích giúp chúng ta biết được việc sử dụng phương
pháp đàm thoại trong dạy học địa lý có hiệu quả cao hơn các phương pháp
truyền thống hay không.
- Giúp chúng ta biết được nhận thức và thái độ của học sinh khi giáo viên sử
dụng phương pháp đàm thoại các em có hứng thú học tập và lĩnh hội kiến thức
địa lý.
- Qua thực nghiệm đánh giá được tình hình thực tế sử dụng phương pháp đàm
thoại ở trường phổ thông, tức là kiểm tra lại cơ sở lý luận đã nêu trên với thực tế
dạy học. Từ đó có ý kiến đề xuất.
2. Nhiệm vụ của thực nghiệm.
- Thực nghiệm cách sử dụng phương pháp đàm thoại trong thực tế giảng dạy
chương trình địa lý THPT.

II. Phương tiện dạy học.
+ BĐ các dòng biển trên thế giới.
+ Phóng to các hình 16.1; 16.2; 16.3 SGK
III. Hoạt động dạy học.
+ Bài cũ: Trình bày vòng tuần hoàn của nước trên trái đất.
+ Mở bài: Nước trong các biển và đại dương không yên tĩnh mà luôn chuyển
động. Vì sao lại có chuyển động đó , bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta giải quyết
vấn đề này.
HOẠT ĐỘNG THẦY VÀ TRÒ
HĐ1 Cá nhân

NỘI DUNG BÀI HỌC
I. Sóng biển

- Quan sát hình ảnh về sóng và

1. Khái niệm: Sóng biển là hiện tượng dao

bằng hiểu biết của em, hãy nêu khái động của nước biển theo chiều thẳng đứng,
niệm về sóng biển?

nhưng lại cho người ta cảm giác chuyển động

- HS: Quan sát hình ảnh trả lời câu

ngang từ ngoài xô vào bờ.

11




- Hãy cho biết nguyên nhân và tác

Nguyên nhân là do động đất và núi lửa.

400 – 800 km/h.

hại của sóng thần?
HS: Trả lời.
- GV: Nhận xét tổng kết. Mở rộng
kể về một số trận sóng thần xảy ra
trong lịch sử.
.......................................................... ...............................................................
HĐ 4. Cá nhân/ cặp

II. Thủy triều.

+ Em hãy cho biết thủy triều là gì? 1. Khái niệm: Là hiện tượng chuyển động
Nguyên nhân sinh ra thuỷ triều.

thường xuyên có chu kì của các khối nước

+ Nêu đặc điểm của thủy triều: lớn

trong biển và đại dương.

nhất lúc nào? nhỏ nhất lúc nào?

2. Nguyên nhân: do ảnh hưởng của sức hút


1.Khái niệm: Là hiện tượng chuyển động của

lược đồ trong SGK sau đó đặt câu các lớp nước trên mặt tạo thành các dòng chảy
hỏi và cho các em thảo luận với trong các biển và đại dương.
nhau.

2. Nguyên nhân:

+ Em hãy cho biết dòng biển là gi?

+ Do hoạt động của các loại gió thường xuyên

+ Nguyên nhân sinh ra dòng biển.

như gió tín phong, gió Tây, gió mùa.

+ Nêu đặc điểm hoạt động của các + Do chênh lệch về nhiệt độ, độ mặn, tỉ trọng
dòng biển?

nước ở các biển khác nhau.

- HS: Trao đổi và thảo luận đưa ra

3. Đặc điểm:

câu trả lời.

+ Dòng biển nóng phát sinh ở hai bên xích đạo

- GV: Nhận xét, tổng kết .


Lớp đối chứng (10A)

Lớp thực nghiệm (10B)

(%)

(%)

0
24,4
67,7
8,9

20
73,3
6,7
0

5. Nhận xét thực nghiệm: Ở lớp thực nghiệm kết quả học tập tốt hơn, tinh thần
thái độ học tập nghiêm túc. Ngoài ra tôi còn tiến hành thực nghiệm ở nhiều bài
khác nhau, kết quả thu được đều tốt hơn lớp đối chứng. Chính vì thế việc sử
dụng phương pháp đàm thoại đã góp phần nâng cao chất lượng học sinh.

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1.Kết luận:
Sau một năm học vừa làm công tác giảng dạy vừa nghiên cứu đề tài cùng
với sự giúp đỡ của các đồng chí trong tổ, nhóm chuyên môn. Tôi đã hoàn thành
14




-Đối với những đề tài sáng kiến kinh nghiệm có khả năng ứng dụng cao cần có
có biện pháp cụ thể để giáo viên sử dụng có hiêụ quả trong các tiết học.
b.Đối với nhà trường: Cần chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn ứng dụng một cách
kịp thời những sáng kiến kinh nghiêm có tính khả thi cao.
Trên đây là những đề xuất của tôi trong quá trình thực hiện đề tài, rất mong sáng
kiến kinh nghiêm của tôi sẽ được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong các trường
phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị.

Thanh Hoá ngày 20/05/2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác .
Người viết

Nguyễn Thị Hiền

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy
học- Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
2. Sách giáo khoa địa lý lớp 10 chương trình cơ bản.
16


3.Sách giáo viên địa lý lớp 10 chương trình cơ bản.
4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn địa lý lơp
10- Nhà xuất bản giáo dục.
5. Đổi mới thiết kế bài giảng địa lý 10- Nhà xuất bản giáo dục.
6. Sách giáo khoa địa lí lớp 10 chương trình nâng cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status