Giúp học sinh khá, giỏi lớp 4 giải các bài toán liên quan đến cấu tạo số - Pdf 44

Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trong chương trình môn toán ở Tiểu học, mạch kiến thức về số học là
hạt nhân, là trung tâm của cấu trúc chương trình toán Tiểu học. Với chương trình
môn toán lớp 4, số tự nhiên được dạy hoàn thiện về số lượng chữ số, các phép
tính hay các tính chất có liên quan ... Các bài toán có liên quan đến cấu tạo số là
loại bài tập quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4. Loại bài
tập này rất phong phú và rất hấp dẫn đối với học sinh. Trong thực tế bồi dưỡng
học sinh khá, giỏi môn Toán lớp 4 trong những năm vừa qua, tôi nhận thấy rằng,
nếu so với các loại bài tập khác như hình học, giải toán có lời văn, ...thì các bài
tập về cấu tạo số không phải là dạng khó. Tuy nhiên, số lượng học sinh làm tốt
dạng toán này lại không nhiều. Qua quá trình bồi dưỡng, tôi thấy rằng chưa có
một tài liệu nào viết riêng cho dạng toán cấu tạo số một cách dễ hiểu, bài bản và
đầy đủ. Hơn thế nữa, để học sinh tiếp cận, hiểu sâu bản chất và làm một cách
thành thạo dạng toán này thì đó là cả một vấn đề không phải là đơn giản. Gặp
những bài toán có liên quan đến cấu tạo số, học sinh không chỉ cần có khả năng
mô tả, phân tích, tổng hợp, lựa chọn, tìm mối liên hệ giữa các chữ số, các số, tìm
tòi và kết hợp các kiến thức để giải quyết bài toán mà còn cần sự hướng dẫn,
định hướng quan trong của người giáo viên.
Những năm học gần đây, mặc dù cấp trên không tổ chức các cuộc giao
lưu học sinh giỏi, song việc phát hiện, bồi dưỡng và phát huy khả năng vốn có
của học sinh là việc làm thường xuyên của người giáo viên. Để hoàn thiện mình,
đồng thời đáp ứng được nhiệm vụ dạy học, tôi đã chọn và nghiên cứu tìm ra các
giải pháp để giúp học sinh của mình giải tốt các bài toán về cấu tạo số. Đó cũng
chính là lí do tôi chọn đề tài: ''Giúp học sinh khá giỏi lớp 4 giải các bài toán
có liên quan đến cấu tạo số".
2. Mục đích nghiên cứu:
Khi chọn và nghiên cứu đề tài này, tôi muốn tìm ra những giải pháp, con
đường đi, những cách dạy sao cho học sinh hiểu được bản chất về cấu tạo số,
nắm được cách giải các dạng bài cụ thể, vận dụng linh hoạt trong quá trình học

Bài số 2
Bài số 3
4 em
5 em
6 em
b. Năm học 2013- 2014
Số lượng học sinh làm được bài tập về cấu tạo số (trong nhóm 22 em)
Bài số 1
Bài số 2
Bài số 3
5 em
7 em
9 em
Kết thúc năm học 2013-2014, kết quả bồi dưỡng học sinh khá, giỏi của tôi so
với mặt bằng chung của toàn trường đã đạt yêu cầu, nhưng tôi chưa thấy hài
lòng. Tôi nhận ra rằng, học sinh của tôi làm chưa tốt các các bài tập có liên quan
đến phân tích cấu tạo số.
2.2 Nguyên nhân của thực trang:

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
Từ quá trình dạy học, kết quả khảo sát, tôi nhận thấy rằng, kĩ năng làm
các bài tập có liên quan đến cấu tạo số còn nhiều điều đáng bàn mà các lỗi
thường gặp của các em là:
2.2.1. Chưa diễn tả được số cần tìm dưới dạng tổng quát
Ví dụ : Tìm một số tự nhiên có hai chữ số biết rằng khi viết thêm số 12
vào bên trái số đó ta được số mới lớn gấp 26 lần số phải tìm.
Thông thường khi làm bài toán trên, ta gọi số cần tìm là ab (a khác 0; a và b

Trang 4


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
Theo đề bài ta có:
abcd - ab = 4455
ab × 100 + cd - ab = 4455 (phân tích cấu tạo số)
cd + ab × 100 - ab = 4455
cd + ab × (100 - 1) = 4455
cd + ab × 99

= 45 × 99
cd = 99 × (45 - ab )

Ta nhận thấy tích của 99 và một số tự nhiên là một số tự nhiên bé hơn 100
nên 45 - ab phải bằng 0 hoặc 1.
- Nếu 45 - ab = 0 thì ab = 45 và cd = 00
- Nếu 45 - ab = 1 thì ab = 44 và cd = 99
Số cần tìm là 4500 hoặc 4499
Với ví dụ này nhiều em đã tách nhỏ giá trị từng chữ số a, b, c, d theo giá
trị từng hàng (thay vì nên tách thành ab và cd ) nên bài toán trở nên rối dẫn
đến việc lập luận tìm ra số cần tìm bị bế tắc.
2.2.4. Kĩ năng dùng tư duy, sử dụng dấu hiệu chia hết, chữ số tận cùng,
tính chất chẵn lẻ... để lựa chọn số, chữ số phù hợp chưa linh hoạt, chưa
đúng cách.
Ví dụ : Tìm số có 3 chữ số biết rằng nếu ta xóa chữ số hàng trăm thì số đó
giảm đi 7 lần.
Hướng làm bài tập này như sau:
Bài giải
Gọi số cần tìm là abc (a ≠ 0; a , b và c nhỏ hơn 10)


abc = 7 × bc (*)

Vì 7 × c có tận cùng bằng c nên c bằng 0 hoặc 5.
- Nếu c = 0, thay vào (*) ta có ab0 = 7 × b0
ab = 7 × b

Suy ra b = 5 (vì b không thể bằng 0) và ab = 35.
Vậy số cần tìm là 350.
- Nếu c = 5, thay vào (*) ta có

ab5 = 7 × b5

Vỡ 7 × 5 = 35 nên 7 × b + 3 = ab
Nếu b là số chẵn thì 7 × b + 3 có kết quả là số lẻ.
Nếu b là số lẻ thì 7 × b + 3 có kết quả là số chẵn.
Vậy trường hợp c = 5 không xảy ra.
Với bài toán trên, mặc dù có hai cách giải nhưng ngoài kĩ năng phân tích cấu
tạo số ( đến bước *), học sinh còn phải vận dụng linh hoạt dấu hiệu chia hết,
dấu hiệu chẵn lẻ, chữ số tận cùng, kĩ thuật tính để tìm ra đáp số của bài toán
nhưng học sinh hầu như không làm tiếp hoặc lặp luận để tìm ra kết quả được.
2.2.5. Quên không ghi điều kiện, mối ràng buộc giữa các chữ số, của số
cần tìm với mối quan hệ với các số khác ... dẫn đến bài giải dài dòng, kết
quả thừa hoặc sai.
Ví dụ: Tìm số abc biết abc chia hết cho 3 và 5, tổng các chữ số của abc bằng 9
và a, b, c là ba chữ số khác nhau.
Vì không quan tâm đến dữ kiện a, b, c là ba chữ số khác nhau nên học sinh
có các kết quả không đúng như số 225.
2.2.6. Kĩ năng dùng kĩ thuật tính, vận dụng các các tính chất phép tính
(như thêm bớt số ở hai vế, vận dụng tính chất giao hoán, kết hợp, một số

trước khi rèn kĩ năng giải các bài toán cụ thể.
Hè năm 2014, tôi đã tự mình sưu tầm và giải nhiều bài tập có liên quan
đến cấu tạo số và tìm hướng đi để dạy dạng toán này cho học sinh. Vào đầu năm
2011-2012, tôi đã lập kế hoạch và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung
và dạy các bài toán có liên quan đến cấu tạo số nói riêng .Vậy tôi đã dạy học
sinh giỏi giải các bài toán có liên quan đến cấu tạo số như thế nào. Sau đây tôi
xin trình bày các giải pháp mà tôi đã thực hiện.

Trang 7


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.

3. Các giải pháp thực hiện
3.1. Ôn tập, bổ sung các kiến thức có liên quan đến qúa trình giải bài toán
về cấu tạo số.
Trước khi đi vào thực hành làm các bài tập cụ thể, để học sinh hiểu sâu và
có cơ sở để làm tốt các bài toán dạng này, tôi đã rà soát lại chương trình xem
kiến thức nào mà các em đã được học có liên quan đến quá trình giải các bài
toán về cấu tạo số để củng cố và ôn tập lại. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy rằng, cần
phải bổ sung cho các em một số kiến thức mới và khái quát về số, nhắc nhở học
sinh có ý thức sử dụng chúng trong quá trình làm bài, đó là:
3.1.1. Viết các số cần tìm dưới dạng khái quát và phân tích cấu tạo của
chúng.
Để học sinh đẽ dàng diễn tả được các số cần tìm dưới dạng tổng quát, Tôi giúp
các em nhận biết, hiểu và viết được:
- Số có hai chữ số bất kì ta kí hiệu: ab và ab = a × 10 + b = a0 + b
- Số có ba chữ số bất kì ta kí hiệu: abc và:
abc = a × 100 + b × 10 + c= a00 + b0 + c = ab × 10 +c
- Số có bốn chữ số bất kì ta kí hiệu abcd và:



Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
- Mỗi chữ số trong số có giá trị lớn nhất bằng 9 và giá trị bé nhất bằng 0.
- Xét giá trị lớn nhất, bé nhất của số cần căn cứ vào số lượng chữ số của số
- Nếu hai vế bằng nhau, nếu vế này có giá trị lớn nhất ( hoặc bé nhất) bằng
bao nhiêu thì về kia cũng có giá trị lớn nhất ( bé nhất ) bấy nhiêu.
c) Sử dụng dấu hiệu chia hết
- Các dấu hiệu chia hất cho 2, 3, 4, 5, 6, 9, 15
- Nếu hai vế bằng nhau, về này chia hết cho a thì vế kia cũng chia hết cho a
- Trong một phép chia có dư thì số chia luôn lớn hơn số dư.
d) Sử dụng các tính chất của phép tính và kĩ thuật tính:
- Ghi nhớ và vận dụng thành thạo các tính chất của phép tính như: một tổng
( hiêu) nhân với một số, ....
- Xác định đúng thành phần trong phép tính để cộng, trừ, nhân, chia các vế của
biểu thức cho phù hợp.
- Nếu hai vế bằng nhau, nêu ta cùng thêm, bớt, nhân, chia cả hai vế với cùng
một số thì hai vế vẫn bằng nhau.
- Trong phép cộng, nếu cộng hai chữ số trong cùng một hàng thì có nhớ nhiều
nhất là 1, nếu cộng 3 chữ số trong cùng một hàng thì có nhớ nhiều nhất là 2, …
3.2. Sưu tầm và xây dựng các bài tập theo từng dạng nhỏ và chốt cách
làm từng dạng đó.
Trong quá trình dạy học, để học sinh hiểu rõ vấn đề và sử phương pháp
phân tích cấu tạo số một cách hiệu quả, tôi đã chia chúng thành các dạng nhỏ,
dạy từ dạng dễ đến khó . Sau mỗi dạng bài, tôi thường lưu ý cho các em cách
làm của từng dạng:
Dạng 1: Dạng bài tập phân tích, tổng hợp số theo giá trị của từng chữ sô
Để làm tốt các bài tập có liên quan đến cấu tạo số, học sinh phải biết rõ
giá trị từng chữ số trong số. Các bài tập trong sách giáo khoa đã rèn cho hs kĩ
năng xác định giá trị của từng chữ số trong một số tự nhiên cụ thể, tuy nhiên


Bài tập ở ví dụ này tôi hướng dẫn các em làm như sau:
a) 3 a00 + 2b6 + 1c

abc + 3 215

3 000 + a00 + 200 + b0 + 6 + c

abc + 3 215

( a00 + b0 + c ) + (3 000 + 200 + 6)
abc + 3 216

abc + 3 215

abc + 3 215

Phân tích tương tự, ta cũng so sánh được hai vế của câu b, c
b) a463e + b603 + cd2
abcde + 5235
c) a2 346 + 34b 43c
a0b00c + 302 776

a0 000 + bcd2 + 565e
abcde + 5652
4ab 234 + 23c
a0b00c + 400 464

Như vậy ở dạng bài tập trên, mục đích của tôi là rèn cho học sinh kĩ năng
phân tích số dưới dạng khái quát (Ví dụ 1) hay tổng hợp số (Ví dụ 2) và ví

a × 10 + b = a × 5+ b × 5 + 12
a × 5 + b = b × 5 + 12 ( bớt 2 vế đi a × 5)
a × 5 = b × 4 + 12 ( bớt 2 vế đi b)
a × 5 = 4 × (b + 3)
Nhận xét: vì 4 × (b + 3) chia hết cho 4 nên a × 5 chia hết cho 4, như vậy a × 5
đồng thời chia hết cho 4 và 5. nên a × 5 = 20, a × 5 = 40 ( vì a < 10 không xét
các trường hợp a × 5 = 60, a × 5 = 80)
- Nếu a × 5 = 20 thì a = 20 : 5 = 4 khi đó 4 × ( b + 3) = 20
b + 3 = 20 : 4 = 5
b = 5-3 = 2
Số cần tìm 42, thử lại 42 : (4 + 2) = 7. Trái với đầu bài nên loại.
- Nếu a × 5 = 40 thì a = 40 : 5 = 8 khi đó 4 × ( b + 3) = 40
b + 3 = 40 : 4 = 10
b = 10 - 3 = 7
Số cần tìm 87, thử lại 87 : (8 + 7) = 5 dư 12. Đúng với đầu bài .
Vậy số cần tìm là 87.
Ví dụ 3: Cho số có hai chữ số chữ số hàng chục chia hết cho chữ số hàng đơn
vị. Tìm số đã cho biết rằng số đó gấp 21 lần thương của chữ số hàng chục và
hàng đơn vị.
Bài giải
Gọi số cần tìm là ab (a, b khác 0, a, b < 10, a chia hết cho b). Theo đề bài ta
có:
ab = a : b × 21
Vì ab < 100 nên a : b < 5
- Nếu a : b = 1 thì ab = 1 × 21 = 21

Trang 11


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.


Thử lại: 815 : 158 = 5 ( dư 25 )

Trang 12


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
Ví dụ 2: Tìm số có 2 chữ số, biết rằng nếu viết thêm chữ số 9 vào bên trái số đó
ta được số lớn gấp 13 lần số đó cho.
Bài giải
Gọi số cần tìm là ab . Viết thêm chữ số 9 vào bên trái số đó ta được số 9ab
- Theo đề bài ta có:
9ab

= ab × 13

900 + ab = ab × 13
900 = ab × 12 ( bớt hai vế đi ab )
ab = 900 : 12
ab = 75.

Thử lại: 975 : 75 = 13. Vậy số cần tìm là 75

Ví dụ 3: Tìm bốn số tự nhiên biết tổng của bốn số đó bằng 2003. Nêu bớt chữ số
hàng đơn vị của số thứ nhất được số thứ hai, nếu bớt chữ số hàng đơn vị của số
thứ hai ta được số thứ ba, nếu bớt chữ số hàng đơn vị của số thứ ba ta được số
thứ tư.

Bài giải


Thử lại: 1804+ 180 + 18 + 1 = 2003. Đúng với yêu cầu bài toán.
Với dạng bài tập này, tôi lưu ý học sinh:
-Diễn tả số cần tìm dưới dạng khái quát và kèm theo kí hiệu ràng buộc của các
chữ số.
- Diễn tả mối quan hệ số đã cho với số mới thành lập bằng đẳng thức toán.
- Phân tích cấu tạo số, kết hợp với kĩ thuật tính, các tính chất của phép tính...để
biến đổi thành các biểu thức đơn giản hơn, từ đó tìm ra số cần tìm.
- Cần quan sát kĩ các số trong phép tính để cân nhắc xem phân tích số như thế
nào cho phù hợp, chẳng hạn ở VD1, 2 cần giữ nguyên ab nhưng ở VD3 nên
phân tích nhỏ từng chũ số a, b, c, d sau đó gộp lại.
Dạng 4: Dạng tìm số, tìm chữ số biểu thức toán đã cho sẵn (dạng điền số
thay chữ)
Ví dụ:
a) Tìm ab biết aba × aa = aaaa
b) Tìm abc biết abc × aa × bc = abcabc
c) Tìm

abcd biết a × abc × bcd = abcabc

Dạng bài tập này khác với các dạng bài tập trước là không phải diễn tả số
theo yêu cầu để bài, mà dựa vào số và biểu thức đã cho sẵn, phân tích số để tìm
sô, chữ số phù hợp.
VD: Tìm abc biết abc × aa × bc = abcabc
abc × aa × bc = abc × 1000 + abc
abc × aa × bc = abc × 1001
aa × bc = 1001

Vì 1001= 77 × 13 nên aa = 77, bc = 13. Vậy abc = 713.
Như vậy để làm tốt dạng bài này, tôi lưu ý học sinh:
- Quan sát thật kĩ sự xuất hiện của các chữ số trong từng số. Lưu ý đến các

35 = b × 5
b = 35 : 5 = 7
Ta được số: 47.
+) xét

5b = b × 6 + 5

50 + b = b × 6 + 5
45 + 5 + b = b × 5 + b + 5
45 = b × 5
b = 45 : 5 = 9
Ta được số: 59.
Thử lại: 7 × 6 + 5 = 47 (chọn)
9 × 6 + 5 = 59 (chọn)
Vậy ta tìm được 2 số thoả mãn yêu cầu của đề bài là: 47 và 59
Ví dụ 2: Tìm số có 3 chữ số, biết rằng nếu số đó cộng với tổng các chữ số của
nó thì bằng 555.

Trang 15


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
Bài giải
Gọi số phải tìm là abc (a > 0; a, b, c < 10).
Theo đầu bài ta có: abc + a + b + c = 555.

Nhìn vào biểu thức trên, ta thấy đây là phép cộng không có nhớ sang hàng
trăm. Vậy a = 5.
Khi đó ta có: 5bc + 5 + b + c = 555
500 + bc + 5 + b + c = 555

Do đó : g = 1 x 6 = 6 và d lớn hơn hoặc bằng 6. Vì thế : e = 2
Vì b x 6 = nên b = 2 hoặc b = 7.
Nếu b = 2 thì 121 × 6 = 726 (Đúng)
Nếu b = 7 thì 171 × 6 = 1026 (Loại)
Vậy số học sịnh nhận thưởng là 121 bạn.
Ví dụ 2: Giờ cơm trưa, ba cô bán hàng gặp nhau ở một quán ăn và thông báo
với nhau số cam bán được của ba cô vào buổi sáng nay là ba số khác nhau.
Chiều tối ba cô lại gặp nhau , các cô thông báo với nhau là chiều nay bán được
số cam ít hơn nhưng thật kì la là các chữ số của số cam cả hai buổi giống nhau
và cả ngày cả ba người bán được số cam giống nhau là 143 quả. Hãy cho biết
số cam của mỗi cô bán được trong mỗi buổi?
Bài giải
Số cam bán được mỗi buổi của mỗi cô nhỏ hơn 100 quả vì nếu số cam bán
được mỗi buổi lớn hơn hoặc bằng 100 thì số cam cả ngày lớn hơn 143 quả.
Số cam bán được mỗi buổi phải lớn hơn 10 và nếu bé hơn hoặc bằng 10 quả thì
số cam bán được sẽ nhỏ hơn 143. Vậy số cam bán được mỗi buổi của mỗi cô là
số có hai chữ số.
Gọi số cam bán được mỗi buổi của mỗi cô là ab ( a khác 0, a > b))
Theo bài ra ta có: ab + ba = 143
a × 10 + b + b × 10 + a = 143
a × 11 + b × 11 = 143
( a + b) × 11 = 143
a + b = 143 : 11 = 13
Vì 13 = 9 + 4 = 8 + 5 = 7 + 6
nên ab = 94, ab = 85, ab = 76
Vậy cô thứ nhất bán buổi sáng được 94 quả, buổi chiều bán được 49 quả
Cô thứ hai bán buổi sáng được 85 quả, buổi chiều bán được 58 quả
Cô thứ ba bán buổi sáng được 76 quả, buổi chiều bán được 67 quả.

Trang 17

cấp trường lớp năm học 2014-2015, 2015-2016 đã có những kết quả đáng
khích lệ.
4.2 Đối với bản thân:
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, bản thân tôi đã tự mình
sưu tầm, giải, phân chia các dạng nhỏ để chốt lại cách giải chung cho học sinh,
lên kế hoạch thực nghiệm và trực tiếp giảng dạy. Chính điều đó đã làm cho
chính bản thân hiểu sâu, hiểu kĩ hơn dạng toán này về bản chất cũng như
phương pháp giải. Điều đó góp phần nâng cao nghiệp vụ cho bản thân, tự hoàn
thiện mình, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học.

Trang 18


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
4.3. Đối với đồng nghiệp và nhà trường:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã trao đổi học hỏi thêm các đồng
nghiệp trong và ngoài trường để giao lưu học hỏi lẫn nhau. Chính vì vậy, không
chỉ bản thân tôi mà các đồng nghiệp khác cũng có thêm nhiều kiến thức về các
bài toán có liên quan đến cấu tạo số. Tôi cũng truyền đạt kinh nghiệm của mình
đến các giáo viên cùng khối để họ có thể áp dụng bồi dưỡng thêm cho học sinh
lớp mình. Từ đó tạo nên một tập thể sư phạm không ngừng học hỏi, lớn mạnh về
nghiệp vụ sư phạm, góp phần nâng cao thành tích chung của nhà trường.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Các bài tập dạng phân tích cấu tạo số không phải là dạng bài tập khó, song
để học sinh yêu thích dạng toán này và có cách làm phù hợp thì không phải dễ.
Bản thân tôi, có thể kinh nghiệm dạy các bài tập có liên qua đến cấu tạo số mà
tôi đã trình bày ở các trang viết trên còn nhiều hạn chế. Nhưng qua sự tìm tòi,
nghiên cứu , bằng chính quá trình dạy học thưc tế của mình, tôi đã viết lại những
gì mình đã thực hiện.Tôi đã tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm khi
dạy cho học sinh giải dạng toán này, đó là:


viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Đỗ Thị Hường

LÊ THỊ LIÊN

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng của vấn đề
2.1 Thực trạng
2.2 Nguyên nhân của thực trang
2.2.1. Chưa diễn tả được số cần tìm dưới dạng tổng quát
2.2.2. Chưa xác định được giá trị của mỗi chữ số trong số
2.2.3. Kĩ năng phân tích số theo giá trị của từng chữ số trong số
hoặc mối quan hệ với các số khác còn còn lúng túng
2.2.4. Kĩ năng dùng tư duy, sử dụng dấu hiệu chia hết, chữ số
tận cùng, tính chất chẵn lẻ... để lựa chọn số, chữ số phù hợp
chưa linh hoạt, chưa đúng cách
2.2.5. Quên không ghi điều kiện, mối ràng buộc giữa các chữ số,

Trang 20

4
5
6

6
8
8
8
8
9
9


Sáng kiến kinh nghiệm dạy môn Toán lớp 4.
Dạng 2: Dạng bài tập tìm số khi biết mối quan hệ của các chữ
sô trong số, mối quan hệ của số cần tìm với chữ số trong số
Dạng 3: Dạng bài tâp thêm, bớt, thay đổi chữ số trong một số
Dạng 4: Dạng tìm số, tìm chữ số biểu thức toán đã cho sẵn
( dạng điền số thay chữ)
Dạng 5: Phối hợp nhiều cách giải
Dạng 6. Vận dụng phân tích cấu tạo số để giải toán có lời văn
Nội dung
4. Hiệu quả của SKKN
4.1 Đối với Hoạt động giáo dục
4.2 Đối với bản thân
4.3. Đối với đồng nghiệp và nhà trường
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status