MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài:.................................................................1
1. Kết luận:……………………………………………………………….. 18
2. Kiến nghị:………………………………………………………………. 18
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phẩm
chất của con người. Bởi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đặc trưng của loài người,
là công cụ để tư duy, để thể hiện tư tưởng, tình cảm vào bất kỳ một lĩnh vực,
hoạt động nào trong xã hội thì đòi hỏi con người có một sự hiểu biết sâu sắc về
Tiếng Việt. Ngoài ra môn Tiếng Việt còn có chức năng thẫm mĩ giúp người học
thấy được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ. Đồng thời xây dựng phẩm chất của con
người hiện đại trong xã hội hiện đại. Con người có tri thức, thấm nhuần truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và
biết rèn luyện với khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. Do đó trẻ
em cần được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học, cẩn thận trong các giờ học
Tiếng Việt. Đặc biệt là phân môn Tập đọc, để sử dụng công cụ này trong những
tháng năm ở nhà trường, cũng như trong suốt cuộc đời.
Đúng vậy, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành đòi
hỏi cơ bản đối với những người đi học. Đầu tiên các em phải học đọc, sau đó
phải đọc để học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao
tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú
và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần
học tập suốt đời. Đó là một khả năng không thể thiếu được của con người thời
đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như
tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng
cho các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách
lôgíc, cũng như tư duy trìu tượng.
năng đọc và cảm thụ tốt bài văn, bài thơ, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các kỹ năng đọc đối với yêu cầu cần đạt của học sinh lớp 5 theo chuẩn kiến
thức- kỹ năng.
Nghiên cứu kỹ các giải pháp rèn đọc cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học
Hưng Lộc 2, huyện Hậu Lộc.
4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” ( LêNin). Không có ngôn ngữ thì xã hội không tồn tại. Mục đích nghiên cứu ngôn
ngữ trong nhà trường là phải để cho học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ làm
phương tiện sắc bén để giao tiếp. Ngôn ngữ luôn gắn chặt với tư duy “Ngôn ngữ
là hiện thực trực tiếp của tư duy”( Mark). Tư duy của con người không thể phát
triển nếu thiếu ngôn ngữ, việc chiếm lĩnh ngôn ngữ là tiền đề phát triển tư duy.
Hệ thống dạy học Tiếng Việt cần đảm bảo mối quan hệ giữa dạy nói và tư duy.
Ngôn ngữ học nói chung, Tiếng Việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với
phương pháp dạy học. Có ý kiến cho rằng phương pháp dạy học Tiếng Việt là
ngôn ngữ học ứng dụng. Phương pháp dạy học Tiếng Việt phải phát hiện những
quy luật riêng, đặc thù của dạy học Tiếng Việt. Tất cả các giờ Tiếng Việt phải đi
theo hướng: Cả dạy Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính
tả và Tập viết.
cảm được tốt. Ngược lại việc đọc diễn cảm giúp cho cảm thụ bài văn thêm sâu
sắc.
II. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯNG LỘC 2.
+ Thực trạng việc dạy của giáo viên qua môn học.
Qua dự giờ các tiết Tập đọc của đội ngũ giáo viên, tôi nhận thấy trong việc
rèn đọc cho học sinh có những ưu nhược sau:
* Ưu điểm:
- Giáo viên nắm rõ tầm quan trọng của việc dạy Tập đọc ở Tiểu học. Giáo
viên đã chú trọng phương pháp dạy học mới.
- Đảm bảo quy trình tiết dạy, chú ý luyện phát âm cho học sinh, đã giúp học
sinh hiểu nội dung bài học.
* Nhược điểm:
- Trên thực tế ở các trường Tiểu học vẫn còn một số giáo viên lại đi sâu vào
giảng từ ngữ, biến giờ Tập đọc thành giờ “Giảng văn” nặng nề, không phù hợp
đối tượng học sinh. Giọng đọc của nhiều giáo viên chưa thực sự hay, còn mang
nặng giọng địa phương, chưa chú trọng việc nhấn giọng ở những từ ngữ mang
tính gợi tả, gợi cảm. Thời gian luyện đọc ít, áp đặt cách đọc để học sinh phải đọc
thụ động, ít gợi ý để học sinh khám phá, tìm hiểu cách đọc, dẫn đến hiệu quả
được trong giờ tập đọc chưa cao.
- Phương tiện trực quan chủ yếu trong tiết Tập đọc là ngôn ngữ của giáo viên
và bài tập đọc trong sách giáo khoa, tranh màu phóng to minh họa và một số vật
thật hoặc mô hình để giảng từ và ý chưa được sử dụng thường xuyên, triệt để.
- Chưa chú ý đến việc dạy cho học sinh ngắt, nghỉ và giọng đọc của bài, đặc
biệt là chưa dành thời gian cho học sinh được đọc diễn cảm bài văn, bài thơ.
+ Thực trạng việc đọc của học sinh:
- Đa số học sinh biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ. Trả lời tương đối các
câu hỏi trong sách giáo khoa.
- Tuy nhiên ở trường Tiểu học hiện nay, trong một lớp trình độ học sinh
không đồng đều. Có học sinh đọc đúng, nhanh, diễn cảm nhưng cũng không ít
Đọc diễn cảm
4/30
13,3%
Như vậy chất lượng đọc thực tế cho thấy còn thấp. Đặc biệt là kỹ năng đọc
hiểu và đọc diễn cảm. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã tìm ra một số giải
pháp rèn đọc nhằm nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh khối lớp 5 trong tiết Tập
đọc đạt hiệu quả cao trong tiết Tập đọc. Để giải quyết vấn đề này, tôi khảo sát
năng lực đọc của học sinh trong khối lớp 5 để tìm ra nguyên nhân và giải pháp
rèn kỹ năng đọc qua mỗi tiết dạy để giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm, hiểu và
cảm thụ được bài văn, bài thơ. Giúp cho giáo viên dạy tốt phân môn Tập đọc
khối lớp 5 và nhân rộng trong nhà trường.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ TỔ CHỨC RÈN ĐỌC CHO HỌC
SINH.
Từ cơ sở lý luận đến kết quả thực trạng nghiên cứu, tôi đã tìm ra một số
giải pháp để rèn đọc cho học sinh lớp 5 nhằm nâng cao chất lượng như sau:
1.Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung chương trình SGK Tiếng Việt Lớp 5
đặc biệt là phân môn Tập đọc.
Trong dạy học, để tổ chức các hoạt động dạy học tốt thì phải xác định đúng
mục tiêu của phân môn đó, của từng bài cụ thể. Xác định càng rõ ràng, đúng đắn
thì tổ chức các hoạt động sẽ tốt.
Để tổ chức các hoạt động dạy - học phân môn Tập đọc thì trước hết phải bố
trí thời gian nghiên cứu hệ thống chủ điểm trong SGK Tiếng Việt, nghiên cứu kĩ
từng tiết học, sự phân bố các bài tập đọc ở mỗi đơn vị học, phải xác định rõ vị trí
của từng bài trong chương trình, bài đó thuộc thể loại văn bản nào (Văn xuôi,
thơ, văn bản hành chính ) bài đó thuộc chủ đề gì? Bài trước đó là bài nào? Bố trí
như vậy sẽ tạo nên một số thuận lợi sau:
+ Xác định rõ được vị trí của từng bài sẽ giúp người giáo viên xác định rõ
được mục tiêu đúng, giọng đọc của từng bài và mức độ yêu cầu học sinh học
xong bài đó đọc với giọng như thế nào? Với bài học này học sinh thường phát
âm sai tiếng nào ( Do ảnh hưởng của phương ngữ) và cần hướng dẫn học sinh
Trong giờ Tập đọc giáo viên đọc mẫu tốt cũng góp phần đáng kể trong việc
rèn đọc cho học sinh rất nhiều. Bởi vì, các em luôn luôn lấy giọng đọc của thầy
cô giáo làm mẫu. Bởi vậy, trước giờ Tập đọc, giáo viên phải nghiên cứu nội
dung, cách đọc và tập đọc nhiều lần.
+ Có thể đọc mẫu trong các trường hợp:
- Đọc mẫu toàn bài để gây hứng thú cho học sinh.
- Đọc mẫu âm, vần, tiếng khó.
- Đọc câu, đoạn giúp học sinh nhận xét, giải thích tìm ra cách đọc.
Tùy theo từng bài mà giáo viên đọc mẫu cả bài hoặc một đoạn, nhưng trước
hết người giáo viên phải đọc đúng, ngoài ra còn phải đọc diễn cảm tốt bài văn,
bài thơ. Muốn vậy giáo viên phải rèn luyện kỹ năng đọc cho mình một cách
nghiêm túc, giáo viên phải ngiên cứu kỹ cách đọc từng bài, và luyện đọc nhiều
lần trước khi đến lớp. Luyện đọc diễn cảm sao cho mỗi bài đọc của giáo viên
xứng đáng là bài đọc mẫu cho học sinh.
Ví dụ: Đọc bài: “ Lòng dân” (TV5 – T1) giọng đọc thay đổi, linh hoạt, phù
hợp với tính cách nhân vật và tình huống căng thẳng, đầy kịch tính của vở kịch.
Đọc diễn cảm đoạn kịch theo cách phân vai, đúng ngữ điệu (Giọng cai và lính:
hống hách, xấc xược. Giọng dì Năm và chú cán bộ ở đoạn đầu: tự nhiên. Ở đoạn
sau: dì Năm rất khéo giả vờ than vãn khi bị trói, nghẹn ngào nói lời trối trăng
với con khi bị dọa bắn chết …).
+ Phân biệt tên nhân vật với lời nói của nhân vật và lời chú thích về thái độ,
hành động của nhân vật. Ví dụ:
Cai: ( Xẵng giọng) // Chồng chị à?
Dì Năm: - Dạ, chồng tui.
6
Cai: - Để coi. ( Quay sang lính) // Trói nó lại cho tao // ( chỉ dì Năm). Cứ
trói đi. Tao ra lịnh mà // ( lính trói dì Năm lại).
Hoặc trong bài: “ Chuyện một khu vườn nhỏ”) ( TV5 – T1).
quanh, núp xúp, lấm, rực nên, nâu đài, khổng nồ,”. Giáo viên cho học sinh A
đọc lại cho đúng:“loanh quanh, lúp xúp, rực lên, lâu đài, khổng lồ”, sau đó giáo
viên gọi 3 đến 4 em hay mắc lỗi phát âm sai phụ âm đầu l/n như trên đọc lại.
Ngoài việc luyện cho học sinh biết cách phát âm đúng, giáo viên còn phải
chú trọng cách nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở chấm phẩy, dấu hai chấm. Đặc
biệt phải hướng dẫn học sinh ngắt hơi ở các cụm từ ngữ để tách ý. Có nhiều cách
để hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng:
Ví dụ 1: Khi đọc bài: “Hộp thư mật” (TV5 – T2). Học sinh đọc:
“ Bao giờ hộp thư /cũng được đặt tại một nơi/ dễ tìm mà lại ít bị chú ý nhất.//”
7
+ GV giúp học sinh sửa lại bằng cách cho học sinh nhận xét: trình chiếu câu
văn đã ngắt sẵn như sau:
“Bao giờ/ hộp thư cũng được đặt tại một nơi dễ tìm/ mà lại ít bị chú ý nhất.//”
+ Sau đó yêu cầu học sinh đọc lại để so sánh hai cách đọc cách nào đúng?
* Các em đều thống nhất là đọc theo cách thứ hai mà giáo viên đã trình chiếu
câu văn ngăt sẵn trên màn hình.
Ví dụ 2: Trong bài : “ Một chuyên gia máy xúc ” ( TV5 - T1).
Học sinh đọc như sau: “Thế là A- lếch- xây đưa/ bàn tay vừa to vừa chắc
ra/ nắm lấy bàn tay đầy dầu mỡ /của tôi lắc mạnh và nó:.//”
- Giáo viên đọc lại câu văn và yêu cầu học sinh lắng nghe, phát hiện chỗ cô
giáo ngắt giọng:
“Thế là / A- lếch- xây đưa bàn tay vừa to / vừa chắc ra/ nắm lấy bàn tay đầy
dầu mỡ của tôi lắc mạnh và nói.//”
Sau đó giáo viên yêu cầu 3 em đọc lại câu văn trên. Từ đó giúp học sinh phát
hiện và ngắt nghỉ đúng .
Ví dụ 3: Đối với câu: “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo
qủa đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những
thôn xóm Chin San”( Mùa Thảo quả- TV5-T1)
- Với những bài thơ có thể thơ tự do, giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý tới
vần nhịp để ngắt nghỉ đúng và nhấn giọn một số từ ngữ:
“Gió hun hút / lạnh lùng
Trong đêm khuya / phố vắng
Súng trong tay im lặng
Chú đi tuần / đêm nay
Hải Phòng / yên giấc ngủ say
Cây/ rung theo gió, lá / bay xuống đường...”
( Chú đi tuần – TV5 . T2)
Như vậy, từ một số biện pháp trên giáo viên đã giúp học sinh dần dần có ý
thức tìm hiểu giọng đọc, cách đọc đúng và tự tin hơn khi đọc.
4 - Hướng dẫn tốc độ đọc cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, đối với học sinh Tiểu học đọc lưu loát là nói đến phẩm
chất đọc về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ. Tốc độ đọc nhanh chỉ thực
hiện khi đã đọc đúng, khi đọc phải chú ý xác định tốc độ để cho người nghe hiểu
kịp được.
Nhưng đọc nhanh ở đây không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ đọc thành
tiếng của lớp 5 yêu cầu tối thiểu là 120 tiếng / phút.
* Cách thực hiện:
- Hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách giáo viên đọc mẫu hoặc
chọn học sinh đã đọc tốc độ chuẩn đọc mẫu để tất cả học sinh đọc thầm theo.
Ngoài ra, dùng biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của
giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ.
Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc một khổ thơ, một đoạn văn
giáo viên đều nhắc cả lớp đọc thầm theo.
Giáo viên còn gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi như: Thi đọc
tiếp sức, đọc thơ truyền điện,… Kết thúc chơi bao giờ giáo viên cũng cho học
sinh chọn và tuyên dương nhóm đọc đúng nhất, nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý
rút kinh nghiệm về cách đọc.
Mặt khác muốn học sinh đọc lưu loát, đúng tốc độ cần có sự chuẩn bị bài ở
Tiếp đó, giáo viên yêu cầu cả lớp đọc thầm toàn bài để các em tìm những
hình ảnh đẹp trong bài thơ thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên
trong đêm trăng trên sông Đà. Học sinh đã đọc và tìm được những câu thơ thật
đẹp (Chỉ còn tiếng đàn ngân nga - Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi - Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên.)
Như vậy từ việc đọc văn bản các em mới hiểu được nội dung của văn bản và
ngược lại có hiểu được nội dung của văn bản thì các em mới đọc đúng, đọc hay
được.
- Trong mỗi giờ tập đọc tôi chỉ đạo giáo viên cho HS đọc thành tiếng kết hợp
với đọc thầm nhiều lần. Đồng thời tôi giao nhiệm vụ cho HS trong khi đọc thầm
để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu.
+ Đọc thầm lần 1: Kết hợp khi đọc nối tiếp từng đoạn.
+ Đọc thầm lần 2: Kết hợp khi 1 bạn đọc cả bài.
+ Đọc thầm lần 3: Khi giáo viên đọc diễn cảm.
+ Lần 4 đọc thầm kết hợp với thành tiếng khi tìm hiểu bài.
+ Lần 5 đọc thầm kết hợp với khi đọc diễn cảm.
Như vậy việc đọc thầm kết hợp với việc đọc cá nhân thành tiếng được
luyện nhiều lần, kết hợp nhuần nhuyễn trong một tiết học Tập đọc. Hoạt động
“Tìm hiểu bài” có kết hợp luyện đọc đoạn, bài. Các hoạt động được tổ chức diễn
ra một cách nhẹ nhàng, các hoạt động được lồng ghép vào nhau hỗ trợ cho nhau.
- Để giúp học sinh đọc hiểu tốt, giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi bổ sung,
thêm một vài câu hỏi ở trong sách giáo khoa phù hợp với từng bài học để học
sinh nêu được nội dung, nghệ thuật từng bài.
Ví dụ: Khi tìm hiểu bài “Phong cảnh đền Hùng” ( TV5 - T2), giáo viên đặt
các câu hỏi sau:
Em hãy đọc bài, tìm những từ ngữ miêu tả cảnh đẹp của thiên nhiên nơi đền
Hùng? ( Những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều
10
màu sắc bay dập dờn, bên trái là đỉnh Ba Vì vòi vọi, bên phải là dãy Tam Đảo
11
“Gió thổi rừng tre / phấp phới
Trời thu / thay áo mới
Trong biếc / nói cười thiết tha…”
Tôi giúp giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và phát hiện cách sử dụng từ ngữ
của tác giả, ở đây không đơn thuần tác giả dùng từ tả cảnh mùa thu mà đã sử
dụng biện pháp nhân hóa làm cho trời đất cũng thay áo, cũng nói cười như con
người để thể hiện niềm vui phơi phới, rộn ràng của thiên nhiên, đất trời trong
mùa thu thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đó là giá trị của biện pháp nghệ thuật.
Như vậy, tất cả những cách thực hiện trên nhằm giúp cho học sinh hiểu nội
dung, nghệ thuật của văn bản để có cách đọc đúng và vươn tới mức độ cao hơn
đó là đọc diễn cảm.
6 - Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn hoặc các yếu tố
của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu,
chỗ ngừng, nghỉ, cường độ…để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã
gửi gắm trong bài đọc. Đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của
người đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao
và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát.
* Cách tiến hành: Tôi đã thực hiện qua các bước:
Bước1: Nội dung của bài đọc đã quy định ngữ điệu của nó nên tôi hướng
cho giáo viên không bao giờ áp đặt sẵn giọng đọc của mỗi bài mà tôi khuyến
khích học sinh tự tìm hiểu và nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ, hiểu nghĩa.
Giáo viên chỉ là người lắng nghe, sửa cách đọc cho từng học sinh. Giáo viên nên
khuyến khích, động viên học sinh cố gắng đọc diễn cảm dưới nhiều hình thức
khác nhau để tạo sự hứng thú cho các em.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Sắc màu em yêu” ( TV5 – T1).
Giáo viên nên yêu cầu học sinh đọc nối tiếp và tự phát hiện ra giọng đọc
Hải âu ơi, / cánh chim vờn sóng biển
Cùng bay nào, / cho trái đất quay!
Cùng bay nào, / cho trái đất quay!
Trái đất trẻ / của bạn trẻ năm châu
Vàng, trắng, đen... / dù da khác màu ...”
Qua cách đọc ngắt nhịp và nhấn giọng như thế giúp các em cảm nhận được
những câu thơ gợi tả vể hình ảnh đẹp của trái đất: Trái đất giống như quả bóng
xanh bay giữa bầu trời xanh. Có tiếng chim bồ câu và những cánh chim hải âu
vờn trên sóng biển. Mỗi loài hoa có vẻ đẹp riêng nhưng đều thơm và đáng quý,
như mọi người trên thế giới dù là da vàng, da trắng, da đen đều có quyền bình
đẳng, tự do như nhau, đều đáng quý, đáng yêu. … Nghệ thuật miêu tả của nhà
thơ thật tài hoa. Hoặc trong bài thơ : “ Những cánh buồm” ( TV5- T2) :
“Hai cha con / bước đi trên cát
Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh
Bóng cha / dài lênh khênh
Bóng con / tròn chắc nịch…”
Với cách đọc như thế, học sinh cảm nhận được những hình ảnh đã được gợi tả
trong bài thơ: Sau trận mưa đêm, bầu trời và bãi biển như được gội rửa. Mặt trời
nhuộm hồng tất cả bằng những tia nắng rực rỡ, cát mịn. Biển xanh lơ. Hai cha
con dạo chơi trên bãi biển. Người cha cao, gầy, bóng dài lênh khênh. Cậu con
trai bụ bẫm, bóng tròn, chắc nịch. Cảnh “Những cánh buồm” càng thêm đẹp.
Hay trong bài: “Cửa sông” ( TV5 – T2).
Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của hình ảnh, của nghệ thuật dùng từ rất
đặc biệt, tác giả cho ta như thấy: cửa sông cũng là một cái cửa nhưng khác với
mọi cái cửa bình thường, “ Không khép lại bao giờ ”, không có then cũng
không có khóa. Biện pháp độc đáo đó gọi là lối chơi chữ: tác giả dựa vào cái tên
“ Cửa sông ” để chơi chữ, qua cách thể hiện:
“Là cửa / nhưng không then khóa
Cũng không khép lại bao giờ
Mênh mông / một vùng sóng nước
giỗ? “
( Trí dũng song toàn)
+ Giọng kiên quyết, gay gắt: “Tao chết ở đây thôi. Sức không còn chịu được
sóng.”
(Lập làng giữ biển)
+ Giọng vui vẻ thân mật: “ Thế nào con, đi với bố chứ ? ” (Lập làng giữ biển)
+ Giọng ôn tồn mà đĩnh đạc, uy nghiêm của quan án:
“- Hai người đều có lí nên ta xử thế này: tấm vải xé đôi, mỗi người một nửa.”
( Phân xử tài tình)
+ Hay giọng điềm đạm, nhẹ nhàng, tế nhị:
“Hôm nay là ngày Nô - en. Tôi không có ai để tặng quà. Cho phép tôi đưa cô
về nhà và chúc cô một lễ Nô - en vui vẻ nhé !”
( Chuỗi ngọc lam)
+ Giọng hồi hộp, lo lắng “Còn chỗ cho một đứa bé.”
“ - Đứa nhỏ thôi! Nặng lắm rồi.”
( Một vụ đắm tàu)
+ Giọng tranh luận sôi nổi:
“ Theo tớ, qúy nhất là lúa gạo. Các cậu có thấy ai không ăn mà sống
được không ? ”
14
( Cái gì qúy nhất )
Như vậy để hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng giọng nhân vật, giáo viên
phải giúp các em tìm hiểu bài tốt để nắm được đặc điểm, tính cách nhân vật. Từ
đó luyện cho các em có giọng đọc tốt, phù hợp với từng nhân vật, thay đổi và
đan xen cách đọc để tạo không khí sinh động hào hứng cho giờ học.
7- Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng :
Chúng ta biết rằng, vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của học sinh tiểu
học còn hạn chế. Các bài Tập đọc mà học sinh được học có tác dụng mở rộng
“Trăng chơi vơi” được minh họa:
Trăng một mình sáng tỏ giữa trời đất bao la.
16
(Giúp học sinh cảm nhận được sự tĩnh mịch trong đêm trăng … Giúp học sinh
thêm yêu thiên nhiên, cảm thụ tốt bài tập đọc).
Như vậy áp dụng công nghệ thông tin vào dạy tập đọc sẽ giúp cho học giáo
viên minh họa được những hình ảnh mà mình giới thiệu, lời giảng, giải thích
thích cho học sinh một cách dễ dàng hơn, vừa cụ thể, sinh động, thực tế mà
không mất nhiều công sức, không tốn kém về kinh tế… Học sinh hứng thú, thu
hút vào bài một cách nhẹ nhàng hơn và cảm nhận được tình cảm đối với bài thơ,
bài văn, câu truyện, kịch hay văn bản khoa học … từ đó mà thể hiện giọng đọc
diễn cảm tốt hơn.
IV/ HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trong một khoảng thời gian không dài, với các biện pháp nêu trên, tôi thấy
kết quả khả quan, hiệu quả giờ dạy của giáo viên được nâng lên rõ rệt. Học sinh
hứng thú học tập tích cực hơn, các em mạnh dạn tự tin hơn khi đọc bài. Số em
đọc chưa đạt yêu cầu không còn nữa. Số em đọc đúng, đọc diễn cảm và hiểu văn
bản được tăng lên rất nhiều so với đầu năm. Qua việc đánh giá từ những tiết tập
đọc trên lớp, kết quả phân môn tập đọc của lớp 5B do tôi trực tiếp thực nghiệm
giảng dạy đã đạt được như sau:
Lớp
Sĩ số
5B
30
TL
14
46,6
Điểm 5,6
SL
TL
2
6,6
Điểm dướ 5
SL
TL
0
0
Kết quả trên cho thấy, những biện pháp mà tôi đã áp dụng trong quá trình
rèn đọc cho học sinh trong giờ Tập đọc lớp 5 phần nào có giá trị ứng dụng trong
thực tế. Để việc rèn đọc cho học sinh đạt kết quả cao, giáo viên phải biết kết hợp
các biện pháp và sử dụng có hiệu quả, có hệ thống kế hoạch đã vạch ra.
Từ kết quả thực nghiệm trên, tôi tiếp tục chỉ đạo nhân rộng các biện pháp trên
ở phân môn Tập đọc khối 4,5 trong thời gian tiếp theo để nâng cao chất lượng
đọc trong toàn trường.
17
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1- Kết luận
Qua thực tế rèn đọc cho học sinh lớp 5, tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm sau:
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Hậu Lộc, ngày 15 tháng 5 năm 2016
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác..
Người thực hiện
18
Nguyễn Văn Sỹ
Đỗ Thị Tính
19