Mục lục
Trang
Phần mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
Phần nội dung 5
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc quản lý và chỉ đạo giáo dục đạo đức học
sinh trong trường THPT 5
1.1. Một số cơ sở lý luận của việc quản lý và chỉ đạo … 5
1.2. Một số cơ sở pháp lý của việc quản lý và chỉ đạo … 9
Chương 2. Thực trạng của việc quản lý và chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
của học sinh trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây trong giai
đoạn hiện nay 11
2.1. Một số nét về trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây 11
2.2. Những tồn tại, khó khăn 13
2.3. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý và chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
học sinh ở trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây trong giai đoạn
hiên nay 13
Chương 3. Một số biện pháp quản lý và chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
học sinh ở trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây 14
3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng trong trường học 14
3.2. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm trong
việc giáo dục… 14
3.3. Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp thanh
niên 18
3.4. Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống 19
3.5. Phát huy hoạt động tự quản của tập thể học sinh 20
3.6. Kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội để giáo dục đạo đức học sinh 21
người đến xã hội đó càng to lớn. Do đó không thể xem nhẹ vai trò của giáo dục trong sự phát
triển của xã hội. Trong các mặt Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao, Quân, Hôn, Môi, Si, Ma, Giao của giáo
dục, giáo dục Đạo đức bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu “Tiên học lễ, hậu học văn” "Được
xem là nền tảng, gốc rễ để tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo dục khác".
Trong điều kiện đời sống hiện nay, xã hội có những bước chuyển biến không ngừng, sâu rộng
và to lớn về mọi mặt. Tuy nhiên cái gì cũng có mặt trái của nó, mặt trái của cơ chế thị trường
đang tác động rất mạnh đến tư rưởng và lối sống của một bộ dân cư, trong đó số lượng thanh
niên, thiếu niên là rất lớn, các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào các trường học. Vấn đề đặt ra là
giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện, đặc biệt là tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức, giáo
dục những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức để thực hiện nhiệm vụ. Trong văn kiện Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá VIII đã nêu rõ: "Xây dựng những con người
và thế hệ trẻ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có
ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Qua những năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều những
thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, tuy vậy về mặt tư tưởng, đạo đức có phần bị giảm sút. Đặc
biệt là thế hệ trẻ, một số bộ phận thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên sống không có lý
tưởng, không có mục đích, sống chạy theo các nhu cầu tầm thường, ngại cống hiến, ngại khó
khăn, sống thích hưởng thụ, sống không có niềm tin, hoang mang, sống buông thả. Đánh giá
thực trạng này, trong văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng 2 khóa VIII nhấn
mạnh: "Đặc biệt đáng lo ngài là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về
đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì
tương lai bản thân và đất nước"
Trước tình hình và thực trạng này trong những năm qua đã được các cấp các ngành, đăc biệt là
những người làm giáo dục quan tâm, đầu tư giáo dục toàn diện, nhưng vấn đề giáo dục lý
tưởng đạo đức có những lúc, những nơi nào đó còn bị xem nhẹ, chưa được đầu tư .
Đối với trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây trong những năm
gần đây có nhiều khởi sắc, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong giáo dục toàn diện đó là
nhờ vào kết quả của giáo dục kỷ cương, nề nếp đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh. Bản
thân tôi trước đây là một cán bộ Đoàn “Bí thư Đoàn trường”, nay với cương vị là Phó hiệu
trưởng phụ trách chuyên môn, công tác thi đua của nhà trường ... Tôi tự thấy vai trò giáo dục
dục.
5.3 Khảo sát thực tế, điều tra thực tế, so sánh, thống kê chất lượng giáo dục đạo đức trong 3
năm học 2004-2005, 2005-2006, 2006-2007 của trường THPT Dân Lập Xuân Mai, Huyện
Chương Mỹ, Tỉnh Hà Tây.
phần nội dung
Chương I
Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc quản lý và chỉ đạo
giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT
1.1 Một số cơ sở lý luận của việc chỉ đạo giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT.
Xét về góc độ tâm lý lứa tuổi của độ tuổi theo học ở trường THPT:
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO độ tuổi vị thành niên có từ 10 đến 19 tuổi, ở Việt Nam quy
định độ tuổi vị thành niên từ 10 đến 18 tuổi, theo điều tra tỷ lệ thanh niên ở nước ta năm 1999
chiếm 23% dân số, trong đó 81% đang theo học. Như vậy học sinh THPT là lứa tuổi cuối lứa
tuổi vị thành niên, giai đoạn này các em phát triển mạnh về thể chất, sinh lý. Là thời kỳ chuyển
tiếp từ trẻ em sang người lớn “muốn làm người lớn nhưng tiếc đời trẻ con”, các em luôn có xu
hướng tự khẳng định mình, có ý thức vươn lên làm chủ bản thân. ở giai đoạn phát triển này sự
chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của người lớn làm các em cảm thấy rất khó chịu, bực bội và rất dễ
nổi nóng. Trong lứa tuổi này các em muốn tìm tòi, phát hiện khám phá, tìm hiểu những điều
chưa biết của cuộc sống, các em muốn có quyền tự quyết định trong các công việc và việc làm
của mình và muốn không bị sự ràng buộc của gia đình, bố mẹ và các người lớn tuổi.
Xét về góc độ xã hội trong giai đoạn hiện nay:
ở lứa tuổi này sự giao tiếp với bạn bè là một nhu cầu rất lớn. Các em có xu hướng tụ tập thành
từng nhóm có cùng sở thích, phù hợp với tình tình để vui chơi, đùa nghịch, có những lúc,
những nơi các em có các hành động không đúng, không phù hợp với lứa tuổi của mình. Trong
gia đoạn này quá trình phát triển sinh lý ảnh hưởng đến rất nhiều tính cách của các em: các em
rất dễ bị xúc động khi có một tác động nào đó, bản thân các em dễ bị lôi kéo, kích động, lòng
kiên trì và khả năng tự kiềm chế yếu. ở lứa tuổi này tính tình không ổn định, dễ nổi cáu, khi thì
quá sôi nổi nhiệt tình nhưng có trở ngại lại dễ buông xuôi, chán nản. Đối với các em ở lứa tuổi
này, cái gì cũng dễ dàng, đơn giản, các em luôn ở trạng thái hiếu thắng hoặc tự ti vì thế dễ dàng
mặt đạo đức.
- Tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển các phẩm chất đạo đức.
- Tính đột biến và khả năng tự biến đổi.
- Phát triển thông qua hoạt động và giao lưu tập thể.
- Tính cá thể hoá cao.
- Chứa nhiều mâu thuẫn.
- Có sự tương tác hai chiều giữa nhà giáo dục và đối tượng được giáo dục.
- Tính khó khăn trong việc đánh giá kết quả, sự phát triển đạo đức của cá nhân.
1.1.5. Chức năng, nhiệm vụ của quá trình giáo dục đạo đức
- Quá trình giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành quá trình giáo dục trong trường THPT.
Tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường và xã hội, con người với cuộc sống.
- Giáo dục đạo đức được xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm năng vững chắc cho các
mặt giáo dục khác.
- Giáo dục đạo đức phải làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác - Lênin, tư
tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá trị đạo đức, nhân
văn, nhân bản của các tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình.
- Giáo dục đạo đức phải thấm nhuần các chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm
việc theo pháp luật, sống có kỷ cương nền nếp, có văn hoá trong các mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người.
- Trên cơ sở thông qua việc tiếp cận với cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc và hoạt động
của cá nhân để củng cố niềm tin và lẽ sống, lý tưởng sống, lối sống theo con đường CNXH.
- Giáo dục đạo đức phải làm cho nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực
và các giá trị đạo đức xã hội “XHCN”. Biến các giá trị đó thành ý thức, tình cảm, hành vi, thói
quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
- Quá trình giáo dục đạo đức cần phải theo đặc điểm của từng loại đối tượng trong giáo dục.
4
- Quá trình giáo dục đạo đức có nhiệm vụ: Phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân; hình thành và
phát triển ý thức đạo đức; rèn luyện ý chí, hành vi, hình thành thói quen ứng xử đạo đức; phát
triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và
thời đại.
lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, CNH - HĐH đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có
năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người
Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học
và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có tính tổ chức kỷ luật cao là những con người kế
thừa và xây dựng CNXH vừa hồng vừa chuyên".
Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 -
2010 đã khẳng định: "Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức,
có sức khoẻ và thẩm mỹ… góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Điều 2 chương I của Luật Giáo dục nêu rõ: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Trong Điều 23 mục 2 chương II Luật Giáo dục cũng khẳng định: "Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
5