skkn một số giải pháp trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh thpt triệu sơn 6 - Pdf 18

MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
3. Mục tiêu nghiên cứu 3
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận 4
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 5
a. Thực trạng 5
b. Kết quả của thực trạng 5
3. Giải pháp thực hiện 6
3.1. Một số công việc trong công tác chủ nhiệm mà GVCNphải làm, cần
làm và nên làm 6
(1). Nắm thông tin học sinh 6
(2). Tổ chức lớp 6
a) Bầu ban cán sự lớp……………………………………… 6
b) Xếp chỗ ngồi 8
c) Chia tổ ………………………………………………… 8
d) Lập sơ đồ lớp .8 - 9
(3). Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại học sinh 10
(4). Làm sổ theo dõi và xếp loại học sinh 11
a) Cách làm sổ 11, 12
b) Cách ghi sổ ……………………………………… 12, 13
c) Cách xếp loại ……………………………………… 13, 14
(5). Thưởng phạt nghiêm minh, công bằng và kịp thời… 14
(6). Làm sổ chủ nhiệm riêng ……………… 14 – 16
3.2. Giải quyết một số thực trạng thường gặp của GVCN trong công tác
chủ nhiệm lớp 17
(1). Học sinh đi học muộn, bỏ tiết, trốn học, có nguy cơ bỏ học…17 - 19
(2). Học sinh vi phạm đạo đức (hay nói tục chửi thề, không nghe lời cha
mẹ thầy cô, xem thường nội qui của trường lớp, ) …………………… 19 - 20

giáo dục mà tính dữ tính ác phát sinh, do đó cần phải giữ cho đời sống xã hội
lành mạnh, giáo dục đúng hướng thì tính lành phát triển mà tính dữ tính ác
không có điều kiện để sinh sôi nảy nở.
Tuân Tử lại nói “ Nhân tri sơ tính bổn ác ” ý muốn nói phải dùng pháp luật
để sửa trị, dân vì sợ hình phạt nghiêm khắc mà phải tuân thủ luật lệ do Vua ban
hành.
Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng đã luôn quan tâm tới công tác
giáo dục. Cùng với việc nhấn mạnh đến vấn đề học tập của các thế hệ thanh,
thiếu niên; Bác Hồ đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục đạo đức. Bác đã từng
nói trong bài thơ “Nửa đêm” (Nhật ký trong tù):
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Thật vậy giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng,
hành vi nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, thái độ, thói quen ứng xử
đúng đắn trong xã hội, chính vì lẽ đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định sự
nghiệp trồng người không chỉ là sự nghiệp của toàn nhân loại nói chung mà còn
là của toàn Đảng và toàn dân ta nói riêng. Đối với nước ta giáo dục được xác
định là quốc sách hàng đầu bởi nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thì
yếu tố nhân lực lại càng bức thiết hơn bao giờ hết. Vậy làm thế nào để người
chủ tương lai của đất nước có đủ đức lẫn tài ? Làm thế nào để sự nghiệp giáo
dục mang lại hiệu quả tốt? Đây chính là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả
những người làm công tác giáo dục đặc biệt là GVCN lớp - Người có vai trò rất
lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cũng như hình thành nhân cách con
người. Tuy vậy tôi thấy đôi khi GVCN nhiệt tình hăng say với nghề, yêu HS mà
chất lượng giáo dục của lớp đó chưa cao, nguyên nhân chính là do họ thiếu kinh
nghiệm và các giải pháp cụ thể…Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Một số giải
pháp trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học
sinh” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2012 - 2013.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Trong đề tài này đối tượng nghiên cứu là HS lớp C5 trường THPT Triệu

tác với nhau; Có khả năng ứng biến và thay đổi kế hoạch đúng theo từng đối
tượng HS; Bên cạnh đó GVCN lúc nào cũng tôn trọng tất cả HS và khuyến
khích HS đạt thành tích tốt trong học tập. Ngoài ra để làm tốt công tác chủ
nhiệm ngoài chức năng nhiệm vụ của một giáo viên bình thường, GVCN phải
quản lý toàn bộ hoạt động giáo dục của lớp. Để HS học tốt đòi hỏi lớp phải có
phong trào thi đua, tạo không khí học tập sôi nổi. GVCN phải tổ chức được
phong trào đó. Trong công tác giáo dục đạo đức cho HS, các giáo viên khác
thông thường chỉ thực hiện qua bài giảng. Còn đối với GVCN, ngoài việc giáo
dục đạo đức HS qua bài giảng còn phải giáo dục qua hoạt động thực tiễn của
lớp. Muốn giáo dục HS hư, HS cá biệt, dìu dắt HS yếu kém cũng cần phải có
GVCN. HS bỏ học thì chính GVCN cũng phải đổ thời gian, công sức vận động,
giúp đỡ các em trở lại trường. HS trong lớp không đoàn kết với nhau, GVCN
cũng phải tháo gỡ. Trước thực tế đó, GVCN là những nhà giáo có nhiều đóng
góp trong công tác chủ nhiệm lớp. GVCN cần cả phương pháp và tấm lòng.
Bằng sự tâm huyết với nghề nghiệp, bằng tình yêu thương với học trò, ý thức
trách nhiệm cao và sự nỗ lực phấn đấu, GVCN đã dẫn dắt nhiều các thế hệ HS
vững bước trên đường đời, sống có lý tưởng và hoài bão. GVCN đã đóng góp
nhiều công sức trong sự nghiệp trồng người. GVCN phải hoàn thành tốt các
nhiệm vụ tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt, cộng tác chặt chẽ với
gia đình HS và phối hợp với GVBM, tổ chức đoàn,… để giáo dục HS trong lớp
mình chủ nhiệm.
5
Bản thân tôi thấy điều quan trọng nhất đối với GVCN là phải có tâm với
HS, từ đó mới tìm ra cách giáo dục các em có hiệu quả và tôi luôn tâm niệm:
“GVCN cần đảm bảo quyền lợi chính đáng, thưởng phạt phân minh, công bằng,
kịp thời đối với tất cả HS. GVCN không được phép trù úm, ghẻ lạnh, phân biệt
đối xử với HS. Không có công thức nào chung nhất cho công tác chủ nhiệm,
nhưng trước tiên cần phải có cái tâm, lòng nhiệt tình và phương pháp hợp lý thì
sẽ đem lại thành công”.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

(%)
SL TL
(%)
Đầu
năm
44
0 1 27 15 1
0 2 62 34 2
2. Hạnh kiểm
Lớp
10C5
SS Hạnh kiểm
Tốt Khá Trung bình Yếu
SL TL
(%)
SL TL
(%)
SL TL
(%)
SL TL
(%)
Đầu năm
44
15 17 7 5
34 39 16 11
Vậy là một GVCN cần phải làm gì để khắc phục tình trạng trên? Đó là điều
mà tôi hằng trăn trở sau mỗi buổi đến trường, sau đây tôi xin mạnh dạn đưa ra
một số giải pháp mà tôi đã áp dụng đem lại kết quả rất cao.
6
3.Giải pháp thực hiện:

từng thành viên trong ban cán sự, tôi tiến hành cho họp phiên đầu tiên của ban
cán sự và giao nhiệm vụ cho từng em sau đó làm thành văn bản dán trên lớp học
để tập thể lớp tiện theo dõi.
Chú ý: Khi chọn ban cán sự lớp, cố gắng bảo đảm ở mỗi địa bàn cư trú có
một thành viên của ban cán sự lớp. Làm được như vậy thì trong quá trình hoạt
động giáo viên có thể dễ nắm tình hình các thành viên trong lớp thông qua các
em.
VD: BAN CÁN SỰ LỚP: 10 C5
TT CHỨC VỤ HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
1 Lớp trưởng Trương Doãn
Quân
- Quản bao quát tất cả các hoạt động
của lớp
- Nhắc nhở các thành viên trong ban
7
TT CHỨC VỤ HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
cán sự làm tốt các nhiệm vụ được giao
- Báo cáo bất kì nội dung gì trong
phạm vi quản lí nếu giáo viên cần.
2 Lớp phó học
tập
Nguyễn Tăng
Hùng
- Chữa bài tập đầu giờ 15’
3 Lớp phó lao
động
Lê Văn Chung - Chịu trách nhiệm phân công chỉ đạo
các buổi lao động công ích.
4 Lớp phó văn
nghệ

sự (Đặc biệt là lớp trưởng) tập hợp
thống kê tất cả HS vi phạm nộp cho
GVCN vào tiết 1 thứ 7 hàng tuần.
12 Giao nhận xe Lê Huy Hòa
13 Giao nhận
xe
Nguyễn Huy
Hiệu
14 Thủ quĩ Lê Phương Anh - Thu và chi quỹ lớp và xây dựng kế
hoạch khen thưởng, báo cáo thu chi
cho lớp trưởng và cho GVCN.
- Nếu cần thiết thu các khoản tiền thay
8
TT CHỨC VỤ HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
cho GVCN
15 TT tổ 1 Lê Văn Tuấn
16 TT tổ 2 Lê Thị Thu
Trang
17 TT tổ 3 Lê Thị Nương
18 TT tổ 4 Mai Văn Lượng
Với việc phân công nhiệm vụ cụ thể này sẽ đem lại hiệu quả trong việc
quản lí nề nếp và chất lượng học tập, các em thực hiện nhiệm vụ đầy đủ với tinh
thần trách nhiệm cao, có những trường hợp gvcn không có mặt nhưng các em
vẫn quản lí lớp tốt.
b) Xếp chỗ ngồi:
Khi tổ chức lớp học việc xếp chỗ ngồi được dựa trên một số căn cứ sau:
- Căn cứ vào tình trạng sức khỏe của HS: HS thấp ngồi trước, cao ngồi sau,
HS mắt yếu ngồi gần bảng.
- Căn cứ vào nhiệm vụ của ban cán sự lớp: VD: Lớp trưởng ngồi đầu bàn
phía sau, giữ và ghi chép sổ đầu bài ngồi bàn đầu phía ngoài, lớp phó học tập

LÊ LỆ (LPVN), XUÂN
BẮC
X. DƯƠNG, HUY HIỆU
(Giao nhận xe)
K. BÌNH, SỸ DƯƠNG H. GIANG, LÊ HÀ (Cờ đỏ 3)
LÊ TRANG (TT tổ 2) DOÃN QUÂN (LT)
NG. LUYẾN, HUY
HÒA (Giao nhận xe)
Q. XUÂN, HÀ TRƯỜNG
BÁ MINH, LÊ NAM H.THÀNH, BÁ CƯỜNG (BT)
TRANG, ĐINH TRANG
(Cờ đỏ 2)
LÊ QUÂN, LÊ NƯƠNG (TT
tổ 3)
TĂNG HÙNG (LPHT), LÊ
SƠN
L. QUỲNH, P.QUYÊN
HUY HIỆU, T. LUÂN TRƯ. VINH, LÊ LỆ
MAI LƯỢNG (TT tổ 4) LÊ. V. CHUNG (LPLĐ)
CỬA RA VÀO
SƠ ĐỒ LỚP 10 C5
10
(3). Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại HS
Một tập thể muốn hoạt động tốt, có nề nếp, không chỉ dựa vào người chỉ
huy mà còn cần có những nguyên tắc hoạt động của nó. Với một lớp học, ngoài
những qui định chung của trường cần có những qui định riêng của lớp được xây
dựng trên cơ sở qui định chung của trường. Ở lớp 10C5 ngay từ đầu năm học tôi
đã tiến hành xây dựng “tiêu chí đánh giá, xếp loại hạnh kiểm” cho các thành
viên trong lớp dựa trên cơ sở bảng thi đua chấm điểm giữa các lớp của BNN
trường THPT Triệu Sơn 6 như sau:

a Bị điểm kém (0,1,2) - 5đ/ một
con điểm
Điểm
miệng
được ghi
b Đạt điểm tốt (8,9,10) + 5đ/ một
con điểm
3.
Vấn
đề
khác
a Sổ đầu bài thiếu chữ kí
của giáo viên
- 5đ/ một
tiết
Trừ HS
giữ sổ
b Hoàn thành đóng góp
chậm (không có lí do)
- 10đ/ lần
c HS không tham gia vào
các buổi sinh hoạt tập
thể, lao đông công ích
-10đ/ buổi
Tiêu chí đánh giá, xếp loại này sẽ được thảo luận cùng ban cán sự lớp, phụ
huynh HS (trong buổi họp phụ huynh đầu năm của truờng) và thông qua các
11
thành viên trong lớp (vào tiết sinh hoạt) nhằm lấy ý kiến để sửa đổi bổ sung,
điều chỉnh cho hợp lí, GVCN đưa ra quyết định cuối cùng và sẽ được phóng to
treo trên lớp học để tất cả các HS trong lớp biết và thực hiện.

Trang 1: Tháng 9 Tuần: 01
STT Họ và tên
Nội dung vi
phạm
Điểm trừ
Cụ thể Tổng
1
2

- Danh sách gồm tất cả các thành viên của tổ
* GVCN làm một cuốn sổ để GVBM hoặc BNN tiện phản ánh đến GVCN
với nội dung cuốn sổ như sau:
STT HỌ TÊN VI PHẠM GVBM hoặc BNN
(KÍ, HỌ TÊN)
12
1
2

44
- Danh sách này cũng gồm tất cả các thành viên của lớp.
Chú ý: Tất cả các loại sổ trên đều làm đủ cho tất cả các tuần trong năm học
b) Cách ghi sổ.
Sau khi đã làm sổ xong tôi tiến hành họp ban cán sự lớp để hướng dẫn các
em ghi sổ. Cách ghi sổ như sau:
+ STT: Ghi số thứ tự các thành viên trong tổ, hoặc trong lớp
+ Họ tên: Ghi họ tên HS
+ Vi phạm: Cập nhật tất cả các vi phạm của HS như nghỉ học, bỏ tiết (cả
chính khóa và bồi dưỡng), không sơ viên, không đồng phục, không đeo phù
hiệu, nói tục, chửi thề, vô lễ với thầy cô, nói chuyện, không ghi bài, làm việc
riêng trong lớp, bị điểm xấu, đạt điểm tốt,

-5đ
-15đ Tb Mời phụ
huynh
2 Hoàng Văn Giang Đi muộn (t3), 9đ
(toán - t5)
-3đ, +5đ +2đ T
3 Nguyễn Văn Đức Ko sơ vin (t4),
ko phù hiệu (t6)
-5đ, -5đ -10đ K
13
STT Họ và tên
Nội dung vi
phạm
Điểm trừ
XL Ghi chú
Cụ thể Tổng
4 Lê Thị Hồng 8đ (lí), 9đ (hóa),
ko đp (t7), nc
(t7-anh)
+5đ, +5đ,
-5đ, -5đ
0đ T
5
VD: Đối với sổ dành cho GVBM thì GVBM hoặc BNN sẽ cập nhật vào
những nội dung sau:
STT HỌ TÊN VI PHẠM GVBM hoặc BNN
(KÍ, HỌ TÊN)
1 LÊ VĂN QUÂN Nói chuyện riêng(t2), ko
ghi bài (t4)
Dũng

Loại tốt:
14
+ 3 tuần xếp loại tốt, các tuần còn lại xếp loại khá.
Loại khá:
+ Có nhiều nhất 1 tuần xếp loại trung bình các tuần còn lại xếp loại khá trở
lên.
Loại trung bình:
+ Các tuần xếp loại từ trung bình trở lên, có nhiều nhất 1 tuần xếp loại
yếu.
Loại yếu:
+ Các tuần xếp loại yếu trở lên, hoặc vi phạm tiêu chí 1m, 1n (tùy mức độ
nặng nhẹ mà GVCN có thể xem xét)
* Xếp loại kì:
Loại tốt: 3 tháng xếp loại tốt, các tháng còn lại xếp loại khá.
Loại khá: Có nhiều nhất 1 tháng xếp loại trung bình các tháng còn lại xếp
loại khá trở lên.
Loại trung bình: Các tháng xếp loại từ trung bình trở lên, có nhiều nhất 1
tháng xếp loại yếu.
Loại yếu: Các tháng xếp loại yếu trở lên, hoặc vi phạm tiêu chí 1m, 1n (tùy
mức độ nặng nhẹ mà GVCN có thể xem xét)
* Xếp loại cả năm học:
Loại tốt: Cả 2 kì đều tốt.
Loại khá: Cả 2 kì xếp loại từ khá trở lên hoặc kì 1 xếp loại trung bình kì 2
xếp loại tốt.
Loại trung bình: Cả 2 kì xếp loại từ trung bình trở lên hoặc kì 1 xếp loại
yếu kì 2 xếp loại tốt
Loại yếu: Cả 2 kì xếp loại yếu.
Với việc xếp loại hạnh kiểm như trên sẽ đánh giá tương đối chính xác hạnh
kiểm của HS. Tuy nhiên có những vi phạm của HS là ngoài ý muốn của các em.
Vì vậy trong quá trình thực hiện GVCN cần có cách xử lý phù hợp, nếu là


+ Sơ đồ lớp học: (Như ở phần trên)
+ Nội qui lớp học: (Như ở phần trong tiêu chí đánh giá, xếp loại HS)
+ Danh sách theo dõi và xếp loại HS:
- Xếp loại tuần:
VD: Tháng 9 - Tuần 1
STT HỌ TÊN VI PHẠM ĐIỂM TRỪ XẾP LOẠI
1
2

- Xếp loại tháng:
VD: Tháng 9
STT HỌ TÊN VI PHẠM ĐIỂM TRỪ XẾP LOẠI
1
2

- Xếp loại kì:
VD: Học kì I.
STT HỌ TÊN T8 T9 T10 T11 T12 HKI
1
2

- Xếp loại năm học:
STT HỌ TÊN HKI HKII CN
1
2

+ Danh sách theo dõi HS cá biệt:
VD:
16

Tuần 1 - HKI 44 28 3 11
Tuần 17 - HKII 44 12 0 2
3.2) Giải quyết một số thực trạng thường gặp của GVCN trong công
tác chủ nhiệm lớp.
(1). HS đi học muộn, bỏ tiết, trốn học, có nguy cơ bỏ học:
Ở lứa tuổi này tâm sinh lí của các em đang phát triển mạnh, các em ngày
càng có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích
khẳng định mình, … trong khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về pháp
luật còn hạn chế, trong quá trình tiếp thu cái mới thiếu sự quản lí và định hướng.
Hoàn cảnh gia đình (quá giàu hoặc quá nghèo hoặc bố mẹ thiếu tính gương
mẫu, li hôn…), nuông chiều con cái quá mức hoặc không có sự quan tâm đến
con, đặc biệt hơn có rất nhiều gia đình có cách giáo dục không hợp lí
( VD: Thích dùng đòn roi mỗi khi HS vi phạm…và đẩy hết trách nhiệm về
phía nhà trường…)
Trong phương thức giáo dục còn nhiều lổ hổng nhất là phương pháp và sự
kiểm soát không chặt chẽ. Sự kết hợp giữa GĐ, Nhà trường và Xã hội chưa nhịp
nhàng đồng bộ…
Giải pháp: Giữ bình tĩnh và xác định nguyên nhân.
Khi phát hiện ra HS nghỉ học, bỏ tiết, chúng ta nên bình tĩnh lại, xem xét
vấn đề một cách cẩn thận chứ tuyệt đối không nên vội vàng nổi giận, chửi mắng
hay trách phạt HS. Đằng sau hành động trốn học của các em ẩn chứa nhiều
nguyên nhân khác nhau. Do vậy, GVCN cần phải tìm hiểu nguyên nhân HS nghỉ
học, bỏ tiết, … là gì trước khi xác định cách thức xử trí đối với các em.
Trước hết, cần tìm hiểu thông tin về tình hình học tập, tình trạng tâm lý và
sức khỏe, các mối quan hệ của các em thông qua bạn bè, thầy cô giáo. BCS lớp,
ban NN của nhà trường …
Hãy trao đổi với các em để biết lý do vì sao các em không thích đi học, hãy
cho các em có cơ hội nói ra những vấn đề của mình. Chúng ta cần kiên nhẫn
17
lắng nghe, không ngắt lời, không phán xét, chỉ trích mà thể hiện sự thấu cảm với

cần tế nhị, không nên thể hiện sự cấm đoán với các em (HS với tính cách này dễ
có xu hướng làm ngược lại điều cấm đoán) mà nên giúp các em nhận thấy những
hậu quả không tốt của việc trốn học và giúp các em hướng đến những hoạt động
khác mà các em có thể khẳng định bản thân mình tại trường lớp như ngay trong
chính hoạt động học tập hoặc tham gia các hoạt động phong trào thể dục, thể
thao,…
* Phối hợp với GĐ
Tìm hiểu hoàn cảnh và có các liên lạc thường xuyên với GĐ HS, để GĐ
biết thời khóa biểu và các khoản đóng góp của HS, nếu HS nghỉ hoặc có các
biểu hiện chán học, học không tiến bộ thì phải thông báo cho GĐ để có biện
pháp nhắc nhở và giáo dục phù hợp. HS học tập tiến bộ cũng cần thông báo phụ
huynh để có các động viên kịp thời. Nếu GĐ HS có các phương pháp giáo dục
18
chưa tốt thì GVCN nên có các buổi tiếp xúc trao đổi với GĐ về phương pháp
giáo dục để từ đó GĐ có các phương pháp và biện pháp giáo dục hợp lí.
* Phối hợp với xã hội:
HS bỏ học thì có nhiều lí do nhưng một lí do đáng kể HS bỏ học đó là
nghiện chơi games, hút hít, cờ bạc…và tình trạng bạo lực học đường cũng dẫn
đến bỏ học, nên việc phối hợp với các tổ chức xã hội để kiểm soát các quán chơi
games, chơi cờ bạc… và cùng với nhà trường kiểm soát được bạo lực học
đường.
Đối với HS đã bỏ học thì cần tìm hiểu rõ nguyên nhân thông qua bạn bè,
GĐ…xem các em bỏ học vì chán học, học không tiếp thu được hay do hoàn
cảnh GĐ (kinh tế quá khó khăn chẳng hạn ) hoặc do bạo lực học đường…để từ
đó có phương pháp phù hợp nhất để động viên các em quay lại lớp. VD HS bỏ
học do điều kiện kinh tế thì GVCN động viên GĐ, kiến nghị với Ban giám hiệu
để miễn giảm các khoản đóng góp và cùng với tập thể lớp và các đoàn thể khác
có sự hỗ trợ nhất định về mặt kinh tế và tinh thần để các em có đủ điều kiện đến
lớp.
VD: Em Lê Văn Sơn là một học sinh hay trốn học, bỏ tiết, thường xuyên

người mà mình đã dồn hết nghị lực trong bao năm qua.
Qua ví dụ trên tôi thấy rằng GVCN phải huy động tiềm năng trí tuệ và khả
năng ban cán sự lớp, của các bậc phụ huynh vào việc giáo dục toàn diện học
sinh đặc biệt là vấn đề tư tưởng đạo đức, ý thức học tập cũng như là việc phòng
chống các tệ nạn xã hội. Muốn có sự phối hợp này rất cần sự nhận thức một cách
đầy đủ trách nhiệm của chính bản thân mỗi con người được giao nhiệm vụ.
(2). HS vi phạm đạo đức (hay nói tục chửi thề, không nghe lời cha mẹ
thầy cô, xem thường nội qui của trường lớp, )
Thường là do ý thức của các em chưa tốt cộng với sự thiếu quan tâm nhắc
nhở của GVBM và GVCN, GVCN không xây dựng được qui định riêng cho lớp,
xử lí không đến nơi đến chốn các trường hợp vi phạm, chỉ nhắc nhở mà không
có biện pháp cụ thể, bầu ban cán sự lớp không đủ năng lực nhưng lại không
thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lí.
Đối với trường hợp này GVCN vẫn cần sử dụng linh hoạt các giải pháp
trên (giải pháp đối với HS nghỉ học, bỏ tiết, có nguy cơ bỏ học), ngoài ra cần
chú ý thêm về các giải pháp sau:
Giải pháp 1. Thường xuyên thăm lớp nhắc nhở các em.
Giải pháp 2. Thuyết phục bằng lời lẽ có lí có tình, bằng tình cảm và phép
tắc tác động lên nhận thức, ý thức của HS
Giải pháp 3. Phối hợp với ban cán sự lớp và phụ huynh HS
Thông thường, ở bất kì HS nào khi vi phạm nội qui trường lớp thường kèm
theo những hành động bất cần hay nói tục, chửi thề. Vì vậy tôi có kế hoạch
thông báo kịp thời cho gia đình HS, và khi nhận được thông báo từ GVCN để
GĐ có biện pháp kết hợp tay đôi với để từ đó có biện pháp giáo dục kịp thời.
Ngoài ra tôi còn đến thăm và trao đổi với gia đình HS nhất là GĐ các em
học sinh cá biệt. Theo tôi đây là hình thức giáo dục có hiệu quả cao bởi lẽ qua
việc đến thăm gia đình HS sẽ tạo được sự đồng cảm, thiện cảm giữa phụ huynh
và GVCN. Chính mối thiện cảm này giúp học sinh phải tự ý thức để xứng đáng
với sự quan tâm dạy dỗ của thầy cô.
Khi phối hợp với GĐ tôi thiết nghĩ GVCN cần linh hoạt trong sử dụng các

nguy cơ bỏ học, HS vi phạm đạo đức), ngoài ra cần đặc biệt chú ý đến sự phối
kết hợp giữa GĐ, nhà trường và xã hội bởi đây là 3 môi trường sẽ chi phối trực
tiếp đến sự hình thành nhân cách học sinh.
* Phối hợp với nhà trường:
GVCN cần phối hợp chặt chẽ với BNN của nhà trường bởi trong những giờ
giải lao cũng như trước và sau giờ học thì người nắm tình hình trường lớp rõ
nhất chính là các thành viên trong BNN, và trong những giờ chơi đó thì bản chất
của các em cũng được thể hiện khá rõ, vì lẽ đó tôi thường xuyên trao đổi, thăm
nắm tình hình lớp từ BNN và có sự phối kết hợp chặt chẽ với BNN để giáo dục
các em được hiệu quả hơn.
GVCN cũng cần báo cáo kịp thời với Ban giám hiệu nhà trường để nhà
trường có sự chỉ đạo kịp thời và phối hợp với các lực lượng giáo dục khác. Mặt
khác nhà trường cần tuyên truyền sâu rộng trong phụ huynh học sinh các lớp,
cán bộ giáo viên công nhân viên nhà trường về việc ngăn chặn tình trạng vi
phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh, đảm bảo an ninh trật tự trong trường
học, tuyên truyền tới học sinh trong các giờ sinh hoạt tập thể đầu tuần.
* Phối hợp với GĐ:
Nhà trường có thế mạnh về giáo dục nhận thức, thông qua nhận thức tác
động tới tình cảm, nhưng nhà trường không thể nào gần gũi và hiểu sâu được
từng cá nhân HS, có tác động tình cảm liên tục như GĐ được. Do vậy, muốn
giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho HS thì GVCN cần phải phối hợp
với phụ huynh sẽ giải quyết các trường hợp mâu thuẫn không đáng có giữa các
em HS để không xảy ra hậu quả nghiêm trọng.
21
- GĐ cần sắp xếp dành nhiều thời gian cho các em, tâm sự cởi mở chân tình
để hiểu các em hơn, không nên ỷ mình là cha mẹ lúc con có lỗi chỉ quát mắng và
đánh chửi như vậy sẽ tạo cho các em tính bất cần lì lợm.
- GĐ cũng cần quan tâm xem con mình chơi với bạn bè tốt hay xấu để tìm
cách uốn nắn con dần dần, các em tiếp thu những cái tốt thì có thể rất từ từ
nhưng tiếp thu những cái xấu rất nhanh, do đó cha mẹ cần bộc lộ mình là người

Bằng tất cả sự nỗ lực của bản thân tôi cùng với sự quan tâm của Ban giám
hiệu, BNN nhà trường và tất cả các thầy cô giáo trong trường cũng như sự phối
kết hợp nhịp nhàng, đồng điệu giữa ban cán sự lớp với GVCN, giữa GVCN và
GVBM, giữa GVCN và phụ huynh HS. Tôi đã đạt được kết quả khả quan, HS
biết vâng lời và yêu quí thầy cô, biết xác định động cơ học tập đúng đắn, tập thể
HS biết yêu thương đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Kết quả cuối năm học lớp 10C5 đạt được như sau:
22
Lớp
10C5
SS Học lực
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Đầu
năm
44
0 1 27 15 1
0 2 62 34 2
Cuối
năm
44
1 5 30 8 0
2 11 69 18 0
Lớp
10C5
SS
Hạnh kiểm
Tốt Khá Trung bình Yếu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Đầu

* Đối với nhà trường:
Cần có kế hoạch nhân rộng các điển hình GVCN giỏi của trường và tăng
cường dự giờ những tiết sinh hoạt chủ nhiệm.
+ Chỉ đạo cho GVCN tăng cường công tác phối hợp với cha mẹ HS để có
biện pháp giáo dục kịp thời
* Đối với Sở GD & ĐT:
Cần có nhiều hơn các đợt tập huấn về công tác chủ nhiệm.
23
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi, trong quá trình thực
hiện vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của đồng nghiệp để
nội dung đề tài hoàn thiện hơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 3 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Lê
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lí luận dạy học đại học.
2. Tổ chức hoạt động giáo dục.
3. Điều lệ trường phổ thông ( ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ -
BGD&ĐT ngày 02/04/2007).
4. Thông tư 58/ TT - BGDĐT, ngày 12/12/2011 về việc ban hành quy chế
đánh giá, xếp loại HS THCS và THPT.
5. Quy chế thi đua trường THPT Triệu Sơn 6 năm học 2012 – 2013.
6. Sổ công tác GVCN.
7. Giáo dục – quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc – Phạm Văn Đồng
(NXB giáo dục 1999).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status