Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng phân môn tập đọc ở lớp 3 - Pdf 44

MỤC LỤC
1.MỞ ĐẦU :........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài :........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu :..................................................................................2
1.3. Đội tượng nghiên cứu:..................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu:.............................................................................2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN...............................................................................3
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:...................................................3
2.2.Thực trạng của vấn đề:..................................................................................4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để rèn đọc cho học sinh:.....................................5
2.4. Hiệu quả củ sáng kiến:................................................................................19
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: ............................................................................20
+ Kết luận .........................................................................................................20
+ Kiến nghị .......................................................................................................20


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Tập là một phân môn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong chương trình giảng dạy
môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học .Học tốt tập đọc không những giúp cho học sinh
rèn luyện kỹ năng đọc –nghe - nói –viết mà còn tạo điều kiện cho học sinh học
tốt các môn học khác trong bộ môn Tiếng Việt.Tập đọc là một phân môn không
thể thiếu đối với học sinh tiểu học,nó là một công cụ,là chìa khóa, là phương tiện
để học sinh tiếp nhận tri thức của loài người .Nó là môn mang tính chất tổng hợp
vì ngoài nhiệm vụ dạy học phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ trau dồi kiến
thức về Tiếng Việt cho học sinh (Về phát âm ,từ ngữ, câu văn),kiến thức ban đầu
về văn học đời sống giáo dục thẩm mỹ. Phân môn tập đọc đặt ra một nhiệm vụ
quan trọng.Trong các giờ tập đọc học sinh biết đọc diễn cảm bài văn ,bài thơ ,đã
tạo cho các em hứng thú say mê và để lại một vốn văn học cho các em .Mặt
khác nó còn có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục mỹ cảm,giúp các em hiểu
được cái đúng ,cái đẹp ,cái tinh tế của nghệ thuật ngôn từ. Học đọc đồng thời


hơn, hay hơn diễn cảm hơn, làm thế nào để các em hiểu văn bản được đọc, làm
thế nào để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu . Xuất phát từ những thiếu sót và
vướng măc trong quá trình giảng dạy tôi đã đi sâu nghiên cứu
“Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng phân
môn Tập đọc ở lớp Ba”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Giúp cho các em ở bậc tiểu học nói chung, lớp Ba nói riêng, rèn được kỹ
năng đọc và cảm thụ tốt bài văn, bài thơ, góp phần hình thành nhân cách con
người một cách toàn diện
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các kỹ năng đọc đối với yêu cầu cần đạt của học sinh lớp 3 theo chuẩn kiến
thức- kỹ năng.
Nghiên cứu kỹ các giải pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học
Hưng Lộc 2, huyện Hậu Lộc.
1.4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
- Phương pháp thực nghiệm.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận:
Hoạt động trong giờ Tập đọc đó là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở
là việc tiếp nhận thông tin, dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Đọc được
xem là hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là cơ chế sử dụng mật
mã gồm hai phương diện. Một là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã

dạy phân môn Tập đọc, từ đó phát huy tính tích cực của các em, nâng cao hiệu
quả giờ học. Hơn nữa, tuổi của các em ở Tiểu học là tuổi chơi mà học, học mà
chơi. Các cơ quan trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện nên mức độ tập trung
chú ý lâu chưa bền vững, ngồi lâu trong một tiết học nếu không thay đổi hình
thức tổ chức dạy học chắc các em sẽ không thấy thoải mái. Bởi vậy, cần có
3


những biện pháp tổ chức hoạt động dạy và học linh hoạt để các em có cơ hội
vừa học, vừa vận động cơ thể. Thông qua trò chơi để học và trong một giờ học,
mỗi em được gọi ít nhất hai lần đứng dậy phát biểu ý kiến để có cơ hội thay đổi
tư thế. Học phân môn Tập đọc, việc đọc đúng,đọc hiểu và cảm thụ là hai khâu
có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó hỗ trợ đắc lực cho nhau. Cảm thụ tốt giúp
cho việc đọc diễn cảm được tốt. Ngược lại việc đọc diễn cảm giúp cho cảm thụ
bài văn về những cái hay,cái tinh tế ,những tình cảm tốt đẹp về văn bản mình
đã đọc
2.2. Thực trạng dạy và rèn đọc cho học sinh ở trườngTiểu học Hưng Lộc 2 :
+ Đối với giáo viên :
- Giáo viên nắm rõ tầm quan trọng của việc dạy Tập đọc ở Tiểu học. Giáo
viên đã chú trọng phương pháp dạy học mới. Đảm bảo quy trình tiết dạy, chú ý
luyện phát âm cho học sinh, đã giúp học sinh hiểu nội dung bài học.
- Một số giáo viên chuẩn bị bài còn phụ thuộc nhiều vào câu hỏi sách giáo
khoa, gợi ý sách giáo viên và sách bài soạn. Chính vì vậy bài dạy mang tính áp
đặt đơn điệu ,chưa phù hợp với đối tượng học sinh, làm cho học sinh tiếp thu
một cách thụ động, ghi nhớ máy móc lời giảng của giáo viên
- Quá trình hướng dẫn học sinh đọc cảm thụ chưa quán xuyến tất cả các loại
đối tượng mà chỉ tập trung chú ý đến học sinh giao nhiệm vụ luyện đọc cá nhân
hoặc đọc để tìm hiểu bài
- Việc chọn từ giải nghĩa ở một số giáo viên còn lúng túng, chưa phân biệt
được từ khó cần cung cấp và từ chọn cần để giảng về nội dung và nghệ thuật.

Đặc biệt học sinh lớp 3B ở trường tôi, học sinh thường phát âm sai ở những
tiếng có âm đầu như l/n, s/x, t/ch, vần ăn/ ăng
- Phần đọc hiểu nắm nội dung bài ở một số học sinh còn khó khăn.
* Kết quả thực trạng:
Ngay từ đầu năm (năm học: 2016 – 2017), sau quá trình tìm hiểu thực tế tôi
tiến hành điều tra kết quả học tập của học sinh lớp 3B trường Tiểu học Hưng
Lộc 2, tôi nhận thấy: Các em mới chỉ dừng lại ở việc đọc to nhưng mức độ đọc
lưu loát còn một số em vẫn chưa đạt yêu cầu, các em còn đọc nhát gừng, đọc lặp
từ, thêm từ, bớt từ đọc sai về các lỗi phát âm. Số em đọc đúng đọc trôi chảy
,ngắt nghỉ đúng chưa đạt. Mức độ đọc đọc hay chỉ có rất ít em đạt được. Các
em chưa thể hiện rõ giọng đọc của từng thể loại như thơ, văn bản kịch… Đặc
biệt vẫn còn một số học sinh không biết thế nào là đọc hay. Ngay từ đầu năm
học tôi đã phân loại để nắm được trình độ của học sinh, từ đó có kế hoạch luyện
đọc cho từng em. Tôi đã thống kê chất lượng đọc của học sinh lớp 3B như sau:
Lớp Sĩ
Chất lượng, mức độ đọc
Số
Tỷ lệ
số
lượng
3B 30 Đọc đúng trôi chảy,rõ ràng, ngắt nghỉ đúng
19
63,7%
Đọc hiểu
13
43,3%
Đọc hay
4/30
13,3%
Như vậy chất lượng đọc thực tế cho thấy còn thấp. Đặc biệt là các kỹ năng

* Xác định rõ được vị trí của từng bài sẽ giúp người giáo viên xác định rõ
được mục tiêu đúng, giọng đọc của từng bài và mức độ yêu cầu học sinh học
xong bài đó đọc với giọng như thế nào? Với bài học này học sinh thường phát
âm sai tiếng nào(Do ảnh hưởng của phương ngữ) và cần hướng dẫn học sinh
luyện đọc như thế nào cho chuẩn.
Ví dụ: Bài “ Người mẹ” là bài dạy thuộc tiết thứ ba, tuần 4, chủ đề “ Mái
ấm”- Chủ đề thứ ba của TV3 (Tập một). Chính vì thế, yêu cầu học sinh đọc
thành tiếng ở mức độ: Biết thể hiện giọng đọc như :Ở đoạn 1: Giọng đọc hồi
hộp, dồn dập thể hiện tâm trạng hoảng hốt của người mẹ khi bị mất con. Nhấn
giọng các từ ngữ: hớt hải, thiếp đi, nhanh hơn gió, chẳng bao giờ trả lại, khẩn
khoản cầu xin. Đoạn 2 và đoạn 3: Giọng thết tha thể hiện sự sẵn lòng hy sinh
của người mẹ trên đường đi tìm con. Nhấn giọng các từ ngữ: không biết, băng
tuyết bám đầy, ủ ấm, ôm ghì, đâm, nhỏ xuống ,đâm chồi nảy lộc, nở hoa
Đoạn 4: Đọc chậm rõ ràng từng câu. Giọng thần chết ngạc nhiên. Giọng người
mẹ khi nói câu“ Vì tôi là mẹ” điềm đạm khiêm tốn; Khi yêu cầu Thần Chết “
hãy trả con cho tôi ! ”- dứt khoát. Chú ý đọc các từ ngữ mới các từ dễ sai do ảnh
hưởng phương ngữ như: Hớt hải, khẩn khoản,lã chả, lạnh lẽo ( SGV có thể yêu
cầu các từ khác như: thiếp đi, áo choàng, mấy đêm ròng giáo viên cần chắt lọc
từ ngữ khó đọc theo đặc điểm của địa phương lớp mình phụ trách không nhất
thiết theo SGV, biết nghỉ hơi sau dấu chấm, dấu phẩy và các cụm từ cho hợp lý.
Nhưng tới bài “ Hũ bạc của người cha” (Tiết thứ nhất,của tuần 15 thuộc
chủ đề: Anh em một nhà) ở mức độ bài này yêu cầu học sinh ở mức độ cao hơn
đó là biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện với các lời nhân vật (Giọng ông lão
,giọng người kể ) đọc đúng lời của nhân vật( giọng ông lão) khuyên bảo( khi đưa
tiền cho con ra đi tập kiếm lấy cơm ăn; nghiêm khắc ( khi vứt nắm tiền xuống
ao); cảm động( khi thấy con đã biết quý đồng tiền làm nên nhờ lao động); ân cần
trang trọng lời nói với con ở cuối truyện khi trao hũ bạc cho. Giọng kể của
người dẫn chuyện: chậm rãi, khoan thai, hồi hồi hộp cùng với sự phát triển tình
tiết truyện


Ví dụ: Đọc bài: “Người lính dũng cảm” (TV3 – T1) giọng đọc phù hợp với
từng nhân vật .
Giọng đọc người dẫn chuyện: Gọn, rõ, nhanh. Nhấn giọng tự nhiên ở những
từ ngữ : Hạ lệnh ,ngập ngừng,,chui, chối tai .
Giọng viên tướng :Tự tin, ra lệnh.
Giọng chú lính nhỏ: rụt rè bối rối ở phần đầu truyện chuyển thành quả quyết
( trong lời đáp: Như vậy là hèn) ở cuối truyện.
Giọng thầy giáo: lúc nghiêm khắc, lúc dịu dàng buồn bã .
Khi đọc giáo viên cũng phải chú ý đọc đúng đến các câu mệnh lệnh câu hỏi
.Lời viên tướng :Vượt rào,/ bắt sống lấy nó!//- Chỉ những thằng hèn mới
chui. - Về thôi !( mệnh lệnh, dứt khoát)
.Lời chú lính nhỏ: Chui vào à?( Rụt rè ,ngập ngừng) -Ra vườn đi!( Khẽ rụt
rè) - Nhưng như vậy là hèn( quả quyết )
Ví dụ: Khi chuẩn bị dạy bài “Ai có lỗi?” (Tiếng việt 3, tập 1 Trang 12). chuẩn
bị cho việc dạy bài này tôi nghĩ mình phải rèn giọng đọc cho mình như sau:
Đọc câu chuyện nhiều lần .
7


Nghiên cứu kỹ nắm chắc ý nghĩa câu chuyện là phải biết nhường nhịn
bạn ,nghĩ tốt về bạn, dũng cảm nhận lỗi khi trót cư xử không tốt với bạn .
Nghiên cứu các loại sách tham khảo mình sẽ xác định được giọng cần đọc
Giọng nhân vật “tôi” ( En –ri- cô) ở đoạn 1 đọc chậm rãi , nhấn giọng các
từ: nắn nót,nguệch ra, nổi giận ,càng tức kiêu căng.
Đọc nhanh căng thẳng hơn (ở đoạn 2- hai bạn cãi nhau), nhấn giọng ở các
từ ngữ: trả thù , đẩy , hỏng hết , giận đỏ mặt. Lời Cô –rét-ti bực tức.
Trở lại chậm rãi, nhẹ nhàng (ở đoạn 3) khi En –ri-cô hối hận, thương bạn
muốn xin lỗi bạn,nhấn giọng các từ: lắng xuống ,hối hận.
Ở đoạn 4 và 5: Nhấn giọng ở các từ : ngạc nhiên, gây ra, ôm chầm.....Lời
Cô - ret - ti dịu dàng. Lời của bố En – ri - cô nghiêm khắc.

Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông/ ấm áp/ Lan ân hận quá.// Em
muốn ngồi dậy xin lỗi mẹ/ và anh,/ nhưng lại xấu hổ vì mình / đã vờ ngủ.
8


Áp mặt xuống gối,/em mong trời mau sáng để nói với mẹ : //“con không thích
chiếc áo ấy nữa. / Mẹ hãy để tiền mua chiếc áo ấm / cho cả hai nh em”.//
+ GV giúp học sinh sửa lại bằng cách cho học sinh nhận xét: trình chiếu
câu văn đã ngắt sẵn như sau:
Nằm cuộn tròn/ trong chiếc chăn bông ấm áp,/ Lan ân hận quá. //Em muốn
ngồi dậy/ xin lỗi mẹ và anh,/ nhưng lại xấu hổ/ vì mình / đã vờ ngủ.//
Áp mặt xuống gối,/ em mong trời mau sáng/ để nói với mẹ: // “con không
thích chiếc áo ấy nữa. // Mẹ hãy để tiền/ mua chiếc áo ấm / cho cả hai nh em”.//
+ Sau đó yêu cầu học sinh đọc lại để so sánh hai cách đọc cách nào đúng.
Các em đều thống nhất là đọc theo cách thứ hai mà giáo viên đã trình chiếu
sẵn câu văn trên màn hình .
Rồi yêu cầu học sinh đọc lại với giọng nhẹ nhàng, ngắt đúng nhấn giọng
ở các từ in đậm. Đặc biệt câu nói của Lan khi học sinh thể hiện sự ân hận, có
như vậy mới biểu đạt được trạng thái cảm xúc của tác giả
Ví dụ 2: Trong bài: “ Giọng quê hương ” ( TV3 - T1).
Học sinh đọc như sau: Mẹ tôi/ là người miền trung….//Bà đã qua đời đã
hơn tám mươi năm rồi.//
- Giáo viên đọc lại câu văn và yêu cầu học sinh lắng nghe, phát hiện chỗ cô giáo
ngắt giọng: Mẹ tôi là người miền trung..// Bà đã qua đời/ đã hơn tám mươi năm
rồi.//
Sau đó giáo viên yêu cầu 3 em đọc lại câu văn trên. Từ đó giúp học sinh
phát hiện và ngắt nghỉ đúng .
Ví dụ 3: Đối với câu: “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy
nảy trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng’’
( Nhớ lại buổi đầu đi học –TV3 – T1).

“ Chim đừng hót nữa,//
Chín lặng trong vườn,/
Bà em ốm rồi./
Bà mơ tay cháu/
Lặng/ cho bà ngủ//
Quạt /đầy hương thơm.//”
Hoa cam,/ hoa khế
(Quạt cho bà ngủ TV3-T1)
Như vậy, từ một số biện pháp trên giáo viên đã giúp học sinh dần dần có ý
thức tìm hiểu giọng đọc, cách đọc đúng và tự tin hơn khi đọc.
*Hướng dẫn tốc độ đọc cho học sinh:
Như chúng ta đã biết, đối với học sinh Tiểu học đọc lưu loát là nói đến phẩm
chất đọc về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ. Tốc độ đọc nhanh chỉ thực
hiện khi đã đọc đúng, khi đọc phải chú ý xác định tốc độ để cho người nghe hiểu
kịp được. Nhưng đọc nhanh ở đây không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ đọc
thành tiếng của lớp 3 yêu cầu tối thiểu là 70 tiếng / phút.
+ Cách thực hiện:
- Hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách giáo viên đọc mẫu hoặc
chọn học sinh đã đọc tốc độ chuẩn đọc mẫu để tất cả học sinh đọc thầm theo.
Ngoài ra, dùng biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của
giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ
Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc một khổ thơ, một đoạn văn
giáo viên đều nhắc cả lớp đọc thầm theo.
Giáo viên còn gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi như: Thi đọc
tiếp sức, đọc thơ truyền điện,… Kết thúc chơi bao giờ giáo viên cũng cho học
sinh chọn và tuyên dương nhóm đọc đúng nhất, nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý
rút kinh nghiệm về cách đọc. Mặt khác muốn học sinh đọc lưu loát, đúng tốc độ
cần có sự chuẩn bị bài ở nhà tốt, học sinh phải được đọc trước nhiều lần. Em nào
đọc còn chậm giáo viên giúp học sinh đọc tốt hơn.
*Rèn cho học sinh đọc có ý thức (đọc hiểu).

Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nỗi thành người.
Như vậy từ việc đọc văn bản các em mới hiểu được nội dung của văn bản và
ngược lại có hiểu được nội dung của văn bản thì các em mới đọc đúng, đọc hay
được.
- Trong mỗi giờ tập đọc tôi yêu cầu HS đọc thành tiếng kết hợp với đọc thầm
nhiều lần. Đồng thời tôi giao nhiệm vụ cho HS trong khi đọc thầm để kiểm tra
kỹ năng đọc hiểu.
+ Đọc thầm lần 1: Kết hợp khi đọc nối tiếp từng đoạn.
+ Đọc thầm lần 2: Kết hợp khi 1 bạn đọc cả bài.
+ Đọc thầm lần 3: Khi giáo viên đọc diễn cảm. ( lần 2)
+ Lần 4 đọc thầm kết hợp với thành tiếng khi tìm hiểu bài.
+ Lần 5 đọc thầm kết hợp với khi luyện đọc lại.
Như vậy việc đọc thầm kết hợp với việc đọc cá nhân thành tiếng được
luyện nhiều lần, kết hợp nhuần nhuyễn trong một tiết học Tập đọc. Hoạt động
“Tìm hiểu bài” có kết hợp luyện đọc đoạn bài. Các hoạt động được tổ chức diễn
ra một cách nhẹ nhàng, các hoạt động được lồng ghép vào nhau hỗ trợ cho nhau.
- Để giúp học sinh đọc hiểu tốt, giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi bổ sung,
thêm một vài câu hỏi ở trong sách giáo khoa phù hợp với từng bài học để học
sinh nêu được nội dung, nghệ thuật từng bài.
Ví dụ: Khi tìm hiểu bài “Con cò” (TV3-T1), giáo viên đặt các câu hỏi sau:
Em hãy đọc thầm bài văn, tìm những chi tiết nói về con cò bay trong khung
cảnh thiên nhiên như thế nào ? (Con cò bay trong một buổi chiều rất đẹp yên
tĩnh: cánh đồng phẳng lặng, bát ngát xanh ; ...Tìm những chi tiết nói lên dáng
11


vẻ thong thả ,nhẹ nhàng của con cò ? (....) . Em cần làm gì để giũ mãi cảnh
đẹp được tả trong bài ? (....) Thông qua 3 câu hỏi tìm hiểu bài học sinh có thể
cảm nhận được bức tranh đồng quê Việt Nam rất đẹp và thanh bình. Con người


12


( Ảnh nhà rông ở Tây nguyên)

Qua bức tranh sinh động được giáo viên trình chiếu ở trên giúp học sinh
không những hiểu về từ ngữ mà còn giúp học sinh rõ được hình ảnh“Nhà
rông”. Rõ ràng học sinh phải động não và nói bằng lời của mình, thông qua đó,
Học sinh biết được một kiểu nhà của các dân tộc, nhà rông là nhà công cộng của
buôn làng. Nhà rông có đặc điểm riêng biệt so với các loại nhà mà các em
thường thấy .
Ví dụ: Khi học bài : “Ngày hội rừng xanh” ( TV3 - T2) có các câu thơ:
“Tre /trúc/ thổi nhạc sáo /
Khe suối /gảy nhạc đàn/
Cây/ rủ nhau thay áo /
Khoác bao màu tươi non .//”
Tôi hướng dẫn học sinh tìm và phát hiện cách sử dụng từ ngữ của tác giả, ở
đây không đơn thuần tác giả dùng từ tả hoạt động của sự vật và con vật mà đã sử
dụng biện pháp nhân hóa làm cho cây cối cũng thay áo, cũng đàn sáo như con
người để thể hiện sự sinh động đáng yêu của các con vật trong ngày hội ở rừng
xanh. Đó là giá trị của biện pháp nghệ thuật.
Như vậy, tất cả những cách thực hiện trên nhằm giúp cho học sinh hiểu nội
dung, nghệ thuật của văn bản để có cách đọc đúng và vươn tới mức độ cao hơn
đó là đọc hay đọc ( diễn cảm.)
*Rèn kỹ năng đọc hay cho học sinh:
Đọc hay(diễn cảm) là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn hoặc các
yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ
điệu, chỗ ngừng, nghỉ, cường độ…để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác
giả đã gửi gắm trong bài đọc. Đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ

khổ thơ) mà em thích và nói lên lí do vì sao mình lại thích đoạn văn, khổ thơ đó.
Hoặc tổ chức thi đọc diễn cảm, đọc phân vai( Đối với các tác phẩm có nhiều
lời hội thoại như bài: “ Nhà bác học và bà cụ”, hay bài “Ở lại với chiến khu” (
TV3-T2).
Bởi thế mà trong giờ Tập đọc của lớp 3B (tôi áp dụng dạy thực nghiệm) các
em rất thích tham gia đọc diễn cảm.
Bước 2: Đọc hay chỉ có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc hay yêu
cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm… phù hợp với từng ý cơ
bản của bài đọc, với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở từ
ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả. Để đọc hay người đọc
phải làm chủ được chỗ ngắt giọng làm chủ được tốc độ đọc, làm chủ được
cường độ và ngữ điệu. Vì vậy, ở mỗi bài tập đọc giáo viên cần quan tâm hướng
dẫn học sinh phát hiện cách đọc diễn cảm, qua ý đồ nghệ thuật, bằng cách tự các
em tìm tòi, khám phá và tranh luận.
Ví dụ: Bài “Anh đom đóm ” (TV 3- T1). Các em đã ngắt nhịp và nhấn
giọng như sau:
14


“Mặt trời gác chú /
Đi suốt một đêm /
Bóng tối tan dần,/
Lo cho người ngủ...//
Anh Đóm chuyên cần/
Từng bước /từng bước /
Lên đèn đi gác.//
Vung ngọn đèn lồng /
Theo đàn gió mát /
Anh đóm quay vòng/
Đóm đi rất êm,/

sống chết cùng chiến khu của các chiến sĩ nhỏ tuổi
+Giọng đau xót căm thù :Những dặm rừng đỏ lên vì bom Mỹ .// Những dặm
rừng xám đi vì chất độc hóa học Mỹ”.( Trên đường Hồ Chí Minh)
+Giọng chậm rãi khoan thai: “Thì ra/ hai pho tượng ấy nặn bằng bột chè
lam.//” ( Ông tổ nghề thêu)
+Giọng phấn chấn của bà cụ : “Thế nào già cũng đến...Nhưng ông phải làm
nhanh lên nhé, kẽo tuổi già chẳng được bao lâu đâu.” ( Nhà bác học và cụ già)
+ Giọng âu yếm ân cần của ngựa Cha: “ con trai à, / con phải đến bác thợ rèn
để xem lại bộ móng. // Nó cần thiết cho cuộc đua / hơn là bộ đồ đẹp.//
15


+ Giọng tự tin chủ quan của ngựa Con “ Cha yên tâm đi. // Móng của con
chắc chăn lắm. // Con nhất định sẽ thắng mà ! // ( Cuộc chạy đua ở trong rừng)
+ Giọng thể hiện cảm xúc lưu luyến: “Đã đến lúc chia tay. / Dưới làn tuyết bay
mù mịt,/ các em vẫn đứng vẫy tay chào lưu luyến, / cho đến khi xe của chúng
tôi / khuất hẳn trong dòng người / và xe cộ tấp nập / của thành phố câu Âu hoa
lệ, / mến khách.” //(Gặp gỡ ở lúc Xăm – Bua)
+Giọng hoảng hốt vội vã: “Chàng hoảng hốt,/ chạy tới khóm lau nằm trên bãi,/
nằm xuống,/ bới cát phủ lên mình để ẩn trốn.// (Sự tích lễ hội Chữ Đồng Tử)
Như vậy để hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng giọng nhân vật, giáo viên
phải giúp các em tìm hiểu bài tốt để nắm được đặc điểm, tính cách nhân vật. Từ
đó luyện cho các em có giọng đọc tốt, phù hợp với từng nhân vật, thay đổi và
đan xen cách đọc để tạo không khí sinh động hào hứng cho giờ học.
*Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng :
Chúng ta biết rằng, vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của học sinh tiểu
học còn hạn chế. Các bài Tập đọc mà học sinh được học có tác dụng mở rộng
tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên và đời sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và
nhân cách cho học sinh. Việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ có tác dụng minh
họa cho lời giới thiệu, lời giảng, giải thích cho học sinh các nội dung khi tìm

Hình ảnh nước biển lúc chiều tà

18


(Từ việc quan sát hình ảnh học sinh cảm nhận được nét riêng biệt mà chỉ có
ở cửa Tùng mới có.Qua đó giúp học sinh thấy được vẻ đẹp kỳ diệu của thiên
nhiê n càng yêu thiên nhiên hơn và cảm thụ tốt bài tập đọc).
Như vậy áp dụng công nghệ thông tin vào dạy tập đọc sẽ giúp cho học giáo
viên minh họa được những hình ảnh mà mình giới thiệu, lời giảng, giải thích
cho học sinh một cách dễ dàng hơn, vừa cụ thể, sinh động, thực tế mà không mất
nhiều công sức, không tốn kém về kinh tế… Học sinh hứng thú, thu hút vào bài
một cách nhẹ nhàng hơn và cảm nhận được tình cảm đối với bài thơ, bài văn,
câu truyện, kịch hay văn bản khoa học … từ đó mà thể hiện giọng đọc hay hơn
và đọc diễn cảm tốt hơn.
*Đổi mới cách đánh giá học sinh và hình thức xây dựng đề kiểm tra định kỳ
phân môn tập đọc theo thông tư 22:
+Đổi mới cách đánh giá:
Đánh giá bao gồm tất cả các cách thức giáo viên thu thập và sử dụng các
loại thông tin định tính định lượng thu thập được trong quá trình giảng dạy trên
lớp học nhằm đưa ra phán xét, nhận định, quyết định. Các thông tin này cũng
chính học sinh sử dụng để cải tiến việc học tập, đồng thời giúp giáo viên hiểu
học trò mạnh điểm gì, yếu điểm gì để lập kế hoạch giảng dạy và điều chỉnh việc
giảng dạy. Để giúp các em có được tình cảm, xúc cảm, mỗi khi đọc một bài tập
đọc, hay có niềm tin khi đứng lên đọc bài thì giáo viên dùng lời nói của mình
nhận xét phát hiện ra lỗi và sửa lỗi của mình khi đọc bài đọc hoặc giáo viên giúp
học sinh tự đánh giá phát hiện ra lỗi của mình hay nhận xét cách đọc cách trả
lời câu hỏi của bạn để điều chỉnh theo yêu cầu đề ra.
Ví dụ : Khi dạy bài : “Hai Bà Trưng” (TV3-T2) Khi học sinh tìm hiểu câu hỏi:
Hãy tìm những chi tiết nói lên khí thế của đoàn quân khởi nghĩa ? Nên cho học

cuộc sống .Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề mới hoặc đưa ra
những vấn đề phản hồi hợp lý trong học tập trong cuộc sống một cách linh hoạt .
Xuất phát từ những điểm mới của thông tư 22 để nâng cao chất lượng dạy
học môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc giáo viên cần triệt để việc áp
dụng thông tư 22 về đổi mới hình thức xây dựng đề kiểm tra định kỳ để nâng
cao chất lượng dạy và học
Ví dụ: Đề kiểm tra môn tiếng việt cuối kì II. ( Phần Phụ Lục)
Như vậy từ cách đổi mới đánh giá học sinh đến đổi mới hình thức xây
dựng đề kiểm tra định kỳ sẽ giúp cho giáo viên thiết lập được một môi trường
tương tác giúp học sinh học tập tiến bộ hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong một khoảng thời gian không dài, với các biện pháp nêu trên, tôi thấy
kết quả khả quan, hiệu quả giờ dạy của giáo viên được nâng lên rõ rệt. Học sinh
hứng thú học tập tích cực hơn, các em mạnh dạn tự tin hơn khi đọc bài. Số em
đọc chưa đạt yêu cầu không còn nữa. Số em đọc đúng đọc hay , đọc diễn cảm
và hiểu văn bản được tăng lên rất nhiều so với đầu năm. Qua việc đánh giá từ
những tiết tập đọc trên lớp, kết quả phân môn tập đọc của lớp 3B do tôi trực tiếp
thực nghiệm giảng dạy đã đạt được như sau:
Sĩ số
Chất lượng, mức độ đọc
Số lượng
Tỷ lệ
Lớp
Trôi chảy, rõ ràng, ngắt nghỉ đúng
30/30
100%
3B
30
Đọc hiểu
28/30

hết sức coi trọng hoạt động dạy học của học sinh tập trung hướng vào người
học, phát huy tính tích cực của học sinh. Giáo viên có nghệ thuật sư phạm để
hướng dẫn mỗi cá nhân học sinh chiếm lĩnh tri thức. Không tỏ thái độ nôn nóng,
cáu gắt mà luôn tạo ra không khí vui tươi thoải mái trong tiết học để các em thấy
rằng đó là một “sân chơi” bổ ích và lý thú chứ không phải là giờ học căng
thẳng. Giáo viên phải triệt để sử dụng đồ dùng trực quan hỗ trợ cho việc tìm
hiểu bài, tổ chức các hình thức học tập linh hoạt, sáng tạo.Thực hiện có hiệu quả
thông tư 22 để tạo ra hoạt động tương tác tích cực trong hoạt động dạy và học
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
+Kiến nghị:
+ Phòng GD& ĐT nên tổ chức thường xuyên những hội thảo chuyên đề đi sâu
vào từng phân môn. Các cụm trường: Tổ chức chuyên đề để tạo điều kiện cho
giáo viên được thực hành dạy và học hỏi, nâng cao tay nghề.
Trên đây là những giải pháp của bản thân trong quá trình “ Rèn đọc cho học
sinh nhằm nâng cao chất lượng phân môn tập đọc ở lớp 3.” Tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để đề
tài được hoàn chỉnh hơn, các giải pháp trên mang tính khả thi hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Hậu Lộc, ngày 15 tháng 3 năm 2017
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác..
Người thực hiện

21


Nguyễn Thị Tuyết

A. Vì cây gạo đứng ngoài cổng chùa, lối vào chợ quê.
B. Vì hoa gạo làm sáng bừng lên một góc trời quê.
C. Vì cây gạo bắt đầu bật ra những chiếc hoa đỏ hồng.
4.(0.5 điểm) Tìm từ ngữ miêu tả âm thanh của đàn sáo?(M2)
………………………………………………………………………………
5. (1 điểm) Nêu nội dung đoạn văn trên ? ( M3)
………………………………………………………………………………
6. (1 điểm) Dựa vào nội dung đoạn văn trên, em hãy viết 2 đến 3 câu nói lên
cảm nhận của mình về mùa xuân.(M4)
………………………………………………………………………………….
22


7. (0.5 điểm) Bộ phận nào trong câu “ Con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ
móng” trả lời câu hỏi để làm gì?(M1)
A. con
B. đến bác thợ rèn
C. để xem lại bộ móng
8.(0.5 điểm):Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x, có nghĩa như sau:(M2)
- Trái nghĩa với gần: ..................................
- Các thiên thể ban đêm lấp lánh trên bầu trời:.........................
9. (1 điểm) Trong câu “Chúng chuyện trò râm ran, có lẽ mỗi con đều có câu
chuyện riêng của mình, giữ mãi trong lòng, nay mới được thổ lộ cùng
bạn bè, nên ai cũng nói, ai cũng lắm lời, bất chấp bạn có chú ý lắng nghe
hay không.”, đàn chim được nhân hóa bằng cách nào ?(M3)
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
II. Đọc thành tiếng (4 điểm) - Thời gian cho mỗi em khoảng 2 phút.
Giáo viên kiểm tra kĩ năng đọc thành tiếng (kiểm tra tập đọc và học thuộc lòng)
đối với từng học sinh qua các bài tập đọc đã học ở sách Tiếng Việt 3 - Tập 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status