Vận dụng kiến thức liên môn cho học sinh lớp 9 trường THCS bắc sơn thông qua giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình - Pdf 44

PHẦN I- MỞ ĐẦU
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy0việc0vận0dụng0kiến0thức0liên môn
giữa Toán với kiến thức các môn học khác làm cho hiệu quả của bài học Toán
nói riêng, môn học khác nói chung được nâng cao. Dạy học liên môn là phương
pháp quan trọng góp phần bổ sung làm phong phú thêm nội dung bài học, giúp
cho học sinh học có niềm say mê, hứng thú, giúp các em yêu môn học hơn,
không cảm thấy Toán là một môn học khô khan, khó học. Đồng thời làm cho các
em thấy rõ mối quan hệ giữa các khoa học, hình dung được một cách chân thực,
sinh động về xã hội. Qua đây, đặt ra một vấn đề quan trọng trong phương pháp
dạy học của giáo viên là phải có kiến thức liên môn sâu rộng, tổ chức cho học
sinh có khả năng sử dụng kiến thức của các môn học có liên quan vào học Toán
để tránh sự trùng lặp, mất thời gian, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhẹ nhàng,
sinh động mà vững chắc.Việc sử dụng rộng rãi các môn học như vậy để bồi
dưỡng cho học sinh, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn trong dạy học.
Hiện nay, trong các tài liệu tham khảo, cũng có nhiều tác giả đã đề cập đến việc
dạy học tích hợp, nhưng chưa có nhiều tài liệu hướng dẫn giáo viên thực hiện
vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học Toán. Mặc dù đã được qua một số đợt
tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học theo quan
điểm tích hợp, nhưng do chương trình quá mới mẻ nên chưa hẳn tất cả giáo viên
đều đã nhận thức về vấn đề một cách thấu đáo. Bản thân tôi cũng không ít lần
lúng túng trong thiết kế bài dạy cũng như vận dụng một cách hiệu quả các
phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp.
Kiến thức môn Toán rất rộng và đa dạng. Trong đó có một nội dung kiến
thức theo các em trong suốt quá trình học tập là phương trình. Học sinh đã được
học về phương trình ngay từ cấp Tiểu học như điền số thích hợp vào ô trống và
dần dần là tìm số chưa biết trong một đẳng thức và cao hơn nữa các em phải làm
một số bài toán phức tạp. Đến lớp 9 các đề toán trong chương trình đại số về
phương trình và hệ phương trình là bài toán có lời. Căn cứ vào lời bài toán đã
cho, các em phải thành lập hệ phương trình. Kết quả tìm được không chỉ phụ
thuộc vào kỹ năng giải phương trình, hệ phương trình mà còn phụ thuộc rất

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.Khách thể nghiên cứu: Hệ thống hoá các kiến thức, phương pháp giải bài
toán bằng cách lập hệ phương trình, tích hợp các kiến thức về các bộ môn: Hình
học,Vật lý, Hóa học, Sinh học, lồng ghép các chương trình giáo dục đạo đức cho
học sinh thông qua nội dung bài toán.
Qua đó, giúp các em rèn tốt khả năng tư duy, hệ thống kiến thức trong chương,
thu thập thông tin, phân tích thông tin, làm bài tập thực hành, liên hệ thực
tế.Giúp các em có hứng thú và lòng say mê học tập bộ môn Toán.
3.2 Khách thể khảo sát : Học sinh khối 9 trường THCS Bắc Sơn năm học
2016 - 2017 .
3.3. Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và thử nghiệm, rút kinh nghiệm chuyên
đề cấp trường ở khối 9 theo sự chỉ đạo của BGH trưòng THCS Bắc Sơn.
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp kiểm tra
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Kết hợp nghiên cứu tài liệu trên mạng Intenet và quan sát, phỏng vấn, điều tra
khi dạy học sinh. Sau đó sử dụng thống kê để xử lý số liệu thu được và rút kinh
nghiệm cho bài dạy sau.
Phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp yêu cầu giáo viên chú ý hướng
dẫn học sinh tìm hiểu, chiếm lĩnh những tri thức kĩ năng đặc thù của từng phân
môn, từng bài học cụ thể. Đồng thời phải biết khai thác những yếu tố chung,
những yếu tố có mối liên hệ giữa các phân môn, các bài học khác cùng loại. Từ
đó giúp hình thành hệ thống tri thức , kĩ năng cơ bản cho học sinh.
2


Ví dụ trong tiết dạy Luyện tập “ Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình”
Hoạt động 1: HS xác định nội dung bài tập tích hợp những bộ môn khoa học

Toán.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thời đại hiện nay, nền giáo dục của nước ta đã tiếp cận được với khoa
học hiện đại. Các môn học đều đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh. Đặc biệt là
môn Toán, nó đòi hỏi tư duy rất tích cực của học sinh, đòi hỏi học sinh tiếp thu
kiến thức một cách chính xác, khoa học. Vì thế để giúp các em học tập môn
Toán có kết quả tốt giáo viên không chỉ có kiến thức vững vàng, lòng nhiệt
huyết, mà điều cần thiết là phải biết vận dụng các phương pháp giảng dạy một
3


cách linh hoạt, gây hứng thú ,sáng tạo,để truyền thụ kiến thức cho học sinh một
cách dễ hiểu nhất.
Môn Toán có kiến thức rất rộng và đa dạng, các em được lĩnh hội nhiều kiến
thức. Trong đó kiến thức theo sát chương trình là về phương trình và hệ phương
trình. Dạng toán này nó mang tính trừu tượng rất cao và đòi hỏi học sinh phải có
các kiến thức về các môn học khác, phải biết tìm mối liên hệ giữa các yếu tố của
bài toán đã cho gắn với đời sống thực tiễn.
2.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
2.1. Thực trạng tình hình
Để giải các bài toán bằng cách lập hệ phương trình đối với học sinh THCS
là một việc làm khó. Đề bài cho không phải là những phương trình,hệ phương
trình có sẵn mà là một đoạn văn mô tả mối quan hệ giữa các đại lượng, học sinh
phải chuyển đổi được mối quan hệ giữa các đại lượng được mô tả bằng lời văn
sang mối quan hệ toán học. Hơn nữa, nội dung của các bài toán này, hầu hết đều
gắn bó với các hoạt động thực tế của con người, xã hội hoặc tự nhiên, đặc biệt
là nó có mối quan hệ với các môn khoa học tự nhiên khác như môn Vật lý, Sinh
học, Hóa học…Nên trong quá trình giải học sinh thường quên, không quan tâm
đến yếu tố thực tiễn dẫn đến đáp số vô lý. Một đặc thù riêng của loại toán này là

học tập cho bản thân, rèn cho các em có khả năng thực hành. Nếu làm được điều
đó chắc chắn kết quả học tập của các em sẽ đạt được kết quả cao.
Giải bài toán bằng cách hệ lập phương trình, đây là một trong những dạng toán
lập hệ phương trình cơ bản mà ở lớp 9 là tiền đề để các em được làm quen
những dạng đơn giản, là cơ sở cho những bài toán phức tạp ở các lớp trên. Nên
đòi hỏi phải hướng dẫn cụ thể để học sinh nắm một cách chắc chắn.
Chính vì vậy, giáo viên không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức như
trong sách giáo khoa mà còn dạy cho học sinh cách giải bài tập. Hướng dẫn cho
học sinh giải các bài toán dạng này phải dựa trên các quy tắc chung là: phân loại
các dạng toán, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các đại lượng dẫn đến lập được hệ
phương trình dễ dàng. Và khi lập được hệ phương trình rồi thì đòi hỏi phải giải
cho chính xác, tìm ra kết quả ,so sánh với điều kiện rồi sau cùng mới kết luận
bài toán. Đây là bước đặc biệt quan trong và khó khăn không những đối với học
sinh mà còn đối với giáo viên. Do đó giáo viên không những cố gắng rèn luyện
cho học sinh cách giải mà cần khuyến khích học sinh tìm hiểu cách giải để học
sinh phát huy được khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén khi tìm lời giải bài toán,
tạo được lòng say mê, sáng tạo, ngày càng tự tin, không còn tâm lý ngại ngùng
đối với việc giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình.Những điều này đã làm
tôi rất băn khoăn, trăn trở.
Trong năm học 2016-2017, tức là khi chưa áp dụng đề tài, sau khi học xong
phần này, tôi có khảo sát chất lượng và thu được kết quả như sau:
Các mức độ thực hiện
Số
Lớp
Giỏi
Khá
TB
Yếu, kém TB trở lên
HS
SL

điều kiện để giáo viên làm tốt công tác.
- Hầu hết các em học sinh ngoan, thích học bộ môn Toán mà tôi giảng dạy.
2.2.2. Khó khăn :
- Trường THCS Bắc Sơn là điểm trường thuộc vùng Miền núi, nhiều học sinh
không có nhiều thời gian học ở nhà vì các em còn phải phụ giúp gia đình .
- Một số ít học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên
không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Toán- Đời sống văn hóa tinh thần ngày
một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi, chơi game . . . ngày càng
nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn, sao nhãng việc học
tập.
- Một số em không có kiến thức cơ bản về Toán học và các môn khoa học tự
nhiên khác
- Khả năng nắm kiến thức mới của các em còn chậm.
- Kỹ năng vận dụng lý thuyết vào bài tập của các em còn hạn chế.
3.GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1. Giải pháp
- Thông qua tình hình thực tế đối với học sinh ở trường THCS Bắc Sơn,
tôi đã cố gắng tìm ra những giải pháp khắc phục nhằm đạt được hiệu quả cao.
Nắm bắt được tình hình học sinh khi giải bài toán bằng cách lập hệ phương
trình nên tôi đã đưa ra các dạng bài tập khác nhau để phân loại cho phù hợp với
khả năng nhận thức của từng đối tượng. Các bài tập ở dạng từ thấp đến cao để
các em nhận thức chậm có thể làm tốt những bài toán ở mức độ trung bình,
đồng thời kích thích sự tìm tòi và sáng tạo của những đối tượng học học sinh
khá, giỏi.
- Tôi thường xuyên hướng dẫn, sửa chữa chỗ sai cho học sinh, lắng nghe
ý kiến của các em. Cho học sinh ngoài làm việc cá nhân còn phải tham gia trao
đổi nhóm khi cần thiết. Tôi yêu cầu học sinh phải tự giác, tích cực, chủ động
trong việc quá trình tiếp thu kiến thức.
- Trong khi giảng dạy ,khả năng nhận thức và suy luận của học sinh trong
mỗi lớp chưa đồng bộ nhưng khi giải bài toán bằng cách lập phương trình tất cả

khoa học. Vì mỗi câu lập luận trong bài giải đều liên quan đến ẩn số và các dữ
kiện đã cho trong đề toán, giúp học sinh hiểu được đâu là ẩn số, đâu là các dữ
kiện đã cho trong bài toán, để từ đó lập luận và lập nên hệ phương trình. Vì thế
giáo viên nên hướng dẫn học sinh luyện tập các phương pháp biểu diễn sự tương
quan giữa các đại lượng bởi một biểu thức chứa ẩn (qua việc lập bảng), trong đó
ẩn số đại diện cho một đại lượng nào đó chưa biết.
Yêu cầu 3 : Lời giải phải đầy đủ và mang tính toàn diện.
Khi giảng dạy cho học sinh giải loại toán này cần phải chú ý đến tính toàn
diện của bài giải. Nghĩa là lời giải của bài toán phải đầy đủ, chính xác, không
thừa cũng không thiếu. Sử dụng hết các dữ kiện của đề bài, không bỏ sót một dữ
kiện, chi tiết nào. Và khi đã lập được hệ phương trình, giải tìm được kết quả thì
cuối cùng các em phải chú ý đối chiếu kết quả với điều kiện của ẩn hoặc có thể
thử lại kết quả để trả lời, kết luận bài toán cho chính xác.
Yêu cầu 4: Lời giải bài toán phải dễ hiểu.
Phải đảm bảo được ba yêu cầu trên, không sai sót, có lập luận, mang tính
toàn diện và phù hợp kiến thức, trình độ của học sinh, đại đa số học sinh hiểu và
làm được.
Yêu cầu 5 : Lời giải phải trình bày logic,chặt chẽ.
Khi lập luận, trình bày lời giải cần phải có thứ tự.Giữa các bước lập luận
biểu diễn sự tương quan giữa các đại lượng phải logic, chặt chẽ với nhau, bước
sau là sự kế thừa của bước trước, bước trước nêu ra nhằm chủ ý cho bước sau
tiếp nối. Có như vậy thì lời giải của bài toán mới được trình bày một cách khoa
học, gây hứng thú, đặc biệt là gây nên sự thích thú đối với giáo viên khi chấm
bài cho học sinh.

7


Giáo viên cần lưu ý năm yêu cầu trên khi trình bày dạng toán này, nhằm
giúp học sinh học tốt, hiểu bài hơn.

1.Kiến thức: Giúp học sinh được củng cố, nắm vững các bước giải bài toán
bằng cách lập hệ phương trình.
2.Kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng tích hợp kiến thức các môn học Vật lí, môn Hóa
học, Hình học, Giáo dục công dân ... để giải thành thành thạo một số bài toán có
nội dung khác nhau bằng cách lập hệ phương trình.
3.Thái độ: Học sinh có ý thức và tích cực và hứng thú giải bài tập, thông qua
đó các em yêu thích hơn môn Toán, cũng như các môn Vật lí, Hóa học, Sinh
học, Địa lí, Giáo dục công dân, môi trường ...
- Học sinh thấy được Toán học có nhiều ứng dụng trong thực tế.
8


II/ CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ
1. Giáo viên: SGK, Màn hình chiếu đề bài tập,
2. Học sinh: Thực hiện tiết học theo hướng dẫn của giáo viên: bảng nhóm, sách
vở…
III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
1. Kiếm tra bài cũ
- Nêu các bước giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình?
HS: Lên bảng trả lời. Sau đó GV cho HS khác bổ sung và nhận xét, cho điểm.

2. Bài mới
Hoạt động của giáo viên- học sinh
Tiết 43:
Hoạt động 1: Bài toán có nội dung Số
học
Bài toán:Tìm hai số tự nhiên biết tổng
của chúng bằng 1006 và nếu lấy số lớn
chia cho số nhỏ thì được thương là 2 và
số dư là 124.


Hoạt động 2: Bài toán có nội dung
Hình học
Giáo viên đưa đề toán lên màn hình:
Bài toán:Tính độ dài hai cạnh góc
vuông của một tam giác vuông, biết
tăng mỗi cạnh lên 3cm thì diện tích tam
giác đó sẽ tăng thêm 36cm2, và nếu một
cạnh giảm đi 2cm, cạnh kia giảm đi
4cm thì diện tích của tam giác giảm đi
26cm2.

Vậy hai số tự nhiên cần tìm là 172
và 294.
2/ Bài toán có nội dung Hình học:
(Bài 31 trang 23 SGK)
Giải
Gọi hai cạnh góc vuông của tam giác
vuông lần lượt là x(cm) và y( cm)
( x > 0,y > 0) thì diện tích tam giác


1
xy ( cm2)
2

Nếu tăng mỗi cạnh lên 3cm thì diện
9



Giáo viên nêu đề toán ở màn hình :
Bài toán:
Hai vật chuyển động dều trên một
đường tròn đường kính 20cm, xuất phát
cùng một lúc, từ cùng một điểm.Nếu
chuyển động cùng chiều thì cứ 20 giây
chúng lại gặp nhau.Tính vận tốc của
mỗi vật?
GV: Yêu cầu học sinh đọc kĩ và phân tích
đề bài.
HS: Đọc kĩ đề ra và tìm hiểu đề.
GV hỏi: Trong bài toán này, đã dùng đến
kiến thức môn nào? HS: Môn Vật lí.
Hỏi:Hãy nêu công thức thức vật lý cần sử
dụng?
HS: Công thức trong chuyển động đều
về quãng đường, vận tốc và thời gian.

1
2

tích tam giác là ( x + 3) ( y + 3) ( cm2)
từ đó ta có phương trình:
1
1
( x + 3) ( y + 3) = xy + 36 (1)
2
2

Nếu một cạnh giảm 2cm,cạnh kia

3/ Bài toán nội dung Vật lí.
( Bài 30- trang 22 SGK)

Giải:
Gọi vận tốc hai vật lần lượt là x,y
(cm/s, x > y > 0).
Khi chuyển động cùng chiều,cứ 20
giây chúng lại gặp nhau, nghĩa là
quãng đường mà vật đi nhanh hơn,
đi được trong 20 giây,hơn quãng
đường vật kia cũng đi trong 20 giây
là đúng 1 vòng (= 20 p cm).Ta có
10


GV hỏi: Hãy chọn ẩn số, đơn vị , điều
kiện của ẩn ?
HS: Chọn ẩn: Gọi x ,y là vận tốc của hai
vật (cm/s, x > y >0).
GV hỏi: Hãy biểu diễn các đại lượng theo
x,y ?
? Trong chuyển động cùng chiều cứ 20
giây chúng lại gặp nhau nghĩa là thế nào?
Hỏi: Dựa vào đâu để thiết lập phương
trình thứ hai?
HS Khi chuyển động cứ 4 giây chúng lại
gặp nhau.
Hỏi: Hãy giải hệ phương trình để tìm kết
quả.
( GV cho học sinh hoạt động theo nhóm

Khi chuyển động ngược chiều, cứ 4
giây chúng lại gặp nhau, nghĩa là
tổng quãng đường hai vật đi được
trong 4 giây đúng 1 vòng.Ta có
phương trình thứ hai:
4(x + y)= 20 p ( 2)
Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình:
ïìï 20( x - y ) = 20p
í
ïïî 4( x + y ) = 20p
ïì x - y = p
Û ïí
Û
ïîï x + y = 5p

ïìï x = 3p
í
ïîï y = 2p ( TMĐK)

Vậy vận tốc của mỗi vật là:
3pcm / s và 2pcm / s

4/ Bài toán có nội dung Hóa học.
( Bài 42 Sách bài tập trang 125)

Giải:
Gọi x là số lít dung dịch loại thứ
nhất, y là số lít dung dịch loại thứ
hai ( lít, 0 < x, y < 100)
Tổng số lít dung dịch cả hai loại là

( Lưu ý kiểm tra với điều kiện)

Hoạt động 5: Bài toán có nội dung
Sinh học GV: Đưa đề bài lên màn hình
(Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt
động theo 4 nhóm)
Bài toán: Có hai tế bào mầm đực và cái
phân bào một số đợt tạo thành các tế
bào sinh tinh và các tế bào sinh
trứng.Các tế bào này đều giảm phân tạo
giao tử thành 384 gồm tinh trùng và
trứng. Xác định số tế bào sinh tinh và
số tế bào sinh trứng, biết số tế bào sinh
trứng nhiều hơn số tế bào sinh tinh là
64 tế bào?
GV: Yêu cầu hs đọc kĩ đề và tìm hiểu đề.
HS: Đọc kĩ đề
Hỏi: Để giải bài toán trên, ta cần vận
dụng kiến thức môn nào? Kiến thức đó là
gì ?
HS: + Môn Sinh học, đó là:
+ Một tế bào sinh trứng sau khi giảm
phân tạo thành 1 trứng
+ Một tế bào sinh tinh sau khi giảm
phân tạo thành 4 tinh trùng
Hỏi: Hãy chọn ẩn và đặt điều kiện cho ẩn
HS: Chọn ẩn số và đặt điều kiện cho ẩn
số.
Hỏi: Hãy biểu diễn các đại lượng chưa
biết khác của bài toán?

4b.
Vì tổng số tinh trùng và trứng là 384
nên ta có PT :
a + 4b = 384
(1)
Vì số tế bào sinh trứng nhiều hơn
số tế bào sinh tinh là 64 tế bào, nên
ta có PT :
a - b = 64
(2)
Từ (1) và (2) ta có hệ PT :
a + 4b = 384

a − b = 64

a = 128

Hỏi: Hãy thiết lập hệ phương trình?
Giải hệ ta được: 
( TM)
b = 64

HS : Thực hiện
Sau đó giáo viên cho học sinh chấm chéo Các giá trị của a và b đều thỏa mãn
của ẩn.
theo nhóm và thông báo điểm
12


GV kết thúc tiết 43

HS : Trả lời
GV : Sau khi tìm được số học sinh của
mỗi lớp, ta làm thế nào tiếp theo?
HS : Làm phép tính để tính số sách của
mỗi lớp.
GV: Cho học sinh trình bày bài và cho
học sinh nhận xét.GV kết luận.
GV:- Em hãy tự đặt ra các bài tập có nội
dung tương tự?
Hoạt động 7. Bài toán nội dung ứng
dụng trong thực tế

Vậy số tế bào sinh trứng là 128, số tế
bào sinh tinh là 64
6/ Bài toán có nội dung về Giáo
dục công dân.

Giải:
Gọi số học sinh của lớp 9A, 9B lần
lượt là x; y học sinh (x, y nguyên
dương)
Vì tổng số học sinh của hai lớp là 46
nên ta có PT:
x + y = 46
(1)
Vì mỗi học sinh lớp 9A ủng hộ 5
quyển, mỗi học sinh lớp 9B ủng hộ 6
quyển và được tất cả 252 quyển
nên ta có PT: 5x + 6y = 252( 2)
Từ (1) và (2) ta có hệ :

hiểu điều đó như thế nào?
HS: Nếu lọai hàng có mức thuế VAT 10%
nghĩa là chưa kể thuế, giá của hàng đó là
100%, kể thêm thuế 10%, vậy tổng cộng
là 110%.

(Bài tập 39 trang 25 SGK)

Giải :
Gọi số tiền phải trả cho mỗi loại
hàng không kể thuế VAT lần lượt là
x và y (triệu đồng)
đk: x, y > 0
Vậy loại hàng thứ nhất, với mức
110
x (triệu đồng)
thuế 10% phải trả
100
Loại hàng thứ hai, với mức thuế 8%
108
y (triệu đồng)
Hỏi: Hãy chọn ẩn số biểu thị các đại phải trả
100
lượng và lập hệ phương trình bài toán
Ta có phương trình:
110
108
HS: Chọn ẩn số và dựa trên các dữ kiện
x+
y = 2,17



Hỏi: Năm người một cỗ thừa ba cỗ, ba
người một cỗ chín người không là thế
nào?
HS: Trả lời
GV: Hãy tìm mối quan hệ để lập hệ
phương trình?
Hoạt động 9: Bài toán có nội dung Thể
Dục thể thao:
Bài toán: Số điểm trung bình của một
vận động viên bắn súng sau 100 lần
bắn là 8,69 điểm.Kết quả cụ thể được
ghi trong bảng sau, trong đó có hai ô bị
mờ không đọc được( đánh dấu *). Hãy
tìm lại các số trong hai ô đó ?
Số điểm
của mỗi lần
bắn
Số lần bắn

10
25

9
42

8
*



 x = 14(tm)
⇔
 y = 4(tm)

Hỏi : Làm thế nào để tìm được hai ô bị
mờ ?
GV : Phát phiếu học tập cho học sinh.
HS: Thảo luận nhóm và sau đó điền kết
quả vào ô trống.
Sau đó GV cho học sinh chấm chéo.

Vậy có 14 lần bắn ứng với số điểm 8
và 4 lần bắn ứng với số điểm 6.

3. Củng cố
- Nhắc lại các bước giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình?
- Yêu cầu học sinh xem lại các bài tập đã giải.
-Trong tiết học đã tích hợp được những môn học nào ?
- Rút ra ý nghĩa thực tiễn và bài học cho bản thân thông qua các nội dung bài
toán.
4. Hướng dẫn học ở nhà :
- Hãy tự đặt ra một bài tập có nội dung sử dụng kiến thức liên môn trong giải bài
toán bằng cách lập hệ phương trình hoặc từ một hệ phương trình có sẵn hãy đặt
ra các bài tập có vận dụng kiến thức các môn học?
ìï x + y = 46
Hướng dẫn : Từ hệ phương trình ïíï

ïî 5 x + 6 y = 252


Qua thực tế và khảo kết quả trong giảng dạy, tôi đã tìm ra các phương pháp và
thực hiện nghiên cứu đối với học sinh khối 9 trong năm học 2016 - 2017.Nhận
thấy học sinh đã có chuyển biến rất lớn trong việc giải toán bằng cách lập hệ
phương trình, có lòng say mê trong học tập, siêng năng tìm tòi, nhớ lại các kiến
thức của các môn khoa học tự nhiên khác, biết vận dụng kiến thức các môn
trong giải Toán.Bên cạnh đó còn giúp học sinh nhận thấy được cần có được tinh
thần tương thân tương ái trong cuộc sống. Kết quả khảo sát sau khi đã áp dụng
đề tài thông qua bài kiểm tra 45 phút thu được kết như sau :
Các mức độ thực hiện
Số
Giỏi
Khá
TB
Y-K
Lớp
HS
SL
% SL % SL
%
SL TB trở Tỉ lệ
%
lên
tăng
33,3 %
9A
24
08 33,3 10 41,7 06 25,0
0 100%
45,5 %
9B

học sinh trong các giờ học, hướng dẫn học sinh cách học bài, làm bài và cách
nghiên cứu trước bài mới ở nhà. Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, tìm ra
những chỗ học sinh đã bị hổng để phụ đạo thông qua các buổi bồi dưỡng. Điều
đó đòi hỏi người giáo viên phải có lòng yêu nghề, yêu thương học sinh và phải
có một lượng kiến thức vững chắc, có phương pháp truyền thụ phù hợp với từng
đối tượng học sinh.
Việc áp dụng đề tài này vào giảng dạy đã góp phần nâng cao chất lượng môn
Toán ở trường THCS Bắc Sơn - Bỉm Sơn.
Đề tài còn là một tư liệu để các bạn đồng nghiệp trong tổ tham khảo, có thể
là một trong những gợi ý giúp các giáo viên khác áp dụng vào bộ môn mình
giảng dạy.Từ những thành công bước đầu, đề tài này cũng góp phần nâng cao
chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
2. KIẾN NGHỊ
Dạy học theo chủ đề “tích hợp” là chủ đề mới mẻ. Nó có nhiều ưu điểm
nhưng chắc chắn không tránh được nhược điểm.Giáo viên mất nhiều thời gian
nghiên cứu trong khi chưa có tài liệu hướng dẫn, tham khảo.Bên cạnh đó giáo
viên phải ứng dụng công nghệ thông tin tốt, tra cứu và tự học hỏi với đồng
nghiệp qua mạng INTENET...
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc giảng dạy giải bài
toán bằng cách lập hệ phương trình ở chương trình Đại số lớp 9.Cùng với sự
giúp đỡ tận tình của Ban Giám Hiệu nhà trường, của tổ chuyên môn, của các
đồng nghiệp và học sinh tôi đã hoàn thành đề tài :

17


“Vận dụng kiến thức liên môn cho học sinh lớp 9- trường THCS Bắc SơnBỉm Sơn thông qua giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình - môn Đại số
9”.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng chắc chắn rằng vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi
mong có được những ý kiến phê bình, góp ý của cấp trên và đồng nghiệp để đề

2.Thực trạng trước khi áp dụng đề tài
2.1 Thực trạng tình hình
2.2 Những thuận lợi, khó khăn
3. Giải pháp đã xử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1 Giải pháp
3.2 Giáo án minh họa
4.Hiệu quả của đề tài
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

Trang
1
1
2
2
2
2
2
2
3
3
3
3
4
4
5
6
6
8



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status