Cách tổ chức tiết ôn tập môn vật lí lớp 9 đạt hiệu quả bằng phương pháp dạy học theo hợp đồng - Pdf 44

I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
Đối với môn Vật lí ở bậc THCS nói chung và môn Vật lí ở lớp 9 nói riêng
trong các kiểu bài dạy trên lớp thì kiểu bài dạy tiết ôn tập trước khi kiểm tra một
tiết hoặc kiểm tra cuối học kì, kiểm tra cuối năm học là một tiết dạy mà đòi hỏi
người giáo viên phải trăn trở nhiều hơn bởi các lí do sau:
Thứ nhất: Ở các tiết dạy này trong sách giáo khoa không có hệ thống câu
hỏi và bài tập có sẵn làm tài liệu để giáo viên và học sinh tham khảo. Do đó giáo
viên phải tự xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm, hệ thống câu hỏi, bài tập
truyển tải đến học sinh để đảm bảo được chuẩn kiến thức kĩ năng của tiết dạy.
Thứ hai: Sau tiết ôn tập ngoài nhiệm vụ nắm vững và sâu chuỗi các kiến
thức trong các bài đã học thì học sinh phải có kĩ năng, kiến thức cơ bản cần thiết
để trình bày vào bài kiểm tra một tiết cũng như bài kiểm tra cuối học kì. Do đó
đòi hỏi kĩ năng làm bài, trình bày bài phải đảm bảo đạt yêu cầu đề ra.
Thứ ba: Thời lượng dành cho tiết ôn tập cũng chỉ có 45 phút, lượng kiến
thức phải ôn tập khá nhiều, đối tượng học sinh ở các lớp không đồng đều, học
lực ở các mức độ khác nhau. Thái độ học tập của học sinh nhiều em tính tự giác
chưa cao.
Do đó nếu giáo viên không có sự đầu tư một cách thỏa đáng và tìm ra
phương pháp tổ chức tiết ôn tập sáng tạo, hợp lí thì tiết ôn tập thường nhàm
chán, căng thẳng, chỉ có một số học sinh học tốt, tự giác học sẽ tích cực tham gia
ôn tập và làm được bài tập giáo viên đưa ra, còn lại số học sinh có lực học trung
bình, yếu hơn thì ít được hoạt động và ghi chép lại không đầy đủ dẫn đến kết
quả thể hiện trong bài kiểm tra thường không đạt yêu cầu.
Bắt đầu từ năm học 2012 - 2013. Bộ giáo dục đã triển khai tập huấn các
phương pháp dạy học mới nhằm phát huy năng lực độc lập, sáng tạo của học
sinh trong đó có phương pháp dạy học theo hợp đồng, qua nhiều năm nghiên
cứu bản thân tôi thấy đây là một phương pháp hay, dễ thực hiện, giáo viên có thể
sử dụng thêm một số phương pháp và kĩ thuật dạy học khác nữa áp dụng vào
dạy tiết ôn tập để khắc phục những điểm hạn chế nêu trên. Trong năm học 2016
- 2017 bản thân tôi đã áp dụng vào dạy một số tiết ôn tập và nhận thấy giờ dạy

vụ trong một khoảng thời gian xác định.
Mỗi học sinh có thể thực hiện nội dung học tập theo khả năng của mình: Học
sinh có thể quyết định nhiệm vụ nào cần thực hiện trước và có thể dành bao
nhiêu thời gian cho nhiệm vụ đó. Học sinh phải tự giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong quá trình học tập với sự hỗ trợ của giáo viên hoặc của học sinh khác (nếu
cần).
Học theo hợp đồng là một hình thức dạy học mang tính cá thể hóa, tạo điều
kiện phân hóa trình độ của học sinh khuyến khích học sinh phát triển tối đa năng
lực học tập và tự kiểm soát, tự đánh giá kết quả học tập của mình. Phương pháp
dạy học này khác với việc dạy học mang tính đồng loạt cho toàn thể lớp học,
cho phép giáo viên có thể quản lí kiểm soát đánh giá được năng lực học tập của
mỗi học sinh. Phương pháp này tạo cơ hội học tập cho tất cả học sinh trong lớp
theo trình độ, nhịp độ và theo năng lực.
Giáo viên có thể chắc chắn rằng mỗi học sinh đã kí hợp đồng tức là đã nhận
một trách nhiệm rõ ràng và sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong hợp đồng. [ 1]
Khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng, tuy mất nhiều
thời gian chuẩn bị và nghiên cứu kĩ bài giảng, nhưng khi tiến hành thì đơn giản
và đạt hiệu quả cao. Phương pháp dạy học theo hợp đồng là một cách thay thế
việc giảng bài của giáo viên cho toàn thể lớp, nhưng giáo viên vẫn theo dõi và
quản lí được hoạt động học tập học sinh và có thời gian đáp ứng được năng lực
của từng học sinh hoặc nhóm học sinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tất cả
học sinh có thể hệ thống hóa được kiến thức các bài mà mình đang ôn tập và
cảm thấy hứng thú, say mê khi tự mình tìm được hướng giải một bài tập hoặc rút
được những kinh nghiệm bổ ích, tránh được những sai lầm thường gặp trong khi
làm bài được rèn luyện cách trình bày bài và đưa ra được sản phẩm của chính
mình, được thầy cô hoặc các bạn ghi nhận.
Trong trang này mục II.1: Được tham khảo từ TLTK số 1.

2


Trung bình

Yếu

Kém

TSHS
Lớp 9

TL

%

TL

%

TL

%

TL

%

65

10

15.4

phải phân loại được đối tượng học sinh, từ đó mới đưa ra được phương pháp
giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng và mục đích nâng cao chất lượng bộ môn.
Việc phân loại đối tượng học sinh phải tùy vào môn học chứ không thể lấy
kết quả đánh giá chung cả năm của học sinh để làm cơ sở cho môn mình dạy.
3


Nếu là giáo viên đã dạy bộ môn liên tục từ lớp dưới lên thì việc phân loại đối
tượng học sinh rất dễ dàng, nếu giáo viên mới nhận lớp thì cần phải qua một thời
gian dạy một số tiết và phải làm bài kiểm tra khảo sát nhanh ít nhất 2 bài để
phân loại đối tượng học sinh, có như vậy thì mới phân chia sát đối tượng vì việc
này sẽ liên quan đến việc hoàn thành công việc được giao trong các tiết dạy của
mình.
Qui định thứ tự chỗ ngồi cho học sinh như sau:
Do đặc trưng bộ môn thường xuyên phải hoạt động nhóm. Vì vậy căn cứ vào
việc phân loại đối tượng học sinh giáo viên sắp xếp cho học sinh có học lực khá
giỏi, ngồi cùng bàn với học sinh có học lực trung bình, yếu. Mục đích của việc
phân chia chỗ ngồi theo học lực này để khi học tiết lí thuyết, tiết thực hành thì
các em có thể hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, còn đối với tiết ôn tập theo cách dạy này
khi thực hiện hợp đồng các em ngồi cùng bàn có thể hỗ trợ, học tập lẫn nhau để
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tóm lại để học theo phương pháp này việc phân loại học sinh và quy định
chỗ ngồi cho học sinh là vấn đề quan trọng góp phần cho sự thành công của tiết
dạy.
3.2. Giới thiệu, hướng dẫn học sinh phương pháp “Học theo hợp đồng”.
a. Giới thiệu phương pháp học theo hợp đồng.
Học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó mỗi học sinh (hoặc
mỗi nhóm nhỏ) làm việc với một gói các nhiệm vụ khác nhau (bao gồm nhiệm
vụ bắt buộc và nhiệm vụ tự chọn) trong một khoảng thời gian nhất định (không
nhất thiết là trong một tiết học).

Trả lời: .............................................................................................................
Nhiệm vụ 2: Ghi nội dung câu hỏi (bài tập)
Trả lời: ...............................................................................................................
Nhiệm vụ 3: Ghi nội dung câu hỏi (bài tập)
Trả lời: ...............................................................................................................
II. Nhiệm vụ tự chọn
Nhiệm vụ 4: Ghi nội dung câu hỏi (bài tập)
Trả lời: ...............................................................................................................
Nhiệm vụ 5: Ghi nội dung câu hỏi (bài tập)
Trả lời: .................................................................................................................
Ví dụ 2: Mẫu hợp đồng thường dùng.
Mẫu:

HỢP ĐỒNG HỌC TẬP MÔN VẬT LÍ 9 ( kèm theo phiếu học tập)
Họ và tên học sinh: ........................................Lớp: ...........
I. Phần nhiệm vụ
Lựa
Hoàn
Chưa
Cá nhân
Có sự trợ
bắt buộc
chọn
thành
hoàn
tự làm.
giúp
thành

Nhiệm vụ 1

mình có thể hoàn thành được các nhiệm vụ nào trong hợp đồng thì đánh dấu X
lựa chọn vào cột có nhiệm vụ tương ứng và kí vào phần cuối của hợp đồng.
Đây là một cách làm mới mục đích để gây hứng thú học tập cho học sinh
việc làm này đòi hỏi học sinh làm việc độc lập, có tinh thần trách nhiệm hơn
trong khi ôn tập vì nếu học sinh không tự giác hoàn thành các nhiệm vụ trong
phiếu học tập sẽ không thể có kết quả để ghi vào hợp đồng nạp lại cho giáo viên
sau tiết học.
đ. Hướng dẫn học sinh cách hoàn thành hợp đồng và thanh lí hợp
đồng sau tiết học.
+ Hướng dẫn học sinh cách hoàn thành hợp đồng.
Nội dung bản hợp đồng là nội dung các nhiệm vụ có trong phiếu học tập
học sinh đã chuẩn bị sẵn ở nhà. Nhiệm vụ nào chưa hoàn thành sẽ được tiếp tục
hoàn thành trong tiết ôn tập bằng cách học sinh có thể trao đổi với bạn (cùng
bàn), nhận sự gợi ý từ thầy cô giáo hoặc nhận trợ giúp từ phiếu hỗ trợ, khi thông
báo hết giờ yêu cầu học sinh rà soát lại các nhiệm vụ trong bản hợp đồng và các
nhiệm vụ đã hoàn thành trong phiếu học tập và đánh dấu X vào các ô tương ứng
trong hợp đồng.
+ Hướng dẫn học sinh cách thanh lí hợp đồng.
Cách 1: Giáo viên trình chiếu nội dung câu hỏi (bài tập) nhiệm vụ 1 trong
phiếu học tập. Yêu cầu một học sinh trả lời, các học sinh khác đối chiếu vào kết
quả trong phiếu học tập của mình để đưa ra nhận xét đúng sai, sau đó giáo viên
trình chiếu đáp án để học sinh kiểm tra bài làm của mình để tự mình điều chỉnh
bổ sung các đơn vị kiến thức còn thiếu trong phiếu học tập.
Làm hoàn toàn tương tự đối với các nhiệm vụ còn lại cho đến khi kết
thúc tất cả các nhiệm vụ trong phiếu học tập. Trong quá trình đối chiếu đáp án
giáo viên có thể dùng hệ thống câu hỏi vấn đáp để khắc sâu các kiến thức cần
nhớ, hoặc các điểm cần lưu ý. (Nếu đối tượng học sinh đồng đều có thể yêu cầu
học sinh đánh giá bằng cách đổi chéo bài cho nhau).
Cuối cùng giáo viên chốt các kiến thức của bài ôn tập, nhận xét ý thức
chuẩn bị bài, tinh thần thái độ học tập của lớp trong tiết ôn tập và dặn dò chuẩn

tập trong sách bài tập hoặc câu hỏi trong sách giáo khoa nhưng cần chỉ rõ tên bài
số trang để học sinh tiện theo dõi trong quá trình chuẩn bị bài hoặc giáo viên có
thể lựa chọn hệ thống câu hỏi hoặc bài tập tương tự để giao nhiệm vụ cho học
sinh thông qua phiếu bài tập, căn cứ vào đối tượng học sinh đã phân loại để soạn
các câu hỏi và bài tập trong phiếu học tập phải phù hợp với năng lực học sinh.
Ví dụ: Trong phiếu học tập phải có câu hỏi dành cho học sinh Khá, Giỏi
tức là ngoài phần bắt buộc thì phần tự chọn sẽ có câu hỏi và bài tập nâng cao.
+ Hướng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ trong phiếu học tập ở
nhà.
Đây là tiết ôn tập nên toàn bộ kiến thức đã được học và giáo viên hệ thống
lại bằng hệ thống câu hỏi và bài tập trong phiếu học tập. Trước tiết ôn tập giáo
viên phát phiếu cho học sinh về nhà chuẩn bị xem đây là bài tập về nhà. Vì vậy
yêu cầu học sinh thực hiện các nhiệm vụ trong phiếu học tập (nghĩa là trả lời các
câu hỏi và bài tập trong phiếu học tập) trước khi đến lớp, nếu câu hỏi, bài tập
nào chưa giải được thì sẽ tiếp tục hoàn thành trong tiết ôn tập sắp tới dưới sự trợ
giúp của giáo viên hoặc của các bạn cùng nhóm hoặc dựa vào phiếu hỗ trợ học
tập.
c. Thiết kế nội dung bản hợp đồng theo hệ thống câu hỏi, bài tập
trong phiếu học tập.
7


Từ hệ thống câu hỏi và bài tập ra về nhà trong phiếu học tập cho học sinh
chuẩn bị trước, giáo viên xây dựng hoạt động học tập nội dung gồm có nhiệm vụ
bắt buộc và tự chọn, thiết kế bản hợp đồng để giao cho các đối tượng học sinh
trong tiết ôn tập. Vì hệ thống câu hỏi và bài tập dự kiến sẽ thực hiện trong tiết ôn
tập đã giao cho học sinh phải hoàn thành trước. Do đó khi thiết kế bản hợp đồng
chỉ cần ghi số câu hỏi hoặc số bài tập vào hợp đồng, không nhất thiết phải ghi lại
nội dung câu hỏi.
Cấu trúc bản hợp đồng gồm: Các nhiệm vụ bắt buộc và các nhiệm vụ tự

xin phiếu hỗ trợ học tập từ giáo viên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, giáo viên quan sát hướng dẫn tất cả
các đối tượng học sinh làm bài, kịp thời hỗ trợ khi các em gặp khó khăn.
Bước 3: Tổ chức nghiệm thu, thanh lý hợp đồng.

8


Giáo viên trình chiếu đáp án của các nhiệm vụ trong hợp đồng thông qua
đáp án học sinh có thể tự sửa lỗi, tự đánh giá qua việc đối chiếu kết quả với đáp
án trên màn hình hoặc giáo viên có thể yêu cầu học sinh đổi chéo bài 2 bạn cùng
bàn để sửa lỗi cho nhau sau khi hoàn thành nạp lại bản hợp đồng.
Giáo viên nghiệm thu tại lớp và đưa ra nhận xét về kết quả thực hiện hợp
đồng của học sinh. Tuyên dương, khen ngợi những học sinh hoàn thành các
nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn theo đúng hợp đồng mà không cần phải sự trợ
giúp.
Nếu học sinh nào chưa hoàn thành hợp đồng, hoặc còn phải trợ giúp
nhiều giáo viên động viên và tạo điều kiện để học sinh hoàn thành nhiệm vụ có
thể cho các em về nhà thực hiện tiếp. Dặn dò ôn tập để chuẩn bị kiểm tra một
tiết.
3.5. Ví dụ bài soạn: Tiết 54: ÔN TẬP (HỌC THEO HỢP ĐỒNG)
A. Phần chuẩn bị của giáo viên.
a. Chuẩn bị nội dung phiếu học tập:
PHIẾU HỌC TẬP THEO HỢP ĐỒNG MÔN VẬT LÍ 9 (TIẾT 54)
Họ và tên học sinh: ........................................Lớp: ...........
I. NHIỆM VỤ BẮT BUỘC
Nhiệm vụ 1: Dòng điện cảm ứng là gì? Hiện tượng cảm ứng điện từ là gì?
Nêu điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng.
Trả lời:…………………………………………………………………
Nhiệm vụ 2: Dòng điện xoay chiều là gì? Nêu các cách tạo ra dòng điện

1. Hãy dựng ảnh A’B’ của AB tạo bởi thấu kính.
2. Tính khoảng cách d’ từ ảnh đến thấu kính theo d và f
3. Tính chiều cao h’ của ảnh theo h.
Trả lời:………………………………………………………………
II. NHIỆM VỤ TỰ CHỌN.
Nhiệm vụ 8: Cho vật sáng AB = h đặt trước một thấu kính phân kì có
tiêu cự f, AB vuông góc trục chính, A nằm trên trục chính và cách thấu kính một
khoảng là d. (d =f)
1. Hãy dựng ảnh A’B’ của AB qua thấu kính.
2. Tính độ cao h’ của ảnh theo h và khoảng cách d’ từ ảnh đến thấu kính
theo f.
Trả lời:…………………………………………………………………
................................................................................................................................
Nhiệm vụ 9: Đặt vật sáng AB= 3cm trước một thấu kính có tiêu cự f =
20cm, AB vuông góc trục chính, A nằm trên trục chính và cách thấu kính một
khoảng OA= 30cm.
1. Hãy dựng ảnh A’B’ của AB tạo bởi thấu kính.
2. Tính khoảng cách từ ảnh đến thấu kính.
3. Tính chiều cao của ảnh A’B’.
Trả lời:…………………………………………………………………
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Nhiệm vụ 10: Cho hình vẽ biết ∆ là trục chính của một thấu kính, AB là
vật sáng, A’B’ là ảnh của AB.

a. A’B’ là ảnh thật hay ảnh ảo? Vì sao? Xác định loại thấu kính.
b. Bằng cách vẽ, xác định quang tâm O, vị trí đặt thấu kính, tiêu điểm F, F;
của thấu kính.
c. Cho A’B’ = 1,5AB. Lập công thức liên hệ giữa d và f
Trả lời:……………………………………………………………...............

Nhiệm vụ 10
Học sinh

Giáo viên

(Kí tên)

(kí tên)

+ Chuẩn bị nội dung phiếu hỗ trợ học tập.
Phiếu hỗ trợ :

Nhiệm vụ 6
U1

n1

a. Sử dụng công thức: U = n ; b. Đổi P= 300kW = 300 000W.
2
2
Tính điện trở của dây: R = 2.L.r = 2.200.0,2 = 80Ω (đường dây dẫn gồm hai
dây) ; Áp dụng công thức : Php =
Phiếu hỗ trợ

P 2 .R
=
U2

Nhiệm vụ 7


- Nối B với B cắt trục chính tại O, ta có O là quang tâm, qua O dựng thấu
kính vuông góc với chục chính, ...
+ Chuẩn bị Đáp án cho các nhiệm vụ trong hợp đồng học tập.
Đáp án nhiệm vụ 1:
- Khi số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây biến thiên, trong cuộn
dây xuất hiện dòng điện. Dòng điện đó gọi là dòng điện cảm ứng.
- Hiện tượng xuất hiện dòng điện cảm ứng gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ.
- ĐKXH dòng điện cảm ứng: Số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn
dây biến thiên.
Đáp án nhiệm vụ 2:
- Dòng điện cảm ứng trong cuộn dây dẫn kín luân phiên đổi chiều gọi là dòng
điện xoay chiều.

12


- Khi cho cuộn dây dẫn kín quay trong từ trường của nam châm hay cho nam
châm quay trước cuộn dây dẫn thì trong cuộn dây xuất hiện dòng điện cảm ứng
xoay chiều
- Một máy phát điện xoay chiều có 2 bộ phận chính là nam châm và cuộn dây
dẫn, một trong hai bộ phận đứng yên gọi là Stato, bộ phận còn lại quay gọi là rô
to.
- Tác dụng của dòng điện xoay chiều: Tác dụng nhiệt, tác dụng phát sáng, tác
dụng từ, tác dụng sinh lí…
Đáp án nhiệm vụ 3:
- Cấu tạo máy biến thế: Có hai bộ phận chính lõi sắt hay thép pha Silic gồm
nhiều lá thép mỏng ghép cách điện với nhau chung cho 2 cuộn dây, hai cuộn
dây có số vòng khác nhau đặt cách điện với nhau.
- Hoạt động: Khi đặt vào 2 đầu cuộn sơ cấp một hiệu điện thế xoay chiều thì ở
hai đầu cuộn thứ cấp xuất hiện một hiệu điện thế xoay chiều.

Đặc điểm ảnh của một vật tạo bởi thấu kính phân kì
+ Vật sáng ở mọi vị trí trước thấu kính luôn cho ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn
vật.
+ Vật đặt rất xa thấu kính cho ảnh ảo cách thấu kính một khoảng bằng tiêu cự.
Đáp án nhiệm vụ 6:
U

n

1
1
a. Số vòng dây của cuộn thứ cấp: U = n
2
2

Suy ra: n2 = =

2000.30000
= 24000 (vòng)
2500

b. Đổi P= 300kW = 300 000W. Điện trở của dây: R = 2.200.0,2 = 80 (Ω)
Công suất hao phí: Php =

P 2 .R
=
U2

3000002.80
= 8000 (W ).

/

F OI nên

A / B / OA / − f
A / B / OA / − f
=

=
OI
f
AB
f

OA / OA /
1
1
1
=
−1 ⇒
= −
/
OA
f
f OA
OA

hay

(2)

A’B’ = 1/2 AB hay h’ = 1/2h mà AA’= A’O = 1/2.f hay d’ = 1/2f
Đáp án nhiệm vụ 9:

1. Cách dựng ảnh A’B’
+ Từ B kẻ tia tới đi qua quang tâm cho tia ló truyền thẳng.
+ Từ B kẻ tia tới song song với trục chính cho tia ló đi qua tiêu điểm F’.
+ Hai tia ló giao nhau tại điểm B’ → B’ là ảnh của điểm B.
+ Từ B’ hạ vuông góc với trục chính tại A’ → A’ là ảnh của điểm A.
2. Khoảng cách từ ảnh đến thấu kính.
OA/B/ đồng dạng với

OAB nên

F/A/B/ đồng dạng với
Từ (1) và (2) có

A / B / OA /
=
(1)
AB
OA

F/OI nên

A / B / OA / − f
A / B / OA / − f
=

=
OI

Thay số tìm h’ = 6 (cm).

Đáp án nhiệm vụ 10:
a. A B là ảnh ảo. Vì A/B/ cùng chiều với vật và lớn hơn vật. Đây là thấu kính
hội tụ.
/

/

b. Xác định quang tâm O, vị trí đặt thấu kính, tiêu điểm F, F; của thấu kính
- Nối B/B cắt trục chính tại O, suy ra O là quang tâm.
- Vẽ thấu kính vuông góc với trục chính tại O .
- Vẽ tia tới BI song song với trục chính. Nối B ’I kéo dài cắt trục chính tại F ’ .
Lấy F đối xứng với F’ qua O được tiêu điểm F.
15


c. Lập công thức liên hệ giữa d và f
A / B / OA /
=
OA B đồng dạng với
OAB nên
(1)
AB
OA
A/ B /
f + OA /
A/ B /
f + OA /
=

AB

OA

AB

Thay (4) vào (3) ta có f = 1.5.OA = 1.5.d .
B. Bài soạn cụ thể.
I. Mục tiêu bài học.
+ Kiến thức:
- Học sinh nhận biết được hiện tượng cảm ứng điện từ, dòng điện xoay chiều,
máy phát điện xoay chiều, các tác dụng của dòng điện xoay chiều, máy biến thế.
- Nhận biết được hiện tượng khúc xạ ánh sáng, xác định được tia tới, tia ló
- Nhận biết được đặc điểm của TKHT, TKPK.
- Nêu được các đặc điểm về ảnh của một vật tạo bởi TKHT, TKPK.
- Dựng được ảnh của một vật tạo bởi TKHT, TKPK bằng cách sử dụng các tia
đặc biệt.
- Vận dụng được kiến thức đã học để giải quyết một số bài tập về máy biến thế,
tính được điện năng hao phí điện trên đường dây tải điện.
- Vận dụng kiến thức hình học để giải được một số bài toán thấu kính đơn giản.
+ Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, kĩ năng hợp tác (hợp tác
giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên), kĩ năng tự đánh giá, kĩ năng
đánh giá đồng đẳng...
+ Thái độ: Chuẩn bị bài đầy đủ, tự giác học tập, tinh thần hợp tác nhóm
nhỏ.
II. Chuẩn bị:
+ Đối với giáo viên:
- Soạn hệ thống câu hỏi, bài tập vào phiếu học tập, phô tô phiếu học tập phát cho
học sinh trước ngày ôn tập.
- Chuẩn bị bản hợp đồng, phiếu hỗ trợ theo các nhiệm vụ trong phiếu học tập.

tập.

- Học sinh nhận hợp đồng
nghiên cứu nội dung của
hợp đồng, lựa chọn các
nhiệm vụ tự chọn sẽ hoàn
thành.
- GV hỏi còn em nào chưa rõ các nhiệm vụ trong - Học sinh đặt câu hỏi các
hợp đồng không? Nếu đã rõ yêu cầu các em kí tên vấn đề còn chưa rõ.
vào dưới bản hợp đồng và tiến hành thực hiện.
- Học sinh kí hợp đồng.
Hoạt động 2: (25 phút) Tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp tục thực
hiện các nhiệm vụ trong phiếu học tập và hoàn thành hợp đồng.
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
- GV thông báo: Thời gian các em tiếp tục hoàn
thành hợp đồng là 25 phút, các nhiệm vụ đã hoàn
thành ở nhà các em chỉ việc đánh dấu vào các ô
tương ứng trong hợp đồng, nhiệm vụ nào chưa
hoàn thành các em sẽ tiếp tục thực hiện.
- Trên bàn có các phiếu hỗ trợ cho nhiệm vụ - Học sinh cả lớp tiếp tục
6,7,8,9,10. Nếu em nào có nhu cầu trợ giúp thì lên hoàn thành hợp đồng.
lấy, có thể trao đổi với bạn cùng bàn, hoặc hỏi
giáo viên để hoàn thành các nhiệm vụ của mình.
- GV quan sát tất cả các đối tượng học sinh và trợ
giúp những học sinh gặp khó khăn trong khi thực
hiện nhiệm vụ.
GV thông báo hết thời gian thực hiện hợp đồng.
- Hoc sinh hoàn thành hợp
đồng.

Dặn dò:
Ôn tập các kiến thức đã học.
Chuẩn bị cho tiết học sau: Kiểm tra một tiết.
3. Hiệu quả Sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua nghiên cứu phương pháp dạy học theo hợp đồng bản thân tôi thấy tổ
chức tiết ôn tập theo phương pháp này có thể khắc phục được một số điểm hạn
chế của phương pháp ôn tập thông thường cụ thể:
Thứ nhất: Học sinh sẽ phải dựa vào hệ thống câu hỏi, bài tập giáo viên giao
về nhà trước giờ ôn tập để tự mình dựa vào kiến thức đã học, sách giáo
khoa...trả lời các câu hỏi, bài tập ra về nhà. Bắt buộc học sinh phải hoàn thành
nghĩa là học sinh đã tự mình hệ thống lại toàn bộ các kiến thức đã học một lần
trước giờ ôn tập.
Thứ hai: Trong giờ ôn tập tất cả học sinh lại tự mình phải độc lập suy nghĩ và
hoạt động tích cực để hoàn thành hợp đồng dựa trên các câu hỏi và bài tập giáo
viên ra về nhà để chuẩn bị, tùy theo năng lực của bản thân và trong khoảng thời
gian nhất định học sinh phải hoàn thành một số nhiệm vụ trong bản hợp đồng
nếu chưa hoàn thành.
Thứ ba: Mỗi học sinh tự mình được rèn luyện khả năng trình bày lời giải cho
các câu trả lời hoặc bài tập theo hướng dẫn của giáo viên hoặc sự trợ giúp của
học sinh khác có học lực tốt hơn. Trong giờ ôn tập thay vì việc chỉ ngồi nghe các
bạn khác trả lời hoặc chép lại các bài tập các bạn lên bảng chữa, học sinh phải
tích cực hoàn thành các câu hỏi và các bài tập nếu không làm sẽ vi phạm hợp
đồng.
Thứ tư: Học sinh sẽ tự mình kiểm tra kết quả thông qua đáp án của giáo viên
trình chiếu trong khi thanh lí hợp đồng và tự phát hiện ra những lỗi sai để khắc
18


phục. Từ đó độ ghi nhớ các câu hỏi lí thuyết hoặc các công thức để làm bài tập

15 23
40
61.5 9
13.8 1
1,5
0
0
27.
55
65
18 6
38
58.5 6
9.2
3
4.6
0
0
III. Kết luận, kiến nghị.
1. Kết luận.
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là nâng cao hiệu quả các
tiết dạy trên lớp giúp các em học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, độc
lập. Vì vậy nếu giáo viên có sự đầu tư, sáng tạo tìm ra các điều kiện, cách thức
tổ chức giảng dạy phù hợp để gây hứng thú cho học sinh thì hiệu quả tiết dạy sẽ
được nâng lên.
2. Kiến nghị.
Đề nghị nhà trường tạo điều kiện mua sắm bổ sung thêm đồ dùng dạy học để
phục vụ cho các tiết dạy môn Vật lí được tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status