Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần tổng công ty may đáp cầu - Pdf 44

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và tính mới của đề tài
Công nghệ dệt may thƣờng đƣợc gắn với giai đoạn phát triển ban đầu
của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa ở
nhiều nƣớc. Ngành dệt may có khả năng tạo nhiều việc làm cho ngƣời lao
động, tăng thu lợi nhuận để tích lũy, làm tiền đề phát triển cho các ngành
công nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình chính trị
xã hội. Vai trò của ngành dệt may đặc biệt to lớn đối với kinh tế của nhiều
quốc gia trong điều kiện buôn bán hàng hóa quốc tế. Xuất khẩu hàng dệt may
đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bị, hiện đại hóa sản
xuất, làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh. Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong
lịch sử phát triển kinh tế của các nƣớc nhƣ: Nhật, Trung Quốc, Anh, Nam Á
và Đông Nam Á.
Tại Việt Nam, trong tƣơng quan chung của các ngành kinh tế, dệt may
vẫn luôn là lĩnh vực mũi nhọn với tốc độ tăng trƣởng nhanh và mạnh. Ngành
dệt may không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với mục tiêu phục hồi đà tăng
trƣởng kinh tế mà còn đảm bảo cân bằng cán cân thƣơng mại của Việt Nam.
Theo các chuyên gia kinh tế, việc tham gia vào sân chơi WTO đã tạo ra
những tác động tích cực cho dệt may Việt Nam và rõ nét nhất là tăng trƣởng
xuất khẩu và tăng thị phần xuất khẩu, đƣa Việt Nam trở thành một trong
những quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới.
Theo Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 23/11/2013 đƣa tin: Hiệp hội dệt
may Việt Nam (Vitas) đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu từ 25 đến 27 tỷ
USD năm 2015, từ năm 2017 -2020, dệt may Việt Nam sẽ phấn đấu đứng thứ
hai, thứ ba trong top các nƣớc xuất khẩu dệt may lớn nhất trên toàn thế giới.
Đồng thời, khẳng định đến năm 2020 dệt may Việt Nam sẽ có từ 5-7% các
thƣơng hiệu lớn hội nhập với thị trƣờng thế giới. (Nguồn: Định hƣớng hoạt
động của VITAS năm 2014).

1


2


hiệu quả giúp doanh nghiệp chống đỡ đƣợc những tổn thất, rủi ro, biến động
thị trƣờng, khủng hoảng tài chính… trong quá trình hoạt động.
Bên cạnh đó, sử dụng vốn hiệu quả nâng cao đáng kể việc gia tăng lợi
nhuận. Nhận biết đƣợc vai trò của vốn trong kinh doanh nhƣng để có đƣợc
lƣợng vốn cần thiết thì doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo lập hữu hiệu
và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và hợp lý. Mỗi
doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi thế riêng và những hạn
chế nhất định. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải tự đánh giá, phân tích
những ƣu và nhƣợc điểm của mình để tìm ra những phƣơng thức sử dụng vốn
hiệu quả nhất phát huy khả năng tiềm ẩn và hạn chế nhƣợc điểm của doanh
nghiệp mình. Bởi vậy, em chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tổng công ty May Đáp
Cầu” để dựa trên những số liệu, bằng chứng thực tế thu thập đƣợc có thể tìm
ra những biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công
ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu. Công ty Cổ phần Tổng Công ty May
Đáp Cầu là công ty có vốn nhỏ, doanh thu liên tục tăng nhƣng không tăng
mạnh, công ty thƣờng xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Đề tài đặt ra những mục tiêu cần nghiên cứu sau:
Tổng hợp lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Đánh giá khái quát tình hình sử dụng vốn của Công ty, từ đó tìm ra
những thành công, hạn chế trong việc sử dụng vốn của Công ty.
Đề ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để Công ty đạt
đƣợc hiệu quả kinh doanh tốt hơn trong những năm tiếp theo.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần
Tổng công ty May Đáp Cầu.

4


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm về vốn
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trƣớc đến nay có rất
nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những
quan niệm khác nhau về vốn.
“Vốn là một khối lƣợng tiền tệ nào đó đƣợc đƣa vào lƣu thông nhằm
mục đích kiếm lời, số tiền đó đƣợc sử dụng muôn hình muôn vẻ. Nhƣng suy
cho cùng là để mua sắm tƣ liệu sản xuất và trả công cho ngƣời lao động,
nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục
đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn mang lại giá trị thặng dƣ
cho doanh nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng
vốn, nhƣng lại mang tính trừu tƣợng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và
phân tích quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp.”
“Theo nghĩa hẹp thì vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi
doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Theo nghĩa rộng thì vốn bao gồm toàn bộ các
yếu tố kinh tế đƣợc bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ nhƣ tài sản hữu hình,
tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp đƣợc tích
lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành,
cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh
nghiệp. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu
quả của vốn trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo
quan điểm này rất khó khăn phức tập nhất là khi nƣớc ta trình độ quản lý kinh
tế còn chƣa cao và pháp luật chƣa hoàn chỉnh.”

chƣa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.”

6


Một số nhà kinh tế học khác trong cuốn “The Wealth of Nations”
(1776) và “ Kinh tế học hài hƣớc” “(Nhà xuất bản thế giới và Alphabooks,
2010) lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lƣợng sản phẩm tạm thời phải hy
sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tƣ, để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng
trong tƣơng lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tƣ nhiều
hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do vậy, quan điểm này cũng
không đáp ứng đƣợc nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nhƣ phân
tích vốn.”
Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện
đƣợc vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích
nghiên cứu cụ thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, đứng trên
phƣơng diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chƣa đáp ứng đƣợc đầy
đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn ở trên, khái niệm về vốn
cần thể hiện đƣợc các vấn đề sau đây:
Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập
quốc dân đƣợc tái đầu tƣ, để phân biệt với vốn đất đai, vốn nhân lực.
Trong trạng thái của vốn kinh doanh tham gia và quá trình sản xuất
kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản lƣu động) và tài sản
tài chính (tiền mặt gửi ngân hàng, các tín phiếu) là cơ sở đề ra các biện pháp
quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.
Phải thể hiện đƣợc mục đích sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích
kinh tế, lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hƣớng cho quá trình
quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn doanh nghiệp nói riêng.
1.1.1.2. Đặc trưng cơ bản của vốn

sau:
Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển
của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện tiên quyết,
quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tùy

8


theo nguồn của vốn, cũng nhƣ phƣơng thức huy động vốn mà doanh nghiệp
có tên là công ty cổ phần, doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp liên doanh,
công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nƣớc,…”
Vốn là một trong số những tiêu thức để phân loại quy mô doanh
nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một
trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các
nguồn lực hiện có và tƣơng lai về lao động, nguồn cung ứng hàng hóa, mở
rộng và phát triển thị trƣờng, mở rộng lƣu thông hàng hóa.
Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, vốn bao giờ cũng là cơ sở, là
tiền đề để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lƣợc và kế hoạch kinh
doanh. Nó cũng là chất kết nối các quá trình và quan hệ kinh tế, giúp cỗ máy
kinh tế vận động hiệu quả.
1.1.2. Phân loại vốn
1.1.2.1. Căn cứ theo nguồn hình thành vốn
a. Vốn chủ sở hữu
“Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng
góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam
kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu đƣợc do kinh
doanh có lãi của doanh nghiệp để đƣợc chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần
vốn góp của mình. Tùy theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu đƣợc
hình thành theo các cách thức khác nhau. Thông thƣờng nguồn vốn này bao

quy mô của tài sản cố định nhƣng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh
hƣởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định. Muốn quản lý vốn cố
định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu
hiệu. Để quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài sản cố định, có thể phân loại tài sản cố
định theo các tiêu thức sau: “

10


Bảng 1.1. Phân loại Tài sản cố định của Doanh nghiệp
Toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
Căn cứ phân loại
Theo hình thái

Theo nguồn

Theo công

biểu hiện

hình thành

dụng kinh tế

Theo tình hình sử dụng

TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ TSCĐ
hữu




cần

cần

thanh

nhƣ:

nhƣ:

Doanh

vốn

sản

sản

dùng

dùng



máy

bằng

nghiệp


bị, nhà

là vốn

xƣởng

ngân

cơ bản cơ bản

sách
Nguồn: voer.edu.vn
b. Vốn lƣu động
Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trƣớc về tài sản lƣu động
và tài sản lƣu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên liên tục. Tài sản lƣu động là những tài
sản ngắn hạn, thƣờng xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản
lƣu động tồn tại dƣới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm,
công cụ, dụng cụ…), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở
dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt…trong giai đoạn lƣu thông.
Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lƣu động chủ yếu
đƣợc thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao,

11


các khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Để quản lý vốn lƣu động có hiệu quả, ta
có thể phân loại vốn lƣu động nhƣ sau:
Bảng 1.2. Phân loại vốn lƣu động của doanh nghiệp


Vốn

Vốn

Vốn

Vốn

Vốn

Vốn

dự trữ

chung

lƣu

tự có

liên

vay

phát

vật

tiền


nhƣ:

vốn

liên

dụng

chứng

bằng

nhƣ:

định

không

nhƣ:

nhƣ:

thành ngân

kết

khoán

hàng

toán

dang
Nguồn: voer.edu.vn
1.2. Khái quát chung hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và phân loại hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lƣợng của
hoạt động sử dụng vốn vào giải quyết một nhu cầu nhất định trong phát triển
sản xuất (đầu tƣ phát triển) và trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình

12


kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ
chi phí của quá trình kinh doanh đó. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn không
chỉ thể hiện đơn thuần ở kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mà nó còn
thể hiện ở nhiều mặt chỉ tiêu về kinh tế thanh toán, số vòng quay vốn. Để
đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, đồng thời phải xem xét những khó khăn, thuận lợi cũng nhƣ các nguy
cơ tiềm tàng của doanh nghiệp trong tƣơng lai.
Về mặt lƣợng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở mối tƣơng quan giữa
kết quả thu đƣợc từ hoạt động bỏ vốn đó mang lại với lƣợng vốn đã bỏ ra.
Mối tƣơng quan đó đƣợc biểu hiện dƣới công thức:
Dạng thuận: Chỉ tiêu này dùng để xác định ảnh hƣởng của hiệu quả sử
dụng vốn đến kết quả kinh tế.
Kết quả
(1.1)



Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả

tuyệt đối hoặc so sánh tƣơng quan các đại lƣợng thể hiện chi phí hoặc kết quả
của các phƣơng án, các năm với nhau.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
1.2.1.1. Hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay đƣợc
bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá đƣợc khả năng sử dụng
tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần đƣợc sinh ra từ tài sản
doanh nghiệp đã đầu tƣ. Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Doanh thu thuần
trong kỳ
Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ =

(1.3)

Số vốn sử dụng bình
quân trong kỳ

1.2.1.2. Suất hao phí vốn
Là chỉ tiêu nghịch đảo với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh một
đồng doanh thu cần có bao nhiêu đồng vốn.
(1.4)

14



Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét
chất lƣợng công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít
công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng nhƣ ít đi
chiếm dụng vốn. Ngƣợc lại, nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình
trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây
dƣa, kéo dài.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ tập trung vào thanh toán
khoản vay nợ mà doanh nghiệp cần phải thanh toán trong năm. Do vậy doanh
nghiệp phải dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để
thanh toán nợ tới hạn. Nếu khả năng thanh toán yếu, doanh nghiệp phải chịu
lãi suất đồng thời làm ảnh hƣởng đến các mối quan hệ kinh tế trong kinh
doanh. Vì vậy khi xét đến khả năng thanh toán ngƣời ta chỉ xét đến khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn.
1.2.4. Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu này dùng để đo lƣờng hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của
một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh
doanh dƣới các loại tài sản khác nhau.
1.2.4.1. Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân
luân chuyển trong kỳ. Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh
doanh đƣợc đánh giá càng tốt.
(1.14)

1.2.4.2. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Công
thức xác định là:
16


(1.15)

đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị nhƣng lại
phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của khách hàng ngày càng
cao về sản phẩm. Do vậy, doanh nghiệp dễ dàng tăng doanh thu, lợi nhuận
trên vốn cố định nhƣng khó giữ đƣợc chỉ tiêu này lâu dài. Nếu kỹ thuật sản
xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc, thiết bị cao, doanh nghiệp có lợi thế
trong cạnh tranh song đòi hỏi công nhân có tay nghề, chất lƣợng nguyên vật
liệu cao sẽ làm tăng lợi nhuận trên vốn cố định.”
1.4.1.3. Trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất
“Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của ngƣời lãnh đạo
trong tổ chức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng. Sự điều hành quản lý
phải kết hợp đƣợc tối ƣu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết,
đồng thời nắm bắt đƣợc cơ hội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh
nghiệp.”
“Trình độ tay nghề của ngƣời lao động: nếu công nhân sản xuất có trình
độ tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng
máy móc sẽ tốt hơn, khai thác đƣợc tối đa công suất thiết bị làm tăng năng
suất lao động, tạo ra chất lƣợng sản phẩm cao. Điều này chắc chắn sẽ làm tình
hình tài chính của doanh nghiệp ổn định.
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả nhất, doanh nghiệp phải có
một cơ chế khuyến khích vật chất cũng nhƣ trách nhiệm một cách công bằng.
Ngƣợc lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng quy định trách nhiệm
không rõ ràng sẽ làm cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.”
1.4.1.4. Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp
“Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế
hoạch để phát triển thông qua các chiến lƣợc. Để tình hình tài chính của
doanh nghiệp đƣợc phát triển ổn định thì các chiến lƣợc kinh doanh phải đúng

18




Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao

19


Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh
nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt là tài sản không sinh lãi. Vì vậy, cần phải quản
lý sao cho tối thiểu hóa lƣợng tiền mặt phải giữ. Tuy nhiên việc giữ tiền mặt
trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết để đảm bảo giao dịch kinh doanh
hàng ngày, để bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp những dịch
vụ cho doanh nghiệp, để đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trƣờng hợp biến
động. Tuy nhiên nếu số tiền mặt lớn sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vì
vậy để quản lý thì cần dự trữ các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao
để hƣởng lãi suất. Khi cần thiết có thể chuyển thành tiền mặt một cách dễ
dàng và ít tốn kém chi phí. “
Nhƣ vậy cần phải quản lý tiền mặt có hiệu quả trên cơ sở kết hợp
những lợi ích có đƣợc và những chi phí mình bỏ ra khi giữ tiền mặt.”
c.

Quản lý các khoản phải thu
“Trong nền kinh tế thị trƣờng, tín dụng thƣơng mại có thể làm cho

doanh nghiệp đứng vững trên thị trƣờng nhƣng có thể đem đến những rủi ro
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể: tín dụng thƣơng mại làm
cho doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm chi phí tồn kho của hàng
hóa, làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, làm
giảm thuế. Nếu khách hàng không trả tiền làm cho lợi nhuận bị giảm, nếu thời
hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn.”
1.4.1.6. Cơ chế quản lý tài sản cố định và quỹ khấu hao tài sản cố định

chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Nhƣợng bán thanh lý tài sản:
Nhƣợng bán: doanh nghiệp đƣợc nhƣợng bán các tài sản không dùng
nữa do lạc hậu về kĩ thuật, để thu hồi vốn cho mục đích kinh doanh có hiệu
quả hơn.
Thanh lý: doanh nghiệp đƣợc quyền thanh lý những tài sản kém phẩm
chất hƣ hỏng, không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu kí thuật, không có
nhu cầu sử dụng, hoặc sử dụng không có hiệu quả, không thể nhƣợng bán
nguyên dạng đƣợc.”
c.

Xử lý tổn thất tài sản
Tài sản tổn thất do nguyên nhân chủ quan của tập thể cá nhân thì ngƣời

gây tổn thất phải bồi thƣờng theo quy định của pháp luật; mức độ bồi thƣờng

21


do doanh nghiệp quy định. Tài sản đã mua bảo hiểm nếu tổn thất thì các tổ
chức bảo hiểm bồi thƣờng theo hợp đồng bảo hiểm...
1.4.2. Các nhân tố khách quan
1.4.2.1. Thị trường
“Thị trƣờng là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong đó thị trƣờng vốn quyết định tới việc huy động vốn
của doanh nghiệp còn thị trƣờng hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn.
Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Nếu các thị trƣờng này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực
thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần. Nếu sản phẩm
mang tính thời vụ thì ảnh hƣởng tới doanh thu, quản lý sử dụng máy móc thiết

doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, tình
hình tài chính của doanh nghiệp đƣợc cải thiện ngày càng tốt hơn. Ngựơc lại,
nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh nghiệp muốn
cải thiện tình hình tài chính là rất khó khăn.”
1.4.2.4. Cơ chế, chính sách kinh tế
“Vai trò điều tiết của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng là điều
không thể thiếu. Điều này đƣợc quy định trong các Nghị quyết TW Đảng. Các
cơ chế, chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi
các chính sách thuế (thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập
khẩu...), chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ...
đều ảnh hƣởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh
hƣởng tới tình hình tài chính.
1.4.2.5. Nhà cung cấp
Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào
nhƣ: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ... thì doanh nghiệp phải
mua ở các doanh nghiệp khác. Việc thanh toán các khoản này sẽ tác động trực
23


tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ nhà cung cấp đòi hỏi doanh
nghiệp phải thanh toán tiền ngay khi giao hàng thì sẽ dẫn đến lƣơng tiền mặt
hoặc tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp giảm xuống, doanh nghiệp sẽ khó
khăn trong việc huy động vốn. Hoặc doanh nghiệp phải vận chuyển nguyên
vật liệu về kho sẽ làm tăng chi phí sản xuất làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp...”

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status