MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1
Mở đầu
2
2
Lí do chọn đề tài
2
3
4
5
6
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
3
3
Kết luận, kiến nghị.
16
1
1. MỞ ĐẦU.
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo
dục là đầu tư cho phát triển”. Để xã hội phát triển tốt đẹp, giáo dục luôn là lĩnh
vực phải đi trước một bước, vì vậy chất lượng giáo dục hiện nay đã trở thành
mối quan tâm của toàn xã hội. Giáo dục là nhân tố quyết định thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nước ta. Để thực
hiện tốt sứ mệnh cao cả đó những người làm công tác giáo dục nói chung và
người giáo viên nói riêng ngoài việc trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng cơ
bản, thì việc bồi dưỡng học sinh mũi nhọn là một nhiệm vụ rất quan trọng nhằm
phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng học sinh
giỏi là một trong những hoạt động vất vả, khó khăn và đầy thử thách đối với
những người làm nghề dạy học, nó không chỉ đòi hỏi người giáo viên tâm huyết,
sự say mê, khám phá tìm tòi đổi mới phương pháp ôn luyện sao cho thật đơn
giản, nhẹ nhàng mà phải hiệu quả, thu hút được sự chú ý của học sinh.
Trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi môn địa lí 9, phần lí thuyết chiếm
khoảng 50% tổng số điểm toàn bài thi. Vì vậy, trong quá trình ôn thi học sinh
giỏi, đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức mà còn phải tìm ra được cách giải
khoa học, hiệu quả các dạng câu hỏi này. Thông thường trong quá trình ôn
luyện, tôi nhận thấy học sinh rất khó tìm ra cách giải cho các dạng câu hỏi lí
thuyết, chủ yếu các em làm theo thói quen, cảm tính, hiểu như thế nào thì làm
như thế ấy, chưa nắm rõ bản chất và chưa tìm ra được cách giải phù hợp cho
từng dạng. Thực tế cho thấy nhiều em thuộc nhiều kiến thức cơ bản nhưng khả
Mục đích nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm này là nhằm đưa ra một
số cách phân loại, quy trình, cách nhận dạng, cách giải các dạng câu hỏi lí
thuyết trong ôn luyện học sinh giỏi môn Địa Lí, nhằm khắc phục nhược điểm
phổ biến trong học sinh là học thuộc vẹt, không có kĩ năng trình bày bài thi viết,
đồng thời giúp các em có phương pháp học tập, nhận dạng, xử lí câu hỏi và làm
bài tốt hơn.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Các kiến thức về cách giải các dạng câu hỏi lí thuyết cho ôn thi học sinh
giỏi môn địa lí trường trung học cơ sở Yên Cát, huyện Như Xuân.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp 1: Điều tra học sinh có năng khiếu học bộ môn. Việc điều
tra phát hiện học sinh có năng khiếu học giỏi bộ môn là rất quan trọng. Đây là
một bước rất quan trọng vì có lựa chọn đúng học sinh thì hiệu quả ôn luyện mới
có kết quả tốt. Để làm được điều này, trong quá trình giảng dạy trên lớp giáo
viên phải chuẩn bị chu đáo bài dạy, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học,
có hệ thống câu hỏi đưa ra phù hợp với mọi đối tượng nhằm phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học, đồng thời có những hệ thống
câu hỏi nâng cao nhằm phát hiện những học sinh có năng khiếu học giỏi bộ
môn.
Phương pháp 2: Chọn đối tượng học sinh giỏi. Sau khi đã điều tra được
đối tượng, tiến hành lựa chọn học sinh, đây là một công việc rất khó khăn vì như
tôi đã trình bày ở trên các em học sinh giỏi toàn diện hầu như các em không lựa
chọn bộ môn địa lí, vì vậy người giáo viên còn phải làm công tác tư tưởng học
sinh và phụ huynh để các em hiểu và lựa chọn đúng với năng lực của mình.
Phương pháp 3: Nghiên cứu tài liệu: Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là một
công việc hết sức khó khăn, vì vậy người giáo viên phải tham khảo nhiều tài
liệu một cách thường xuyên để cập nhật bổ sung và phát triển chuyên đề mà
mình phụ trách từ đó đưa ra cách giải phù hợp nhất, bao quát nhất, học sinh dễ
dàng tiếp thu nhất.
quốc.
Tuy nhiên, trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, đòi hỏi sự nỗ lực của
cả thầy và trò. Trước hết đòi hỏi người thầy phải có năng lực sư phạm vững
vàng, vì công việc dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.
Người thầy phải có phương pháp dạy học phù hợp phát huy được tính tích cực,
chủ động của học sinh. Việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung, và dạy học
môn địa lí nói riêng cần có những phương pháp đặc trưng riêng. Ngoài việc lên
lớp người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tìm tòi tài liệu liên quan, làm sao
có thể truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu nhất.
Đào tạo học sinh mũi nhọn luôn là mục tiêu phấn đấu của phòng giáo dục,
của các trường, của mỗi giáo viên. Đối với bản thân mỗi giáo viên được giao
trọng trách nặng nề này phải đem hết tâm huyết, sức sáng tạo, niềm đam mê, sự
tìm tòi, tìm ra các bản chất, cái cốt lõi nhất để làm sao học sinh ít phải ghi nhớ
máy móc nhất mà vấn hiểu và làm bài tốt. Qua rất nhiều trăn trở tìm tòi, nghiên
cứu các tài liệu của một số bậc thầy trong ngành địa lí như thầy Lê Thông, thầy
Nguyễn Viết Thịnh,... đặc biệt là qua đợt tập huấn chuyên đề nâng cao năng lực
bồi dưỡng học sinh giỏi cho giáo viên bậc trung học cơ sở tháng 12 năm 2015
của sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa, bản thân đã học hỏi và rút ra được một
số kinh nghiệm trong công tác ôn thi học sinh giỏi bộ môn của mình.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG
KIẾN.
Một thực tế hiện hiện nay cho thấy, môn Địa lí là một môn học ít được
học sinh yêu thích, nên việc tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi
môn địa lí là hết sức khó khăn. Thông thường những em học sinh giỏi môn Địa
lí là học sinh giỏi toàn diện, hoặc giỏi về khoa học tự nhiên, do đó các em không
chọn môn địa lí. Nhiều học sinh và phụ huynh còn cho rằng đây là một môn học
phụ nên ít quan tâm chỉ học làm sao đủ điểm là được. Chính vì vậy, đối với môn
4
0
Số học sinh
đạt giải
khuyến
khích
1
Với kết quả thu được ở trên chúng ta nhận chất lượng mũi nhọn môn địa lí
cấp tỉnh của huyện nhà quá thấp, cả về số lượng giải và chất lượng giải.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Trong phạm vi của đề tài này tôi chỉ nêu ra cách giải một số dạng câu hỏi
lí thuyết trong ôn thi học sinh giỏi môn địa lí 9.
Các dạng câu hỏi lí thuyết thường gặp trong ôn thi học sinh giỏi địa lí 9
như: Dạng trình bày, dạng giải thích, dạng so sánh và dạng chứng minh.
1. Dạng trình bày.
Dạng trình bày hay nói đơn giản là dạng học thuộc bài, dạng dễ nhất trong
các trong các dạng câu hỏi lí thuyết. Đối với câu hỏi lí thuyết cần chú ý một số
yêu cầu sau:
- Hiểu và nắm vững kiến thức cơ bản kiến thức sách giáo khoa, một cách
hệ thống, lôgic, đây là một yêu cầu tối thiểu vì như người ta thường nói “có bột
mới gột nên hồ”
- Tái hiện, sắp xếp kiến thức cơ bản và trình bày theo yêu cầu của câu hỏi.
* Cách nhận dạng: Câu hỏi trình bày thường có các cụm từ sau: Trình bày,
phân tích, nêu, như thế nào, ... gì,...
Đây là một dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức. Nội dung câu hỏi cái gì thì trả
lời cái đó tránh lan man.
Vẫn có thể xảy ra nhầm lẫn đáng tiếc do chủ quan hoặc không hiểu nội
dung câu hỏi.
Ví dụ: Trình bày các thế mạnh về kinh tế của vùng Trung du và miền núi
+ Biết vận dụng các kiến thức cơ bản để tìm ra mối quan hệ, khẳng định
vai trò, tác động của các đối tượng địa lí với nhau
+ Biết cách khái quát các kiến thức liên quan đến câu hỏi và mối liên hệ
của chúng để tìm ra nguyên nhân.
b. Cách nhận dạng:
Nhận dạng loại câu hỏi này căn cứ vào các từ như: Tại sao, vì sao, giải
thích vì sao,...
c. Phân loại:
Các câu hỏi thuộc dạng giải thích rất dễ nhận biết, việc phân loại câu hỏi
giải thích giúp các em hiểu câu hỏi tìm cách trả lời phù hợp, tránh lan man, lạc
đề.
Căn cứ vào sách giáo khoa và các đề thi học sinh giỏi có thể phân ra làm
hai loại câu hỏi giải thích:
* Loại câu hỏi giải thích theo mẫu cố định: gồm 2 loại
- Loại theo mẫu giải thích nguyên nhân (Tự nhiên, kinh tế - xã hội), hay
còn gọi là mẫu nguồn lực.
Loại câu hỏi này chủ yếu liên quan đến phần kinh tế - xã hội Việt Nam.
Ví dụ:
Tại sao Trung du và miền núi bắc Bộ là vùng trồng chè lớn nhất nước ta?
6
Tại sao Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân đông nhất nước ta?
- Loại theo mẫu khái niệm: Ví dụ: tại sao ngành công nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm là ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta?
* Loại không theo mẫu cố định:
Đây là dạng câu hỏi liên quan đến cả phần địa lí tự nhiên và phần địa lí
kinh tế - xã hội Việt Nam. Đây là dạng câu hỏi cần tư duy cao, phải biết liên hệ
giữa các đối tượng địa lí.
Ví dụ: Tại sao khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm?
Nguồn nước: Phong phú do sông Đồng Nai và công trình thủy lợi dầu
tiếng trên sông Sài Gòn cung cấp nước tưới cho diện tích cây công nghiệp của
tỉnh Tây Ninh và huyện Củ Chi của thành phố Hồ Chí Minh.
+ Điều kiện kinh tế- xã hội
Nguồn lao động dồi dào, người dân có kinh nghiệm trồng chế biến và bảo
quản sản phẩm cây công nghiệp.
7
Cơ sở vật chất- kĩ thuật, cơ sở hạ tầng khá hoàn thiện: Hệ thống đường
giao thông, thủy lợi, công nghiệp chế biến phát triển giúp nâng cao giá trị và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm cây công nghiệp.
Chính sách của nhà nước đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp trong
đó có cây công nghiệp để xuất khẩu.
Thị trường: thị tiêu trường tiêu thụ sản phẩm cây công nghiệp ngày càng
mở rộng: Trung Quốc, EU,...
Trên đây là một ví dụ về câu hỏi giải thích theo mẫu nguồn lực, đối với
các vùng kinh tế khác có câu hỏi tương tự ta cũng định hướng học sinh trả lời
theo mẫu như vậy.
Tuy nhiên đây chỉ là một mẫu chung về các điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Trong từng trường hợp cụ thể ta phải có cách vận dụng linh hoạt phù hợp
với yêu cầu của đề ra.
* Loại câu hỏi theo mẫu khái niệm:
Trong các đề thi học sinh giỏi môn địa lí loại câu hỏi này thường gắn với
việc giải thích ngành công nghiệp trọng điểm. Lí do đưa ra để giải thích phải
nằm trong khái niệm ngành công nghiệp trọng điểm.
Khái niệm: Ngành công nghiệp trọng điểm là ngành chiếm tỉ trọng cao
trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp; phát triển dựa trên những thế mạnh lâu
dài về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, sự phát triển của ngành này nhằm
đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và tạo ra mặt hàng xuất khẩu chủ
Các nghành công nghiệp trọng điểm khác như công nghiệp điện, khai thác
nhiên liệu, công nghiệp dệt may,... các trả lời tương tự như trên.
* Loại câu hỏi không theo mẫu cố định.
Loại câu hỏi này vẫn gặp trong thi học sinh giỏi môn địa lí, cái khó là nó
không theo một mẫu nào cả. Tùy theo yêu cầu câu hỏi học sinh phải tìm ra cách
trả lời hợp lí. Muốn vậy trước hết học sinh phải đọc kĩ câu hỏi xem đề yêu cầu
giải thích cái gì, sau đó tái hiện kiến thức về vấn đề liên quan đến câu hỏi, xắp
xếp và tìm mối liên hệ giữa chúng với nhau. Cuối cùng đưa ra các lí do để giải
thích theo yêu cầu câu hỏi.
Ví dụ: Tại sao nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm?
Để trả lời phải tái hiện kiến thức đã học đó là: Tính chất nhiệt đới: Vị trí
nội chí tuyến bắc bán cầu, có góc chiếu sáng lớn; Tính chất gió mùa: Vị trí nằm
ở trung tâm của châu Á gió mùa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa; Tính
chất ẩm: do vị trí nằm ở trung tâm gió mùa châu á, các khối khí di chuyển qua
biển mang lại lượng mưa, ẩm lớn.
Trên nền kiến thức đã tái hiện lần lượt đưa ra các lí do để giải thích tính
chất nhiệt đới gió mùa ẩm của khí hậu nước ta.
3. Dạng so sánh.
a. Yêu cầu:
Dạng câu hỏi so sánh là một dạng tương đối khó nhưng nếu nắm vững
cách giải thì học sinh vẫn đạt được điểm cao. Đối với dạng này cần đảm bảo một
số yêu cầu sau:
- Trước hết phải nắm vững kiến thức cơ bản, bởi vì nếu không có “nguyên
liệu” thì “mọi cách chế biến” đều vô nghĩa.
- Sau đó phải biết cách hệ thống hóa, sắp xếp, phân loại kiến thức để dễ
cho việc so sánh
- Biết cách khái quát hóa kiến thức để tìm ra các tiêu chí so sánh.
b. Cách nhận dạng:
Dạng câu hỏi so sánh thường xuất hiện các cụm từ: so sánh, phân biệt, so
sánh sự giống và khác nhau,...
sánh.
- Bước 2: Tìm các tiêu chí để so sánh.
- Bước 3: Lấp đầy các tiêu chí bằng các kiến thức đã học.
* Hướng dẫn cách giải cụ thể.
- Loại câu hỏi so sánh hoàn chỉnh:
Yêu cầu của loại câu hỏi này là phải so sánh toàn bộ hay nhiều chỉnh thể
với nhau. Có thể là vùng, miền địa lí tự nhiên hoặc vùng kinh tế,...
Quy trình: Thực hiên theo 3 bước mà quan trọng nhất là việc xác định các
tiêu chí so sánh
Các tiêu chí dạng so sánh các đối tượng địa lí kinh tế - xã hội hoàn chỉnh
gồm cả giống và khác nhau:
So sánh ngành kinh tế:
+ Vai trò của ngành trong nền kinh tế.
+ Các nguồn lực để phát triển.
+ Cơ cấu ngành.
+ Phân bố.
+ Hướng phát triển.
So sánh vùng lãnh thổ:
+ Vị trí địa lí, Vai trò, quy mô của vùng.
+ Các nguồn lực để phát triển.
+ Hướng chuyên môn hóa kinh tế của vùng.
+ Tình hình phát triển các ngành trong vùng.
+ Phân bố các ngành.
+ Hướng phát triển.
Đây là nội dung so sánh ở mức tối đa, trong thực tế không phải lúc nào
cũng sử dụng hết các tiêu chí này để so sánh mà phụ thuộc vào câu hỏi có thể
lựa chọn các tiêu chí thích hợp. Trong số các tiêu chí trên nên chú ý đến tiêu chí
nguồn lực để phát triển, bởi vì tiêu chí này cần lượng kiến thức rất lớn.
10
núi bị cắt xẻ mạnh. Vì vậy ảnh hưởng đến mức độ tập trung và hướng chuyên
môn hóa cây công nghiệp.
+ Đất: Đông Nam Bộ có bất ba dan (40% diện tích vùng) và đất xám phù
sa cổ, Trung du và miền núi Bắc Bộ chủ yếu là đất feralit.
+ Khí hâu: Đông Nam Bộ có khí hậu cận xích đạo nền nhiệt cao, có hai
mùa: mùa khô và mùa mưa ít thiên tai còn Trung du và miền núi Bắc Bộ có khí
hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh.
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
+ Dân cư và lao động:
Đông Nam Bộ dân đông mật độ dân số cao, trình độ dân trí, kĩ thuật cao.
Trung du và miền núi Bắc Bộ: dân thưa, trình độ dân trí thấp hơn.
+ Cơ sở vật chất – kĩ thuật: Đông Nam Bộ có ưu thế hơn trung du và miền
núi Bắc Bộ còn nhiều khó khăn.
Chú ý:
Nhiều em băn khoăn cách làm bài so sánh như thế nào cho đúng, cho hợp
lí? Có nên chia đôi tờ giấy để so sánh hay không?
Cách là tốt nhất là nên so sánh lần lượt các điểm giống nhau đến các điểm
khác nhau. Đây là cách làm hợp lí, tránh được tình trạng bài làm bị ngắt quãng.
11
Vì nếu chia đôi tờ giấy so sánh thì sẽ bị bó hẹp diện tích tờ giấy, trường hợp so
sánh 3 vùng còn khó khăn hơn.
- Loại câu hỏi so sánh bộ phận:
Loại câu hỏi so sánh bộ phận xuất hiện rất nhiều trong các đề thi học sinh
giỏi địa lí 9 bao gồm cả phần địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam.
+ Với phần địa lí tự nhiên Việt Nam các bộ phận thường được so sánh là:
Thành phần tự nhiên (So sánh vùng núi Đông Bắc với vùng núi Tay Bắc; so
sánh địa hình, đất của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long,...);
Thế mạnh và hạn chế cuả thiên nhiên các vùng để phát triển kinh tế,...
chí vai trò và quy mô của vùng. Tùy theo từng tình huống cụ thể mà lựa chọn
tiêu chí cho phù hợp.
Ví dụ: So sánh thế mạnh để phát triển sản xuất lương thực- thực phẩm
giữa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, nếu cứng nhắc theo
mẫu tiêu chí thì tiêu chí vị trí địa lí không ảnh hưởng gì đến sản xuất lương thực,
thực phẩm của 2 vùng mà thay vào đó nên sử dụng tiêu chí vai trò, quy mô của 2
vùng.
12
Thứ hai: Cần lưu ý đến yêu cầu câu hỏi (thế mạnh hay nguồn lực) để trả
lời cho đúng. Nếu câu hỏi yêu cầu so sánh thế mạnh thì chỉ tập trung phân tích
lợi thế không cần đề cập đến khó khăn. Ngược lại câu hỏi so sánh các điều kiện
để phát triển thì phải nêu cả thuận lợi và khó khăn.
4. Dạng chứng minh. (Trình bày có dẫn chứng)
a. Yêu cầu:
Dạng câu hỏi chứng minh là một dạng câu hỏi thường gặp trong các
dạng đề thi học sinh giỏi. Để đạt kết quả tốt cần chú ý các yêu cầu sau:
- Phải nắm vững kiến thức cơ bản. Đối với dạng chứng minh, ngoài
lượng kiến thức còn phải sử dụng các số liệu chủ yếu liên quan đến yêu cầu câu
hỏi, để làm minh chứng cho vấn đề cần chứng minh. Khi cần phải chứng minh
một điều gì đó, nhất là phương diện kinh tế - xã hội thì số liệu thống kê trở thành
công cụ đắc lực nhất. Không có số liệu thì không làm nổi bật nội dung trả lời, có
thể hiểu số liệu là yếu tố thuyết phục nhất khi làm bài chứng minh.
- Phải biết cách sàng lọc, lựa chọn kiến thức cũng như số liệu cần thiết để
chứng minh, tránh sa đà, dàn trải.
- Đưa ra các bằng chứng trên cơ sở trên cơ sở kiến thức cơ bản và số liệu
đã chọn lọc.
b. Cách nhận dạng.
Câu hỏi chứng minh dễ nhận dạng nhất vì chỉ có một cách hỏi duy nhất.
- Chứng minh hiện trạng về địa lí kinh tế.
Cách giải các loại câu hỏi chứng minh nhìn chung không có mẫu nhất
định nào cả. Câu hỏi như thế nào thì phải đưa ra các bằng chứng tương ứng để
chứng minh. Vì không có mẫu nên để làm dạng câu hỏi này phải thao một số
quy trình sau:
+ Bước 1: Đọc kĩ và nhận dạng câu hỏi để xem câu hỏi cần chứng minh
cái gì: tự nhiên, dân cư hay kinh tế - xã hội; về ngành hay về vùng.
+ Bước 2: Hệ thống hóa kiến thức và số liệu liên quan đến câu hỏi. Có 2
điểm cần chú ý gắn với kiến thức và số liệu: Về kiến thức phải dựa vào yêu cầu
của câu hỏi để lựa chọn kiến thức thích hợp. Ví dụ, khi liên qua dến chứng minh
khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm thì cần quan tâm đến các
bằng chứng về kiến thức cơ bản như: Hằng năm nước ta nhận được lượng bức
xạ mặt trời lớn, nhiệt độ trung bình cao, lượng mưa, ẩm lớn,...Về số liệu nhất là
phần địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam nên quan tâm đến số liệu gốc và số liệu bản
lề. Khi cần chứng minh dân số nước ta đông có thể đưa số liệu các năm tổng
điều tra dân số (1979, 1989, 1999, 2009) coi như là số liệu gốc. Còn muốn
chứng minh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể sử dụng số liệu tương ứng tại
các thời điểm: 1975/1976 (đất nước thống nhất), 1986 (bắt đầu đổi mới), Từ sau
1990 (công cuộc đổi mới bắt đầu phát huy tác dụng),...Về mặt số liệu không cần
nhớ quá nhiều nhưng lại không được phép quên các mốc quan trọng. Số liêu đưa
ra chứng minh chỉ cần độ chính xác tương đối.
+ Bước 3: Sử dụng kiến thức cơ bản và số liệu đã chọn để chứng minh
theo yêu cầu của câu hỏi.
Ví dụ: Dân cư không đều giữa miền núi, cao nguyên và đồng bằng ven
biển giữa thành thị và nông thôn. Em hãy chứng minh nhận định trên?
Trả lời:
- Dân cư tập trung đông đúc ở đồng bằng, ven biển và các đô thị, thưa
thớt ở miền núi, cao nguyên: ĐB chỉ chiếm khoảng ¼ diện tích nhưng lại tập
trung tới ¾ dân số cả nước. Trong khi đó miền núi chiếm tơi ¾ diện tích nhưng
chỉ tập trung có ¼ dân số cả nước. Ở đồng bằng mật dân số rất cao, ví dụ đồng
tiết tương đối ổn định thuận lợi để cây trồng vật nuôi sinh trưởng quanh năm.
- Tài nguyên:
+ Đất: Diện tích gần 4 triệu ha, đất khá đa dạng, quan trọng nhất là đất
phù sa ngọt chiếm 1,2 triệu ha ngoài ra còn có đất mặn và đất phèn .(Phù sa
ngọt phân bố dọc theo sông Tiền, sông Hậu thuận lợi để phát triển cây lúa nước).
+ Tài nguyên nước: Sông Mê công cung cấp nước tưới dòi dào, hệ thống
kênh rạch chằng chịt cung cấp nước để thau chua rửa mặn, phát triển giao thông
đường thủy, nuôi trồng thủy sản.
Đặc điểm địa hình, đất, nước, khí hậu thuận lợi để hình thành vùng
chuyên canh cây lương thực lớn nhất nước ta.
+ Tài nguyên sinh vật: Đường bờ biển dài, biển ấm, ngư trường lớn nguồn
lợi hải sản phong phú, nhiều đảo và quần đảo rất thuận lợi cho việc khai thác và
nuôi trồng thủy sản.
Điều kiện kinh tế - xã hội.
+ Dân cư, lao động: Người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm sản xuất
nông nghiệp hàng hoá nhạy bén, thích ứng với nền kinh tế thị trường, có nhiều
hình thức chủ động sống chung với lũ hàng năm.
+ Cơ sở vật chất: Công nghiệp chế biến khá phát triển giúp nâng cao giá
trị và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản,...
+ Chính sách: Là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm số 1 cả nước
nên được nhà nước có chính sách khuyến khích, đầu tư phát triển để đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia và tạo ra măt hàng xuất khẩu chủ lực.
+ Thị trường: trong và ngoài nước ngày càng mở rộng, nước ta có nhiều
bạn hàng nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, EU,...
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN.
Sau một năm áp dụng sáng kiến này bản thân thấy rõ hiệu quả:
- Đối với bản thân: Khái quát được các dạng câu hỏi, định hướng cách
giải cho học sinh từ đó việc ôn thi đơn giản, thuận lợi hơn.
15
0
1
2015- 2016
5
0
0
1
2
Với bảng so sánh trên ta thấy mặc dù kết quả chưa cao nhưng so với năm
học 2014- 2015 thì năm học 2015- 2016 đã có sự thay đổi theo hướng tích cực,
điều này cũng chứng tỏ tính khả thi của sáng kiến.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ .
Thực tế qua một thời gian áp dụng sáng kiến đã chứng minh, khi học sinh
chiếm lĩnh, làm chủ được tri thực bộ môn mình học, có nhận thức đúng về giá
trị của việc học của môn Địa lí, thì các em mới có lòng ham mê học tập, có ý
thức tìm tòi học hỏi thì năng lực tư duy của học sinh sẽ phát triển và nâng cao.
Do vậy người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng để hoàn thiện
mình, để không ngừng đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, kết hợp với
bồi dưỡng phương pháp học cho học sinh giúp học sinh tham gia tích cực vào
việc học, như vậy hiệu quả dạy và học sẽ không ngừng nâng cao. Sau một thời
gian thực hiện một số cách giải các dạng câu hỏi lí thuyết trong ôn thi học sinh
giỏi môn Địa lí, tuy chưa được nhiều giải và giải chưa cao nhưng bước đầu đã
có tính tích cực nhất định trong dạy học Địa lí. Tôi tin rằng nếu tiếp tục mở
rộng, nghiên cứu, áp dụng sáng kiến này trong công tác ôn luyện học sinh giỏi,
thì trong tương lai sẽ có kết quả đáng khả quan. Tuy nhiên do năng lực và kinh
nghiệm của bản thân còn hạn chế nên bài viết của tôi có thể chưa trở thành một
sáng kiến kinh nghiệm hoàn thiện.Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp
chân tình của các bạn đồng nghiệp quý thầy cô để sáng kiến này hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
4
Hướng dẫn ôn tập và
làm các dạng đề thi
môn địa lí
Tài liệu tập huấn bồi
dưỡng học sinh giỏi
môn địa lí cho giáo
viên THCS
5
Tác giả
Bùi Minh
Tuấn
Nhà xuất bản
Đại học quốc
gia Hà Nội
Giáo dục Việt
Nam
Giáo dục Việt
Nam
Đại học sư
phạm Hà Nội.
Tài liệu lưu hành nội bộ của Sở
giáo dục và đào tạo Thanh Hóa