SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ HỒNG PHONG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG GIÚP HỌC SINH LÀM TỐT
PHẦN ĐỌC HIỂU ĐỀ THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Lê Hồng Phong
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2016
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Thi cử, kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy – học là một vấn đề mấu chốt,
được chương trình giáo dục phổ thông tổng thể do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố
ngày 5/8/2015 định hướng: “Đánh giá kết quả học tập phải căn cứ vào yêu cầu cần
đạt của môn học đối với từng lớp học, cấp học; tập trung đánh giá năng lực đọc,
viết, nói, nghe, qua đó đánh giá năng lực tư duy; khuyến khích những suy nghĩ độc
lập, sáng tạo, hạn chế kiểm tra khả năng ghi nhớ máy móc”. Bắt đầu từ năm học
2014-2015, theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kì thi THPT Quốc gia đã
được tổ chức trong toàn quốc. Đề thi môn Ngữ văn theo yêu cầu của kì thi Quốc
gia có nhiều điểm khác biệt.
Với mục tiêu đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực trên cả hai phương
diện tiếp nhận và tạo lập văn bản, đề thi môn Ngữ văn hiện nay cấu trúc gồm 2
phần: phần đọc hiểu và phần làm văn. Trong đó, phần đọc hiểu là một hướng tiếp
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những ngữ liệu được trích từ tác
phẩm trong SGK, Sách bài tập nhưng chủ yếu là ngữ liệu không nằm trong chương
trình; rèn luyện kĩ năng nhận biết các dạng câu hỏi đọc hiểu; rèn luyện kĩ năng trình
bày câu trả lời phần đọc hiểu; rèn luyện kĩ năng trình bày bài viết khoa học, phân
bố thời gian hợp lí.
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Đọc, tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về
những kiến thức lý thuyết liên quan đến đọc – hiểu văn bản và rèn luyện kĩ năng
làm bài phần đọc – hiểu trong đề thi Ngữ văn.
- Nghiên cứu thực nghiệm: Tiến hành kiểm tra, đánh giá tại hai lớp 12C5, 12
C7.
- Thống kê toán học: Qua bài kiểm tra, đánh giá giáo viên thống kê kết quả
để đánh giá năng lực của học sinh.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
3
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ
viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng
bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là phát
hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa
của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào
đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát,
biện luận đúng - sai về lôgíc, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt.
Trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn hiện nay, phần đọc hiểu thường có
văn bản). Đây cũng là hướng tiếp cận với xu thế chung của thế giới. Nội dung kiến
thức để làm dạng đề này lại nằm rải rác ở chương trình và phụ thuộc rất lớn vào
khả năng đọc hiểu của học sinh, chưa có một tài liệu chính thống nào cung cấp
phương pháp, kĩ năng và xâu chuỗi vấn đề lại để hướng dẫn học sinh làm dạng bài
này một cách có hệ thống. Nhiều thầy cô giáo và học sinh còn chưa tự tin khi làm
phần Đọc hiểu.
Cùng với thực tế chung của các trường THPT trong cả nước, trường THPT Lê
Hồng Phong cũng có những thuận lợi và khó khăn nhất định.Về phía giáo viên: các
giáo viên luôn yêu thích, say mê, tâm huyết với nghề. Song trong quá trình hướng
dẫn học sinh làm phần đọc hiểu vẫn, nhiều giáo viên chưa trang bị cho học sinh
một cách hệ thống những kĩ năng cần thiết phải có từ việc nhận diện các dạng câu
hỏi, cách trình bày câu hỏi, bài viết hay phân bố thời gian hợp lí. Về phía học sinh:
chưa phân biệt được các dạng câu hỏi đọc hiểu, kĩ năng làm bài còn yếu.
Năm học 2014 – 2015, tôi được nhà trường phân công dạy 2 lớp: 12C5, 12C7.
Sau khi làm bài số 1 theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia, tôi nhận thấy học sinh
chưa có kĩ năng làm bài phần đọc hiểu. Số lượng bài đạt mức điểm yếu và trung
bình chiếm đa số, điểm khá ít, còn điểm giỏi không có.
Khảo sát kết quả cụ thể ở 2 lớp 12C5, 12C7 với tổng số học sinh 68 em như
sau:
Điểm
0.0 – 1.25
1.5 - 2.0
2.25 - 2.5
2.75 - 3.0
Số HS
28
41.1%
36
52.9%
4
…
Từ ghép
Từ ghép là từ được tạo thành bằng cách ghép hai hay nhiều tiếng
có quan hệ với nhau về nghĩa. Từ ghép có hai loại:
- Từ ghép đẳng lập: là từ ghép có các tiếng bình đẳng với nhau về
mặt ngữ pháp. Ví dụ: sách vở, nhà cửa, đi đứng,…
- Từ ghép chính phụ: là từ ghép có tiếng chính và tiếng phụ bổ
sung cho tiếng chính về mặt ý nghĩa. Tiếng chính đứng trước,
tiếng phụ đứng sau. Ví dụ: hoa hồng, xe đạp sách giáo khoa,…
Từ láy
Từ láy là những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng. Từ láy
được chia làm hai loại:
- Từ láy toàn bộ: là loại từ láy có các tiếng lặp lại nhau hoàn toàn.
Ví dụ: xanh xanh, xinh xinh,…; nhưng cũng có trường hợp tiếng
đứng trước biến đổi về thanh điệu hoặc phụ âm cuối để tạo ra sự
hài hòa về mặt âm thanh, ví dụ: tim tím, nhè nhẹ, ra rả, thăm
thẳm,…
- Từ láy bộ phận: từ láy có các tiếng giống nhau về phụ âm đầu
hoặc vần, ví dụ: rõ ràng, lí nhí, long lanh, lô nhô,…
Từ Hán Việt Từ Hán Việt là bộ phận quan trọng nhất trong từ mượn. Đơn vị
cấu tạo nên từ Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt. Ví dụ: sơn hà,
thiên đô, viễn khách,…
Từ tượng
- Từ tượng thanh: là những từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên,
thanh, từ
con người. Ví dụ: tí tách, lộp bộp, khúc khích,…
tượng hình
- Từ tượng hình: là những từ gợi tả hình dáng, dáng vẻ, trạng thái
của sự vật. Ví dụ: lênh khênh, mếu máo, lăn tăn,…
DẠNG 2: Yêu cầu nhận diện các phép liên kết hình thức
Biểu cảm
Bày tỏ tình cảm, cảm xúc
Nghị luận
Nêu ý kiến đánh giá, bàn luận
Thuyết minh
Giới thiệu đặc điểm, tính chất, phương pháp
Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền
Hành chính – công vụ
hạn, trách nhiệm giữa người và người
DẠNG 4: Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ
Khái niệm
- Dùng trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên,
thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít trau chuốt.
PCNN sinh hoạt
- Dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm, đáp ứng
nhu cầu trong cuộc sống.
- Kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực
PCNN báo chí
truyền thông đại chúng.
- Chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương không
chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu
thẩm mĩ của con người.
PCNN nghệ thuật
- Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, trau
chuốt, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được
giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.
- Dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng,
lập trường, thái độ với những vấn đề thiết thực, nóng
PCNN chính luận
Văn bản hành chính
DẠNG 6: Yêu cầu nhận diện các biện pháp nghệ thuật
* Một số phép tu từ ngữ âm:
- Phối hợp nhịp ngắn và nhịp dài: một số câu văn có lúc nhịp ngắn và nhịp dài.
Nhịp ngắn diễn tả cái náo nức hay dữ dội; nhịp dài thường diễn tả cảm xúc hay nối
tiếp của nhịp ngắn một cách cụ thể hơn.
- Hài thanh: phối hợp thanh bằng và thanh trắc.
- Tính chất đóng, mở của âm tiết.
- Phép điệp: thuộc vào phép tu từ ngữ âm gồm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh.
* Một số phép tu từ từ vựng:
Các phép tu từ từ vựng
Khái niệm
Đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc
khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình
So sánh
(giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc được cụ thể,
sinh động), gợi cảm (có tác dụng biểu hiện tư tưởng,
tình cảm sâu sắc) cho sự diễn đạt.
Gọi hoặc tả con vật, đồ vật, cây cối,... bằng những
từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người làm
Nhân hóa
cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,... trở nên gần
gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ,
tình cảm của con người.
Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật,
Ẩn dụ
hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm
tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên
của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan
sắc thái biểu cảm cho ý cần diễn đạt.
- Câu hỏi tu từ: là thủ pháp nghệ thuật nhằm diễn tả cảm xúc và biểu đạt niềm
tin, sự xác nhận chắc chắn trước một đối tượng, một sự việc.
- Phép chêm xen: là bộ phận xen vào trong câu để ghi chú thêm một thông tin
nào đó. Nó có thể nằm ở vị trí giữa câu hoặc cuối câu. Khi nói, khi đọc, nó được
tách ra bằng ngữ điệu; khi viết, nó được tách ra bằng dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc
dấu gạch ngang.
* Một số biện pháp nghệ thuật khác:
- Phép đảo: đảo trật tự cú pháp, đảo ngữ để nhấn mạnh nội dung được đảo lên
trước.
- Phép đối: là biện pháp tạo nên những câu văn, câu thơ có hai vế đối xứng
giữa những từ ngữ tương ứng về số lượng tiếng, về từ loại và về ý nghĩa của các
tiếng, các từ và cả về kết cấu ngữ pháp và nhịp điệu của mỗi vế.
DẠNG 7: Yêu cầu nhận diện các thành phần ngữ pháp của câu
* Các thành phần chính của câu:
Các thành phần chính
Chức năng
- Là thành phần chính của câu nêu lên sự vật, hiện tượng,
Chủ ngữ
… là chủ thể của hành động, trạng thái, đặc điểm,… được
miêu tả ở vị ngữ.
Vị ngữ
- Là thành phần chính của câu nêu lên hành động, trạng
thái, tính chất,… của chủ thể được nói đến ở chủ ngữ.
* Các thành phần phụ của câu:
Các thành phần phụ
Chức năng
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
9
Kiểu câu
Ví dụ
Câu tường thuật
Mẹ đã về.
Câu cảm thán
A! Mẹ đã về.
Câu nghi vấn
Mẹ có về không?
Câu cầu khiến
Mẹ về đi!
* Các kiểu câu chia theo cấu tạo, chức năng ngữ pháp
Kiểu câu
Ví dụ
Nhiều độc giả rất yêu thích những trang văn của nhà văn Tô
Câu chủ động
Hoài.
Những trang văn của nhà văn Tô Hoài được nhiều độc giả
Câu bị động
yêu thích.
Câu khẳng định Tôi đã học hành rất chăm chỉ.
Nhiều bạn học sinh THPT hiện nay không nỗ lực trong học
Câu phủ định
tập.
Câu đặc biệt
Mưa. Gió. Não nùng. (đặt trong tình huống cụ thể).
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
10
- Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình.
- Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình, nhưng điểm
nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm (lời nửa trực tiếp).
Ví dụ:
“Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô gái
ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay
sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng
cúi mặt, mặt buồn rười rượi…”
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Gợi ý: phương thức trần thuật trong đoạn trích là từ ngôi thứ ba của người kể
chuyện tự giấu mình.
DẠNG 11: Yêu cầu nhận diện các lỗi
- Lỗi chính tả (lỗi âm, âm tiết: m - n, ch - tr, gi - r -d, x - s,...
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
11
- Lỗi dùng từ: cần biết được chuẩn mực về dùng từ trên các phương diện: về
nghĩa.
- Lỗi ngữ pháp: câu không đúng cấu trúc ngữ pháp.
- Lỗi lôgíc: ý nghĩa của các từ trong câu, các câu trong đoạn không đúng lôgíc.
- Lỗi phong cách: câu trong văn bản không đúng phong cách ngôn ngữ của
văn bản.
VD: Xác định các lỗi sai trong đoạn văn sau:
“... cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên là một sinh thể có linh hồn
với những tính cách đối địch: vừa hung bạo, vừa dữ rằn. Đây là lối nhân cách hóa
những đặc điểm vốn có của giòng sông thiên nhiên mà chực quan có thể nhìn
thấy”.
Gợi ý:
- Thơ tự do (năm chữ, bảy chữ, tám chữ,...)
- Thơ lục bát
- Thơ song thất lục bát
1.2. Các câu hỏi ở mức độ thông hiểu
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
12
Thông hiểu, nghĩa là nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng, thường nhằm
trả lời câu hỏi tại sao.
- Dạng biểu hiện của đề:
+ Yêu cầu nêu nội dung chính của văn bản, hoặc của một câu, một đoạn nào
đó trong văn bản.
+ Cảm nhận được những đặc sắc nổi bật của văn bản.
+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá nội dung ý nghĩa và hình
thức của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình (mức độ tán thành hay
phản đối).
+ Đặt nhan đề cho văn bản.
1.3. Các câu hỏi ở mức độ vận dụng thấp
Vận dụng, trong môn Ngữ văn, chính là biết thực hành tạo lập sản phẩm diễn
ngôn trong giao tiếp (đọc, nghe, nói, viết). Vận dụng mức độ thấp là biết làm theo,
“bắt chước” những “mẫu mã” hay, đẹp, để tạo ra sản phẩm của mình.
- Dạng biểu hiện của đề: yêu cầu phân tích, nêu tác dụng những đặc sắc nổi
bật của văn bản (về bố cục, từ ngữ, hình ảnh, về cách viết câu, các biện pháp tu từ
được sử dụng,...).
1.4. Các câu hỏi ở mức độ vận dụng cao
Vận dụng ở mức cao muốn chỉ độ khó của sự vận dụng, thực hành; đòi hỏi
phải có sáng tạo; phải vận dụng được khả năng phân tích, tổng hợp; rút ra những
kết luận, nhận xét, đánh giá theo quan điểm của mình.
biện pháp nghệ thuật,... hoặc nêu nhận xét, đánh giá, tình cảm, thái độ của bản
thân... về một vấn đề, một chi tiết nào đó... trong văn bản ngữ liệu thì phần trả lời
nên viết thành đoạn văn ngắn.
- Có trường hợp, ngay ở câu hỏi đã đưa ra yêu cầu về hình thức trả lời (Ví dụ:
trả lời bằng một đoạn văn khoảng 5 câu. Hoặc: viết khoảng 3 câu về tình cảm chủ
đạo của tác giả trong đoạn thơ, đoạn văn,...). Khi đó, học sinh phải đáp ứng đúng
yêu cầu về hình thức trả lời.
Dù trả lời theo hình thức lùi đầu dòng (hay gạch đầu dòng), viết thành đoạn
văn, bài văn hoàn chỉnh thì học sinh cần phải diễn đạt mạch lạc, trôi chảy; rõ ý;
càng có nhiều chất văn càng tốt. Rất hiếm khi học sinh phải trả lời câu hỏi bằng
một văn bản hoàn chỉnh ở phần đọc hiểu. Học sinh chỉ trả lời câu hỏi bằng một bài
văn hoàn chỉnh khi đề bài yêu cầu.
4. Rèn luyện kỹ năng phân bố thời gian hợp lí và trình bày bài viết khoa
học
- Phần đọc hiểu chiếm số điểm là 3/10 của bài văn. Vì vậy thời gian tối đa cho
phần này là 54 phút gồm: đọc đề, làm bài và kiểm tra, sửa chữa. Các em nên tận
dụng hiệu quả thời gian cho phần này. Trong trường hợp có chỗ nào sai, nên dùng
thước kẻ gạch đè lên để bỏ đi, rồi viết tiếp, mà không nên thay giấy thi, vì việc điền
lại các thông tin cá nhân trên phách và chép lại phần bài thi đã làm sẽ mất nhiều
thời gian.
- Học sinh cần trình bày bài viết khoa học, mang tính thẩm mỹ trong phần đọc
hiểu. Sau đây là một ví dụ về cách trình bày bài viết:
Đề bài:
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Học trò con trai ma quỷ
học trò con gái thần tiên
thầy xếp thần tiên ngồi kèm ma quỷ
Bén hơi ma quỷ ghẹo thần tiên
lập lòe đom đóm vĩnh cửu
lực để nâng cao chất lượng sống, cải tạo nòi giống chẳng lẽ bó tay trước những
người đang đầu độc dân tộc mình!
Phát triển sẽ là gì nếu không phải giúp người dân nâng cao đời sống, tạo
môi trường lành mạnh, an toàn để mỗi chúng ta sống và đóng góp cho xã hội,
nhưng thực phẩm bẩn tràn lan hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu
không cắt bỏ sẽ di căn thành ung thư, hãy hành động ngay hôm nay đừng để đến
lúc vô phương cứu chữa .
(Vấn nạn thực phẩm bẩn, chẳng lẽ bó tay? - Th.s
Trương Khắc Trà - Báo Dân trí ngày 3/1/2016)
Câu 5. Nêu nội dung của đoạn trích?
Câu 6. Đoạn trích sử dụng thao tác lập luận gì?
Câu 7. Chỉ ra một biện pháp tu từ trong đoạn trích ? Qua biện pháp tu từ ấy, tác giả
muốn thể hiện thái độ gì khi bàn về thực phẩm bẩn?
Câu 8. Anh/Chị có suy nghĩ gì trước vấn nạn “ thực phẩm bẩn tràn lan hiện nay
như là cái u ác tính cho cả dân tộc”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
15
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
16
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
17
8
11.7%
33
48.5%
23
33.8%
4
6.0%
4. Áp dụng trong tổ bộ môn
100% giáo viên Ngữ văn trường THPT Lê Hồng Phong đã áp dụng các giải
pháp này trong các tiết dạy luyện đề đọc hiểu trên tất cả các lớp 12 và áp dụng
những đơn vị kiến thức phù hợp cho lớp 10, lớp 11 và nhận thấy hiệu quả rõ ràng.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
18
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Phương pháp dạy học của giáo viên có ý nghĩa to lớn đến kết quả bài thi Ngữ
văn nói chung và phần đọc hiểu nói riêng. Do vậy, việc đổi mới phương pháp dạy
học đối với việc rèn luyện phần đọc hiểu ở bậc THPT là một yêu cầu cần thiết, đòi
hỏi nhiều công sức của cả giáo viên và học sinh.
Trên tinh thần đổi mới “lấy học sinh là trung tâm”, giáo viên tổ chức rèn
luyện kỹ năng phần đọc hiểu bằng các giải pháp phù hợp, học sinh hoàn toàn chủ
động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức và nâng cao kết quả bài làm. Bên cạnh đó, mỗi
học sinh cần phải phát huy tinh thần tự học, phải biết biến kiến thức của nhân loại
thành của riêng mình.
Việc rèn luyện kỹ năng phần đọc hiểu cho học sinh THPT, nhất là học sinh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Một số tư liệu lấy từ mạng Internet.
2/ Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, NXBGD, 2007).
3/ SGK Ngữ văn 9 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2006).
4/ Ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn (NXBGD, 2015)
5/ SGK Ngữ văn 10 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2008).
6/ SGK Ngữ văn 11 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2008).
7/ SGK Ngữ văn 12 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2008).
8/ Ôn tập Ngữ văn chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia (NXBGD, 2015)
Người thực hiện: Nguyễn Thị Quế – THPT Lê Hồng Phong
20
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
Kí hiệu viết tăt
GV
HS
THPT
SGK