Một số biện pháp nhằm hạn chế các lỗi thường gặp trong bài văn của học sinh THPT - Pdf 44

TÊN ĐỀ TÀI SKKN
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ CÁC LỖI THƯỜNG
GẶP TRONG BÀI LÀM VĂN” CỦA HỌC SINH THPT
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I.

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

1. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo” (Nguyễn Tuân). Văn học là một
môn nghệ thuật, là môn học vắn với cái đẹp. Học văn là học cách khám phá cái đẹp
của tự nhiên, của xã hội và cuộc sống con người, cái đẹp của sự sáng tạo nên người
đọc, người học không chỉ dùng lí trí để hiểu mà còn phải “cảm” được vẻ đẹp ấy
bằng cả sự rung động của tâm hồn. Muốn hiểu và cảm được cái hay cái đẹp của
một tác phẩm văn học thì học sinh phải yêu thích, say mê. Trong quá trình đọc, tiếp
nhận, học sinh còn phải biết khám phá, phát hiện và sáng tạo. Để minh chứng cho
hoạt động “đọc - hiểu” của mình thì học sinh phải thể hiện bằng bài làm văn cụ thể.
Đây cũng chính là hành trình tiếp nhận – khám phá – chân hiểu và thực hành của
học sinh khi học một tác phẩm văn học ở trường THPT.
2. Trong trường THPT, các bài làm văn của học sinh rất trọng. Bài văn không
chỉ đáng giá học sinh về mặt điểm số mà còn khẳng định việc học sinh đã hiểu, đã
nắm được nội dung bài học ở mức độ nào, cách thức làm bài đảm bảo bố cục, lối
hành văn của một bài văn nghị luận ra sao, để từ đó giáo viên có phương pháp dạy,
có biện pháp rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh một cách phù hợp. Tuy nhiên,
hiện nay trong trường THPT chất lượng học tập môn Văn chưa cao, điểm đánh giá
ở các bài làm văn của học sinh còn rất thấp (chủ yếu là điểm trung bình, yếu, điểm
khá và đặc biệt là điểm giỏi rất khan hiếm). Một mặt do Ngữ văn là môn học khó
chiến lĩnh, lượng kiến thức quá tải, môn học không thuộc “mốt” trong xu hướng lựa
chọn khối thi và nghề nghiệp bây giờ của học sinh cũng như sự định hướng của các
bậc phụ huynh và nhu cầu của xã hội. Mặt khác, có em cũng thích văn, yêu văn
nhưng không phải em nào cũng dễ dàng tiếp thu, rung cảm trước thế giới hình
tượng của văn học để sống với những giá trị Chân - Thiện - Mỹ mà nó mang lại.

Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng bài làm văn, rèn luyện kĩ năng dùng
từ, kĩ năng viết câu, xây dựng đoạn và viết bài văn hoàn chỉnh, đổi mới việc kiểm
tra đánh giá học sinh...? Qua thực tế dạy học, chấm bài, phân tích, sửa chữa những
câu văn, đoạn văn, bài văn của học sinh có chứa nhiều lỗi, tôi đã phần nào khắc
phục trên bằng cách áp dụng “Một số biện pháp nhằm hạn chế các lỗi thường
gặp trong bài làm văn của học sinh”. Trong đề tài này, người viết xin được nêu
lên “các lỗi thường gặp” trong bài làm văn của học sinh, tìm ra “nguyên nhân và
một số biện pháp nhằm hạn chế lỗi” mà học sinh hay mắc phải khi thực hành viết
văn.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Qua đề tài này, người viết sẽ chỉ ra các lỗi về kĩ năng làm văn mà học sinh
thường xuyên mắc phải và nêu lên các biện pháp, cách thức chữa các lỗi trong bài
làm văn của học sinh THPT.
Từ đó giúp học sinh khắc phục các lỗi khi làm bài, trau dồi vốn từ, rèn luyện kĩ
năng làm văn, nâng cao chất lượng bài viết và khả năng thực hành.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Các bài kiểm tra, bài thi, bài làm văn của học sinh ở trường THPT.

2


- Các lỗi thường gặp trong bài viết văn của học sinh.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp tìm hiểu, thống kê, tổng hợp.
- Phương pháp phân tích, xử lý và thực nghiệm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

PHẦN B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

không có cơ sở nào vững chắc hơn, chính xác hơn chính là việc thực hành bằng bài
làm văn cụ thể cùng với điểm số mà học sinh đạt được.
3. Ở chương trình Ngữ văn THPT, phân môn Tiếng việt cũng đã có các bài:
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, Những yêu cầu sử dụng Tiếng Việt (Lớp 10); Thực
hành về nghĩa của từ trong sử dụng, Nghĩa của câu (lớp 11); Giữ gìn sự trong sáng
của Tiếng Việt (lớp 12), các Phong cách ngôn ngữ hay các bài Rèn luyện kĩ năng
làm văn nghị luận: Luyện tập viết đoạn văn nghị luận, Lập dàn ý bài văn nghị luận,
Các thao tác lập luận, diễn đạt trong văn nghị luận....Tuy nhiên với lượng thời gian
quy định theo PPCT thì vẫn rất khó để học sinh có thể nắm và khắc ghi được những
kiến thức cơ bản để vận dụng trong quá trình thực hành viết bài làm văn.
4. Một bài văn nghị luận đúng và hay phải đảm bảo những yêu cầu: xác định
đúng vấn đề cần nghị luận, phải đảm bảo bố cục (3 phần), phải có các luận điểm rõ
ràng, luận chứng chính xác, lập luận chặt chẽ, mạch lạc, lời văn trong sáng và rất
cần một giọng điệu riêng.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1. Thuận lợi.
- Thuận lợi lớn nhất của biện pháp “hạn chế các lỗi thường gặp” trong bài
làm văn của học sinh là môn Ngữ văn trong trường THPT là một trong những môn
học chính, “mũi nhọn” của các bộ môn văn hóa, là một trong bộ ba (Toán, Văn,
Anh) bắt buộc trong kỳ thi THPTQG. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy và
học luôn được sự quan tâm rộng rãi của các ban ngành, nhà trường, giáo viên, hoc
sinh và cả các bậc phụ huynh. Sở GD&ĐT đã tổ chức các hội nghị chuyên đề: Đổi
mới cách ra đề, chấm thi (đổi mới kiểm tra, đánh giá), đổi mới nội dung sinh hoạt
chuyên môn, đổi mới (linh hoạt hóa) các phương pháp dạy học tích cực...
- Đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn ở trường THPT Triệu Sơn 5 nhiệt tình
trong giảng dạy, tâm huyết với nghề, trách nhiệm với học sinh, luôn học hỏi trau
dồi chuyên môn, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao chất lượng dạy học và đặc biệt là
nâng cao chất lượng bài làm văn của học sinh. Việc chấm, trả bài của giáo viên đã
trở thành “thước đo” tình yêu nghề và trách nhiệm với học sinh. Bản thân học sinh
dù không yêu văn, thích văn nhưng cũng không thể lảng tránh môn học bắt buộc

Còn có những giáo viên khi chấm bài thì chưa dành thời gian để chỉ ra các lỗi sai
và trực tiếp sửa các lỗi trong bài viết cho học sinh, lúc chấm bài chỉ phê rất chung
chung như: bài viết sơ sài, câu văn lủng củng, chữ viết còn sai chính tả,... nên khi
học sinh xem bài kiểm tra của mình không thể biết mình mắc những lỗi nào cụ thể.
Bên cạnh đó nhiều thầy cô dạy các bộ môn tự nhiên lại không bao giờ quan tâm sửa
lỗi chính tả, ngữ pháp cho hoc sinh vì cho rằng đây là trách nhiệm của giáo viên
dạy bộ môn Văn.
- Một thực tế nữa khiến cho giáo viên phải trăn trở, ái ngại, phụ huynh không
khỏi lo lắng đó là tình trạng học sinh đắm chìm trong “thế giới ảo”, mải miết lướt
west, chơi game, xem phim mà quên đi việc học tập để rồi khi viết văn đã mang cả
những nhân vật, cảnh phim ảnh nước ngoài, những câu chuyện đọc trên báo chí
hoặc “sáng tạo” bằng cách nói sai sư thật về bản thân. Phần lớn các em đắm chìm
trên facebook với niềm vui checkin, nhắn tin, chát,... và tự “sáng tạo” ra bao nhiêu
dạng ngôn ngữ riêng mà theo các em là rất sành điệu, là phong cách, cá tính...và rồi
khi làm bài các em đã bê tất cả những hệ thống ngôn ngữ “thời @” ấy vào trong vài
viết của mình mà không biết rằng chính sự “sáng tạo” này đã làm cho ngôn ngữ
Việt bị “biến dạng, bóp méo”.
- Riêng ở trường THPT Triệu Sơn 5 tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả, dùng
từ sai, viết không đúng ngữ pháp, ... diễn ra rất nhiều. Do học sinh đều là con em
nông thôn, trong quá trình giao tiếp sử dụng nhiều phương ngữ (từ ngữ địa phương)
nên khi viết văn thì thói quen dùng từ địa phương đã được các em đưa vào trong
bài làm của mình (dưa=dư, nước=nác, đổi=đủn,. ...), và việc biến “văn viết” thành
“văn nói” không thể trách khỏi. Đa số học sinh khi tuyển vào lớp 10 chỉ đạt học lực

5


trung bình, yếu, lượng khá, giỏi rất hạn chế, ít ỏi. Vì vậy, các em mắc rất nhiều lỗi
trong quá trình viết văn.
Từ những thực trạng trên, qua đề tài này tôi xin được chỉ ra các lỗi và đưa ra một

Trong ví dụ trên, học sinh không viết hoa các danh từ riêng, tên địa danh, tên
tác giả. Chữa lại các lỗi chính tả trong câu văn trên là: Bài thơ “Việt Bắc” được Tố
Hữu viết vào thánh 10 năm 1954.
- Viết hoa tùy tiện.

6


Là tự do viết hoa theo thói quen, theo sở thích mà không ý thức được
sai phạm trầm trọng của việc tùy tiện viết hoa. Có những học sinh lại viết hoa tùy
tiện các danh từ chung chỉ hoa lá, cây cỏ, động vật: Tùng, Cúc, Trúc, Mai, Đào,
Liễu sánh cùng rau muống, mồng tơi.
Các từ chỉ loài cây tùng, cúc, trúc, mai, đào, liễu được viết hoa tùy tiện dễ làm
cho người đọc hiểu nhầm là những tên người. Để khắc phục kiểu lỗi này, học sinh
cần nắm vững cách viết hoa các danh từ trong Tiếng Việt, tên riêng của người Việt
phải viết rời từng âm tiết, không dùng dấu gạch nối và viết hoa tất cả các chữ cái
đầu mỗi âm tiết.
Có những học sinh có sở thích “tự buông thả” những từ mà mình thích viết hoa:
H,T,X...
Ví dụ: Tố Hữu là Nhà Thơ lớn của nền văn học Việt Nam, Hoàn cảnh Xã Hội,
Khuynh Hướng Hiện thực, Hợp tác xã Hội....
1.1.2. Lỗi viết tắt.
Đây là dạng lỗi phổ biến trong những năm gần đây, đặc biệt là từ những năm
đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XXI. Viết tắt một phần là do thói quen viết ở vở ghi của
mình, do sự phát triển của mạng xã hội Internet, học sinh nhắn tin, chát....trên
facebook, để kiệm thời gian, dung lượng từ ngữ học sinh viết tắt và dùng kí hiệu rất
nhiều (không=k,ko; gì=j; vợ=vk; chồng =ck; muốn=mún; em=m....) từ đó hình
thành thói quen và từng bước theo vào cả bài làm văn của học sinh mà khó có thể
sửa đổi.
Lỗi viết tắt gồm:

Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai thanh điệu của
âm tiết. Tiếng Việt có tất cả 6 thanh điệu, được ghi bằng 5 dấu thanh: sắc (/), hỏi
(?), ngã (~), nặng (.), uyền (-) và thanh không dấu (ngang). Hiện tượng ghi sai
thanh điệu chỉ xảy ra ở thanh hỏi và thanh ngã: gổ (gỗ), lẽ phải (lẻ phải), sữa chửa
(sửa chữa), củng (cũng), xả hội (xã hội),... Do đặc trưng phát âm của địa phương,
vùng miền nên đây là lỗi rất khó sửa trong phát âm nhưng vẫn khắc phục được
trong chữ viết. Lỗi này gần như học sinh nào (vùng nông thôn) cũng mắc phải,
ngay tên học sinh, tên đề bài học sinh cũng viết sai.
1.2.2. Lỗi chính tả âm vị đoạn tính. Là các âm vị phân bố tiếp nối nhau trên
tuyến thời gian khi phát âm trong âm tiết Tiếng Việt:
- Sai phụ âm đầu: Lẫn lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái ghi phụ âm đầu.
Ví dụ 1: tr/ch: chong tác phẩm, trân thành, chung thành, trà đạp, chủ chương,
từng chải, chông đợi, xáo chộn....
Ví dụ 2: s/x: sương máu, xum họp, hàm xúc, xúc vật, sống xót, xỉ nhục, bổ xung,
xúc tích....
Ví dụ 3: gi/d: thúc dục, dan dối, dành lại, để giành, che dấu, dòn dã, dỗ tổ, giáo
giục, dải phóng, giữ dìn,...
Ví dụ 4: l/n: nẫn nộn, nắc nư, nủng củng, no nắng, nuật nệ, lói lăng,....
- Ghi sai âm đệm: Trong âm tiết Tiếng Việt, âm đệm /u/ phân bố sau phụ âm
đầu được ghi bằng hai chữ cái (u và o) tùy trường hợp. Trong bài viết của học sinh,
hiện tượng ghi sai âm đệm thường có biểu hiện thiếu chữ cái ghi âm đệm.
Ví dụ: Lẩn quẩn, lạn đả, lanh quanh, lay hoay, lằng ngoằng, lắt chắt, ngó ngáy,
ngọ ngậy...
- Ghi sai âm chính: Trong bài viết của học sinh hiện tượng ghi sai âm chính
thường có hai biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn như:
+ ă/â: câm phẫn, che lắp, trùng lập, tối tâm, xăm lăng, hâm hở, đầm thấm, e ắp,
hắp tắp...
+ o/ô/ơ: bốc lột, tận góc, chốp bu, chốp lây, hồi hợp, họp nhất, bộp tai....
Thứ hai là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn với các chữa cái ghi

Do chưa hiểu rõ nghĩa của từ, vốn từ vựng hạn hẹp, không chọn lựa được từ
diễn đạt cho chính xác, phù hợp. Chẳng hạn cùng một từ mang nghĩa “chết” ta có
các từ đồng nghĩa khác như: mất, qua đời, hi sinh, ra đi, quyên sinh, tử vong....
Nhưng nhiều học sinh không biết chọn từ phù hợp với văn cảnh, ngữ cảnh dẫn đến
khi đọc những đoạn văn “vụng” về sử dụng từ đã làm giảm “thiện chí” của người
chấm, ảnh hưởng đến kết quả bài thi.
Ví dụ 1:
+ Triệu Đà dùng mỹ nhân kế cho con trai là Trọng Thủy sang ở rể lại Âu Lạc.
+ Tố Hữu là một nhà văn lớn.
+ Tô Hoài là nhà thơ của thiếu nhi.
+ Khi ra pháp trường anh ấy vẫn hiên ngang đến phút chót lọt.
+ Anh ấy có một yếu điểm: không quyết đoán trong công việc.
Ví dụ 2: + Khi phân tích nhân vật “người vợ nhặt” trong tác phẩm cùng tên của
Kim Lân có em viết: Thị như một con ma đói (hs 12)
+ Khi phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”
của Nguyễn Tuân, học sinh lớp11 có viết: Huấn Cao đã đồng hóa được viên quản
ngục.
+ Nhà văn Nguyễn Trung Thành viết thành Nguyễn Thành Trung. (hs 12).

9


Vì vậy muốn có một bài văn hay, trước tiên ta phải viết sao cho đúng chính tả,
dùng từ phải đúng nghĩa. Để khắc phục lỗi này, giáo viên có thể hướng dẫn học
sinh tham khảm cách dùng từ trong sách giáo khoa, từ điển Tiếng Việt và căn cứ
vào ngữ cảnh.
- Lỗi dùng từ thứ 2 là dùng từ khoa trương, sáo rỗng, lạm dụng từ Hán - Việt:
Do viết quá cầu kỳ, sáo rỗng, còn lạm dụng chữ Hán - Việt mà không hiểu rõ
nghĩa:
Ví dụ: Đối với chúng ta là một học sinh cũng như toàn dân trên dương gian này

nâng cao hiệu quả nội dung và nghệ thuật của câu văn, đoạn văn như: Vẫn đôi mắt
ấy, “đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt”. Đôi mắt nghiêm khắc khi hỏi giấy phép

10


của Tnú. Đôi mắt nhìn kẻ thù bình thản lạ lùng. Đôi mắt Dít ráo rảnh trong khi mọi
người trong làng đều khóc vì cái chết của Mai. (trích bài làm của học sinh).
1.3.2. Lỗi viết câu.
Câu văn có nghĩa là câu văn viết đúng ngữ pháp, diễn đạt mạch lạc, rõ ràng,
trong sáng. Nếu ngữ pháp sai thì nội dung ý nghĩa câu văn cũng không còn trọn vẹn
dẫn đến tối nghĩa, sáo rỗng, thậm chí khiến người đọc hiểu sai, hiểu lệch nội dung.
Nhưng hiện tượng học sinh viết sai ngữ pháp, thiếu các thành phần chính, thiếu vế
trong câu, câu văn tối nghĩa, vô nghĩa rất nhiều. Trong quá trình viết văn, học sinh
chưa xác định được nội dung các ý cần triển khai, tẩy xóa nhiều trong bài thi, làm
cho câu văn lủng củng thiếu rõ ràng, khoa học.
- Sai vì nhầm lẫn giữa trạng ngữ và chủ ngữ:
Ví dụ: Qua tác phầm “Chí Phèo” của Nam Cao đã cho ta thấy số phận bất hạnh
của người nông dân trong xã hội cũ.
Trong câu trên, chưa có chủ ngữ nhưng học sinh rất dễ nhẫm lẫn giữa trạng ngữ
(Qua tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao) là chủ ngữ. Dù cách chữa thành câu văn
đúng rất nhiều, giáo viên cũng đã hướng dẫn cụ thể trong bài học ở chương trình
Ngữ văn lớp 10 (Những yêu cầu sử dụng Tiếng Việt) nhưng vì các em chưa tập
trung vào việc rèn kỹ năng viết câu, viết văn nên sau tiết chữa bài tập trong sách
giáo khoa nhiều học sinh vẫn còn mắc lỗi này.
- Lẫn lộn giữa thành phần phụ chú là vị ngữ:
Ví dụ: Bác Hồ - vị lãnh tự kính yêu của dân tộc Việt Nam
Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ mù đất Đồng Nai
Hồ Xuân Hương, nhà thơ nữ nổi tiếng của văn học Việt Nam thời trung đại.
Cả ba câu trên đều thiếu thành phần vị ngữ, vế sau chủ ngữ chỉ là phần phụ chú

Từng câu trong đoạn văn trên đều đúng ngữ pháp nhưng đoạn văn vẫn không có
được tính thống nhất, chặt chẽ vì các câu lộn xộn, thiếu sự liên kết lôgíc. Cần sắp
xếp lại các câu, các vế câu và thay đổi một số từ ngữ để ý của đoạn mạch lạc và
phát triển theo trình tự hợp lí:
Sửa lại: Thúy Kiều và Thúy Vân là con gái của ông bà Vương viên ngoại. Họ
sống êm đềm dưới một mái nhà, hòa thuận và hạnh phúc cùng cha mẹ. Họ đều có
những nét xinh đẹp tuyệt vời. Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn. Vẻ đẹp
của nàng hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. Còn Thúy Vân có nét đẹp đoan
trang, thùy mị. Về tài, Thúy kiều hơn hẳn Thúy Vân. Thế nhưng nàng đâu có được
hạnh phúc.
Ví dụ 2: (1)Điều đáng chú ý là thiên nhiên chuyển biến thật mau lẹ, vũ trụ vận
động thật nhanh chóng. (2)Cả vũ trụ bao la từ mặt đất đến bầu trời bỗng rực rỡ tươi
sáng. (3)Trong chốc lát màu hồng thay thế cho bóng tối đêm tàn. (4)Để nhấn mạnh
sự biến đổi nhanh chóng và triệt để ấy Bác đã dùng cụm từ “dĩ thành hông”, “tảo
nhất không”.
Trong đoạn văn trên tuy từng câu rất đúng ngữ pháp nhưng người đọc, người
nghe vẫy thấy rằng sự kiện được nêu lên còn rời rạc, lủng củng. Có thể nhận xét
rằng, sự sắp xếp các câu trong đoạn văn chưa mạch lạc. Nếu chuyển đổi vị trí các
câu, sắp xếp theo thứ tự 1,4,3,2 thì nội dung đoạn văn sẽ trở nên rõ ràng, chặt chẽ,
lôgíc.
1.4.2. Đoạn văn quá ngắn, chưa hoàn chỉnh, ý rời rạc.
Một số học sinh có thói quen viết đoạn văn tùy tiện, không theo cách thức nào,
chưa hết ý đã qua hàng. Mỗi đoạn văn có khi chỉ là một, hai câu rời rạc, có khi chỉ
là một vế câu.
Ví dụ: - Bài thơ “Đất Nước” viết 1948 – 1955.
- Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924 ở Lào, quê ở Phú Xuyên, Hà Đông. Sau
cách mạng tháng Tám làm tổng thư kí Hội văn hóa cứu quốc.
- Bài thơ được Nguyễn Đình Thi viết xong năm 1955 sau khi kháng chiến
chống pháp kết thúc. Sau đó bài thơ được in trong tập “Người chiến sĩ’ 1958.
Ý của ba “đoạn văn” trên rời rạc, thiếu các phương tiện liên kết. Học sinh còn

tháng sống cùng với các dân tộc thiểu số ông đã hiểu được cuộc sống của người
dân nơi đây, từ đó tác phẩm “Người lái đò sông Đà” ra đời.
- Lẫn lộn giữa nhân vật trong tác phẩm này với nhân vật trong tác phẩm
khác:
Ví dụ: Nhầm lẫn giữa nhân vật thị (Vợ nhặt) với Mị (Vợ chồng A Phủ), Tnú
(Rừng xà nu) với Việt (Những đứa con trong gia đình)... Những nhầm lẫn này phần
lớn tập trung ở những học sinh lười đọc sách, lười học, không nắm được kiến thức
cơ bản của TPVH, vô hình chung học sinh đã bê nhân vật của nhà văn này sang ở
với nhân vật của nhà văn khác (đưa thị - vợ của Tràng sang ở với A Phủ và ngược
lại).
- Trích dẫn chứng thiếu chính xác, không biết lựa chọn dẫn chứng phù hợp,
điển hình....biến câu văn, câu thơ lạc ý hoặc tối nghĩa:
Ví dụ:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mêng mông không một chuyến đò xuôi.

13


Vì vậy khi trích dẫn câu thơ, câu văn, đoạn văn nếu không nhớ chính xác từng
từ, câu thì nên trích bằng những từ, cụm từ lồng ghép vào trong câu văn để đảm
bảo tính bám sát và triển khai nội dung mạch lạc như: Trên đường đưa người vợ
nhặt về nhà, Tràng cảm thấy có cái gì “phớn phở” khác hẳn với ngày thường, hắn
cười “tủm tỉm” và hai mắt thì sáng lên “lấp lánh”.
Để khắc phục lỗi này, giáo viên hướng dẫn học sinh nêu dẫn chứng ngay sau
luận điểm, luận cứ của vấn đề, đưa dẫn chứng nguyên bản vào dấu ngoặc kép, dẫn
chứng tóm tắt nội dung vào ngoặc đơn.
1.6. Lỗi sai kiến thức cơ bản.
Sai về nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, nhầm tên tác giả, tác phẩm, đánh giá
chưa đúng về nhân vật, tình huống truyện,...

phương
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính 30/53
20/45
Lỗi dùng từ
35/53
Lỗi diễn đạt
30/45
Lỗi viết câu
30/43
20/45
Câu trong đoạn không có sự 25/43
Lỗi
xây liên kết lôgíc về mặt ý nghĩa. 15/45
dựng đoạn Đoạn văn quá ngắn, chưa hoàn 30/43

14


văn

chỉnh, ý rời rạc.
Nhầm lẫn giữa hoàn cảnh ra
Đưa
dẫn đời của các tác phẩm văn học.
chứng không Lẫn lộn giữa nhân vật trong
chuẩn
xác tác phẩm này với nhân vật
vào bài văn. trong tác phẩm khác.
Trích dẫn chứng thiếu chính
xác, không biết lựa chọn dẫn

chưa cao, nhiều em lười, không thích học môn Văn, khi viết bài thì không đầu tư
thời gian, công sức suy nghĩ, phần vì môn Văn đối với các em là quá khó, viết
nhiều, điểm ít, phần thì viết văn để đối phó khi thầy cô giáo giao bài tập, thậm chí
cá biệt có em thầy cô giáo giao đề về nhà (bài kiểm tra định kỳ môn Văn THPT, có
bài học sinh làm ở nhà) cũng không làm. Có em thì học và làm theo kiểu đối phó
trong thi cử “méo mó có hơn không” (làm bài kiểu chiếu lệ), viết ẩu, chữ viết cẩu
thả, xấu, sai chính tả nhiều, dù bản thân tôi đã yêu cầu các em mua vở ô ly về tập
viết và trực tiếp kiểm tra nhưng các em vẫn viết xấu, sai chính tả.
2.1.2. Thực tế cho thấy, các em yêu thích (đi theo) các môn KHTN hơn. Các môn
tự nhiên vẫn hấp dẫn các em hơn bởi “viết ít điểm nhiều”. Đây là xu hướng, là tâm
lý chạy theo các môn học “thời thượng”, môn học thực dụng có nhiều cơ hội lựa
chon ngành nghề thi vào ĐH, CĐ nên việc xa nhãng môn Văn đã ảnh hưởng đến
việc đọc, tích lũy vốn từ, kiến thức, rèn luyện chữ viết và kết quả điểm bài làm văn
của các em.

15


2.1.3. Do các em học sinh ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa phát âm không chuẩn,
phát âm như thế nào thì viết như thế ấy nên sai chính tả khá nhiều.
2.2. Nguyên nhân khách quan.
2.2.1. Ảnh hưởng Internet. Ngày nay đông đảo học sinh đều sử dụng điện thoại.
Ngoài số ít biết khai thác, tận dụng để học tập thì phần lớn chỉ để nhắn tin, chơi
game, xem phim và chát. Khi “chát” các em đã biến Tiếng Việt thành công cụ để
cắt xén, thêm bớt và tự tạo nên một thứ ngôn ngữ mới – “ngôn ngữ thời @” và
“mặc định” với nhau trên các trang mạng, đặc biệt là facebook. Nào là ngôn ngữ
không dấu, cách diễn đạt “rút gọn đến mức tối đa”, pha trộn giữa tiếng Ta và tiếng
Tây... mà theo các em như thế mới là sành điệu, là phong cách.... Ngôn ngữ phản
ánh tư duy. Việc thường xuyên sử dụng ngôn ngữ “sáng chế” như thế sẽ làm “cùn”
đi tính thẩm mỹ và sự tinh tế, trong sáng vốn có của ngôn ngữ truyền thống thậm



3. Một số biện pháp nhằm hạn chế các lỗi thường gặp trong bài làm văn của
học sinh.
Việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một việc làm thường xuyên, liên
tục và tiên quyết của giáo viên khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản văn học
và làm bài văn nghị luận. Xét cho cùng thì mọi sự thành công đều xuất phát từ tình
yêu, niềm đam mê và ý chí, trách nhiệm. Một bài văn đúng, hay cũng không ngoài
thông lệ đó. Dù kinh nghiệm chưa nhiều, đề tài mới được thử nghiệm hai năm gần
đây ở lớp 10,11,12 nhưng người viết xin được mạnh dạn đưa ra một số biện pháp
để hạn chế các lỗi tong bài làm văn của học sinh.
3.1. Cần bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu thích văn chương.
Có yêu thích, đam mê thì các em mới chủ động đến với môn Văn. Để học sinh
hứng thú với tiết đọc - hiểu văn học thì giáo viên phải biết chiếm lĩnh được tình
cảm của các em với môn học bằng nhiều phương pháp dạy phù hợp, linh họat. Đầu
tiên là phải tạo “tâm thế” cho học sinh bằng không khí thật thoải mái, sôi nổi qua
cách vào bài, giới thiệu bài bằng một huyền thoại, giai thoại, một câu chuyện hay
những bài thơ đồng sáng tạo. Đây là cách thu hút học sinh tập trung vào bài học
hữu hiệu nhất mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học và qua đề tài “Tạo tâm
thế” trong giờ đọc - hiểu văn bản Văn học dành cho học sinh THPT năm học 20102011 đã được HĐKH ngành công nhận. Để các em tiếp nhận, hiểu, cảm được cái
hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm
hiểu, khai thác, phát hiện ra nội dung ý nghĩa của văn bản cũng như thông điệp mà
nhà văn gửi gắm. Phải biết khen, chê kịp thời, đúng lúc, đúng thời điểm. Đặc biệt là
những em có tiến bộ, cố gắng trong bài viết của mình.
3.2. Rèn luyện chính tả và chữ viết cho học sinh.
Ông cha ta thường nói “nét chữ là nết người” quả không sai. Nhìn vào chữ viết
của người đó chúng ta phần nào đoán biết được tính cách của họ. Nhìn một bài văn
viết chữ sạch, đẹp giáo viên đã có thiện cảm. Vì vậy, để học sinh viết đúng chính tả,
rõ ràng, sạch đẹp giáo viên cần rèn luyện chữ viết, cách phát âm cho sinh khi các
em nói, viết chưa chuẩn.

3.4. Rèn luyện cách viết câu cho học sinh.
Đây là công việc của cả thầy cô và gia đình. Học sinh ngày càng chịu ảnh
hưởng rất nhiều từ xã hội. Các em thường nói những câu cụt ý, thiếu chủ ngữ, vị
ngữ. Điều này cũng được thể hiện trong bài văn. Giáo viên phải kiên trì uốn nắn
cho học sinh khi phát vấn, đối thoại với học sinh và sửa trên bài kiểm tra, sau đó
yêu cầu các em viết lại.
3.5. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn.
Trong tiết học rèn kĩ năng làm văn nghị luận, giáo viên có thể đưa ra câu chủ
đề sau đó yêu câu học sinh viết đoạn văn. Hoặc cho học sinh viết đoạn mở bài, kết
bài của bài văn nghị luận.
Ví dụ: Viết đoạn văn với câu chủ đề: Phẩm chất trắng trong của Chị Dậu.
Chị Dậu là một người phụ nữ có nhan sắc, chị có cái đẹp của cô gái Cầu Lim,
Đình Cẩm như tác giả nhận xét. Nhưng tấm lòng của chị trắng trong như băng
tuyết. Chỉ vì xuất siêu mấy đồng bạc, chị đã phải khổ sở, điêu đứng rất nhiều,
nhưng chị đã khinh bỉ ném nắm bạc vào mặt tên quan phủ dâm ô. Hai lần bị cưỡng
hiếp, hai lần chị đã cương quyết chống lại và thoát ra được. Đạo đức của chị, lòng
kiên trinh của chị, tiền tài không làm hoen ố được, sức mạnh và uy vũ của bọn
thống trị không lung lạc được. (Chủ đề được nêu ở câu thứ 2, được làm sáng tỏ qua
câu thứ 3, thứ tư và được khái quát ở câu cuối)
3.6. Rèn luyện kĩ năng viết một bài văn đảm bảo bố cục 3 phần.
- Dạy kĩ nhiệm vụ của từng phần trong bố cục một bài văn nghị luận: Mở bài,
Thân bài, Kết bài. Giao đề cho học sinh lập dàn ý, sau đó thực
hành viết bài.
- Một bài văn đảm bảo tính khao học phải có bố cục 3 phần đầy đủ, rõ ràng.
Khuyết một phần bài văn không thể trọn vẹn, điểm thấp.

18


- Chính bản thân tôi khi dạy và dặn dò học sinh khi làm bài, tôi thường so sánh

tiếng
địa
5/45
phương
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính
10/53
4/45
Lỗi dùng từ
13/53
Lỗi diễn đạt
7/45
Lỗi viết câu
10/43
8/45
Câu trong đoạn không có sự liên 10/43
Lỗi
xây kết lôgíc về mặt ý nghĩa.
5/45
dựng đoạn Đoạn văn quá ngắn, chưa hoàn 10/43
văn
chỉnh, ý rời rạc.
5/45
Nhầm lẫn giữa hoàn cảnh ra đời 5/43
của các tác phẩm văn học.
0/45
Đưa
dẫn Lẫn lộn giữa nhân vật trong tác 3/43
chứng không phẩm này với nhân vật trong tác 0/45
chuẩn
xác phẩm khác.

Nguyễn Văn Huy, Lê Khắc Trường (lớp 10C6), Tô Văn Hùng, Nguyễn Trọng
Chung, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Hoàng (11A3).
1.3. Chất lượng bài văn được nâng cao, điểm yếu, kém giảm nhiều, điểm trung
bình, khá được nâng lên (đầu năm lớp 10C6 chỉ được 28 học sinh điểm 5 trở lên,
kiểm tra cuối kỳ chỉ còn 6 em dưới điểm trung bình).
1.4. Chữ viết sạch, đẹp hơn, các em biết lựa chọn từ ngữ, biết sửa câu sai, viết
câu đúng ngữ pháp và đặc biệt là bố cục một bài văn đã đầy đủ, không bị khuyết
phần như đầu năm học.
2. Một số bài học kinh nghiệm.
Qua quá trình thử nghiệm những biện pháp trên, tôi rút ra được một số kinh
nghiệm cho việc “hạn chế lỗi trong bài làm văn” của học sinh như sau:
2.1. Trong các tiết Tiếng Việt về (sử dụng từ, viết câu,…), các tiết Rèn kĩ năng
làm văn nghị luận cho học sinh, giáo viên phải chuẩn bị bài chu đáo, hướng dẫn các
em cụ thể, chi tiết cách làm một bài văn nghị luận bằng những phương pháp dễ
hiểu, dễ khắc ghi.
2.2. Giáo viên cần đầu tư thời gian, tâm huyết cho việc chấm trả bài, khen – chê
bài làm của các em với thái độ khách quan, đúng mực. Tránh tình trạng để có học
sinh trở nên tự mãn, tự kiêu; học sinh quá tự ti, xấu hổ. Giáo viên cần có sổ ghi
chép các kiểu lỗi trong bài làm của những học sinh mắc nhiều lỗi, theo dõi học sinh
yếu kém để có biện pháp khắc phục kịp thời.

20


2.3. Các “biện pháp nhằm hạn chế lỗi” trong bài làm văn của học sinh cần được
áp dụng triệt để, linh hoạt ở các khối lớp và tùy đối tượng học sinh.
3. Kiến nghị và đề xuất.
3.1. Đối với ngành giáo dục, ban ngành:
- Tiếp tục tổ chức kỳ thi HSG để thu hút, pháp hiện những học sinh có năng
khiếu, tình yêu, niềm đam mê đối với văn học. Tuy nhiên ra đề phải phù hợp năng

3. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 NXBGD Việt Nam – năm 2012
4. Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 NXBGD Việt Nam – năm 2006
5. Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên dạy học, kiểm tra đánh giá theo Chuẩn kiến thức,
kỹ năng trong Chương trình giáo dục phổ thông - bộ DG và ĐT – năm 2010.
6. Từ vựng - Ngữ nghĩa Tiếng Việt NSXB ĐHQG Hà Nội – Đỗ Hữu Châu
7. Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt NXBGD – Mai Ngọc Chù, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến – năm 1997.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status