Cách ra đề mở một hình thức đổi mới trong tác phẩm chí phèo của nam cao - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU
---------- h ----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁCH RA ĐỀ “MỞ” - MỘT HÌNH THỨC ĐỔI MỚI
TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO

Người thực hiện:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
SKKN thuộc lĩnh vực (môn):

THANH HÓA, NĂM 2016

Ngô Thi Bình
Giáo viên
THPT Lê Văn Hưu
Ngữ văn


MỤC LỤC
Trang
THANH HÓA, NĂM 2016...........................................................................1
MỤC LỤC.....................................................................................................2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................3
I. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI.........................................................................3
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU................................................................4
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.............................................................4
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................4

sinh sau khi tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn học ấy có thể hiểu được cặn kẽ
các vấn đề đặt ra trong văn bản là một điều không hề đơn giản. Đặc biệt là việc
giải quyết các đề thi theo hướng “mở” - một hình thức đổi mới giống mấy năm
gần đây ở tất cả các kì thi từ cấp cơ sở đến cấp Bộ. Điều này đã và đang thu hút
mọi đối tượng từ học sinh đến giáo viên và các cơ quan quản lý giáo dục đều rất
quan tâm. Bởi chỉ có cách ra đề theo hướng đổi mới như vậy mới phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, tăng cường khả năng làm việc
của học sinh, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các dạng đề
cụ thể, tạo hứng thú cho người học.
Cách ra đề “mở” - một hình thức theo hướng đổi mới nhằm giúp học sinh
tích cực, hứng thú trong việc làm bài, bởi đề thi theo hướng này học sinh không
phải học thuộc lòng, nhớ chi tiết, tỉ mỉ những cái mà thầy đã dạy trong văn bản.
Tuy nhiên, người học cũng phải trên cơ sở của phần kiến thức cơ bản mà giáo
viên đã hướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu văn bản đó để lựa chọn lượng
đơn vị kiến thức sao cho phù hợp với yêu cầu của đề bài ra. Có như vậy bài viết
của học sinh mới trúng và đúng theo yêu cầu của đề, đồng thời cũng thuyết phục
được người đọc, người nghe. Nhưng trong việc dạy học này của chúng ta cũng
đang đứng trước bao thách thức, khó khăn bởi phần lớn học sinh bây giờ đều
ham chơi, lười học, đặc biệt khi ôn tập, làm đề theo kiểu đổi mới là học sinh
ngại tư duy, lười suy nghĩ vì thấy nó khó, từng vấn đề không hề dễ dàng theo
kiểu những đề bài vô cùng cơ bản như từ trước đến nay mà các em vẫn hay làm
như kiểu bài: “phân tích, cảm nhận” của em về một đoạn thơ hay một hình
tượng, một nhân vật trong tác phẩm mà em đã được học, đọc thêm.
Vậy vấn đề đặt ra là phải làm sao để định hướng cho học sinh trong quá
trình ôn tập, làm đề phải dần dần làm quen với những kiểu đề, dạng đề ra theo
hướng đổi mới như mấy năm gần đây để khi bước vào các kì thi các em không
còn bỡ ngỡ với những kiểu đề, dạng đề như vậy? Đó là nỗi trăn trở không chỉ
của người giáo viên trực tiếp đứng lớp mà đó là còn là điều băn khoăn của cả
các đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo của nước ta. Để đáp
ứng được nhu cầu giáo dục cho học sinh, Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã chú

phẩm Chí Phèo của Nam Cao.
Nếu đề tài này được áp dụng sẽ giúp học sinh vận dụng một cách linh hoạt,
chủ động, sáng tạo kiến thức đọc văn trong khi giải quyết các đề thi theo hưởng
“mở” trong các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm Chí Phèo nói riêng.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Tìm hiểu về cách ra đề mở theo cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ giáo dục
và đào tạo: về khái niệm, mục tiêu, yêu cầu và nội dung.
2. Tìm hiểu về định hướng khai thác tác phẩm và cách ra đề “mở” theo cấu
cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ trong tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao.
3. Kiểm chứng qua thực tiễn dạy học.


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁCH RA ĐỀ “MỞ”-MỘT
HÌNH THỨC ĐỔI MỚI THEO CẤU TRÚC ĐỀ THI CỦA BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO.
I. Quan niệm về đề thi theo hướng “mở”:
Đề kiểm tra, đề thi theo hướng “mở” là đề văn không giới hạn bài làm
trong một lối mòn tư duy và những khuân mẫu chung về hình thức nhưng vẫn
gợi mở giúp học sinh có định hướng về cách viết. Đề văn “mở” giảm thiểu tối đa
tính hạn định, tạo khả năng cho học sinh tự lựa chọn vấn đề và cách giải quyết
vấn đề. Đề “mở” yêu cầu cao ở học sinh sự sáng tạo, linh hoạt, những suy nghĩ,
cảm thụ độc lập, khó có thể lệ thuộc vào tài liệu tham khảo. Đề “mở” không
những kích thích khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh mà còn có thể phân loại
được học sinh.
II. Mục tiêu của việc ra đề theo hướng “mở”
Đổi mới cách ra đề thi theo hướng “mở” là một trong những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông, tạo điều
kiện cho học sinh phát huy tính độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo khi làm

tạo ở nhà trường phổ thông.
IV. Thực trạng và nhu cầu đổi mới cách ra đề thi môn Ngữ văn
1. Thực trạng đề thi môn Ngữ văn hiện nay
Hiện nay, trong cấu trúc đề thi THPT quốc gia đã có sự hợp lí vì bên cạnh
đề văn nghị luận văn học đã có đề văn nghị luận xã hội. Ra đề văn nghị luận xã
hội là một hình thức rèn luyện tốt khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh trước
một vấn đề của xã hội, của cuộc sống; một hình thức giáo dục tư tưởng, tình cảm
trực tiếp khá hữu hiệu; cũng là một hình thức để chống sao chép và chống học
thuộc văn mẫu vẫn diễn ra khá phổ biến ở học sinh phổ thông.
Khách quan mà nói, đề thi quốc gia những năm gần đây cơ bản vẫn theo
kiểu đề truyền thống. Đề văn truyền thống thường đảm bảo ba tiêu chí: có yêu
cầu về nội dung nghị luận, có giới hạn phạm vi kiến thức văn học, nhận thức về
đời sống xã hội; có định hướng kiểu bài và thao tác lập luận; có giới hạn về
phạm vi tư liệu cần có trong bài làm. Loại đề này còn có thể gọi một cách khác
là đề “đóng”, "đề khép kín" (chữ dùng của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống).
Đề truyền thống có những ưu điểm như: chú trọng kiểm tra vốn văn học, tình
cảm, đạo đức và nhận thức về đời sống xã hội của học sinh. Đề văn truyền thống
còn góp phần khơi gợi sự hứng thú học tập bộ môn ngữ văn, tình yêu tiếng Việt
cũng như bồi dưỡng năng khiếu cho những học sinh giỏi văn.
Tuy nhiên, đề truyền thống vẫn bộc lộ những hạn chế. Cụ thể là:
Đề truyền thống thường nêu yêu cầu về "kiểu bài" với mệnh lệnh: hãy giải
thích, phân tích, chứng minh, bình luận... để dẫn đến sự ngộ nhận trong mỗi bài
văn nghị luận chỉ dùng một vài thao tác lập luận nhất định. Điều đó thiếu cơ sở
khoa học và thực tiễn. Bởi trên thực tế không bài văn nào chỉ dùng riêng lẻ một
thao tác lập luận. Bất kì bài văn hay nào cũng là sự vận dụng tổng hợp nhiều
thao tác, dĩ nhiên bao giờ cũng có một thao tác chính đóng vai trò chủ đạo, các
thao tác khác chỉ là hỗ trợ và phục vụ cho thao tác chính. GS Phan Trọng Luận
đã đánh giá: "Cái dở nhất của đề thi văn hiện nay là chủ yếu nhắm đến khâu tái
hiện kiến thức theo kiểu "nhớ lại" chứ không chú ý đến vận dụng kiến thức của
học sinh", "quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy kiểu đề với mấy chủ điểm quen

"thỏa hiệp" một chiều" (Sự rung cảm và sáng tạo của học sinh có nguy cơ mòn,
Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 6- 2005).
Trước phản ứng của dư luận, của chính cả người học, một yêu cầu cấp thiết
được đặt ra đó là phải đổi mới cách ra đề văn. Việc đổi mới ra đề thi văn đã
được thực hiện, bắt đầu từ Sách Giáo khoa cấp THCS. Tuy nhiên trong thực tế,
rất nhiều đề văn trong Sách Giáo khoa Ngữ văn hiện hành vẫn ghi: hãy phân
tích, hãy bình luận, hãy giải thích, hãy so sánh... Nghĩa là vẫn chưa thoát khỏi
dạng đề truyền thống. Học sinh vẫn phải viết văn theo yêu cầu có sẵn. Tất yếu
sự sáng tạo của học sinh sẽ bị hạn chế. Vì những lẽ đó, vấn đề đặt ra là phải đổi
mới cách ra đề văn, nhất là đề văn theo hướng mở.
CHƯƠNG II: ĐỀ “MỞ”- MỘT HÌNH THỨC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH
GIÁ MÔN NGỮ VĂN
I. Những ưu điểm và hạn chế của đề văn “mở”
1. Ưu điểm
So với đề văn truyền thống, đề văn “mở” có nhiều ưu điểm nổi trội. Tránh
sự nhàm chán, lặp lại trong khi ra đề thi. Đối với học sinh, đề “mở” mang tính
gợi mở, nó kích thích được khả năng tư duy, phát triển trí thông minh. Học sinh
tha hồ, thỏa chí phát huy năng lực sáng tạo của mình. Trước đây, vì ra đề theo
kiểu truyền thống buộc giáo viên chỉ ra trong phạm vi những gì đã dạy, đã học,
nghĩa là trong phạm vi chương trình, không vi phạm vào "Chuẩn kiến thức kĩ
năng"; giáo viên nào không tuân thủ những yêu cầu trên sẽ bị khiển trách, phê
bình. Để làm được bài, học sinh phải nhớ kiến thức. Không ít học sinh học thuộc
lòng cả bài thầy cô giảng, nếu không thuộc thì quay cóp tài liệu. Ra đề văn theo
hướng “mở” (mở về kiến thức, mở về kỹ năng, về phương pháp làm bài. Tuy
“mở” nhưng vẫn không thoát ly nội dung chương trình và Chuẩn kiến thức kỹ


năng) học sinh sẽ không phải tốn nhiều thời gian cho việc học thuộc lòng, không
phải mất công mất sức ngồi "nhai lại" khối lượng kiến thức khổng lồ đã học.

Chấm bài với giáo viên không chỉ là đánh giá, đọc văn của học sinh và lời nhận
xét trong bài làm của học sinh, đối với giáo viên phải giống như lời trò chuyện,
trao đổi và tranh luận để cho học sinh hiểu, do vậy giáo viên phải chọn giải pháp
nào là tốt nhất có thể, chứ không thể chấm theo lối áp đặt chủ quan được.
II. MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ ĐỀ VĂN “MỞ”
1. Đề nghị luận văn học:
Đề 1: Hình tượng bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
của Thạch Lam.
Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong
truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
2. Đề nghị luận xã hội
Đề 1: Trong bức thư của một du học sinh Nhật bàn về văn hóa Việt Nam có


đoạn:
Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000
năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịc sử chứ không được thể hiện
trong cách hành xử đời thường.
Là một người Việt trẻ tuổi, anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Đề 2: Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến sau:
Người đầu bếp, người quét rác, cũng như thầy giáo, kĩ sư, nếu làm tròn
trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau (Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị bằng một bài văn không quá 600 chữ
III. CÁCH LÀM ĐỀ VĂN “MỞ”
Cũng như các đề làm văn khác, đề mở cũng phải đảm bảo những yêu cầu
cần thiết người viết phải quan tâm. Nhưng khác với các dạng đề văn thông
thường, trong đề đã bao hàm cả yêu cầu về nội dung và kiểu bài, thao tác nghị
luận, đề mở vì tính chất mở nên người làm văn phải tự tìm hiểu. Tuy vậy, dù
muốn hay không người ra đề cũng như người viết bài cũng phải nêu được cách
hiểu và những ý cơ bản cần phải đạt được trong bài viết. Tức là phải hình thành

- Kết bài: Chốt lại vấn đề, nêu suy nghĩ, bài học cho bản thân.
3.3. Quy tắc sắp xếp ý trong dàn ý
Tùy vào vấn đề, đối tượng cần thuyết phục và cách lập luận mà người viết
có thể sắp xếp theo những dàn ý khác nhau. Việc sắp xếp ý cần linh hoạt, nhưng
cũng phải tuân thủ một số quy tắc nhất định:
- Các ý lớn phải ngang hàng nhau và cùng làm sáng tỏ cho vấn đề trọng
tâm.
- Các ý nhỏ phải nằm trong ý lớn và làm sáng tỏ cho ý lớn. Cần trình bày ý
theo một thứ tự tránh trùng lặp ý.
- Có ý bắt buộc phải trình bày trước rồi mới tiếp tục trình bày ý khác. Đề
văn trên: Ý giải thích phải trình bày trước phân tích, sau đó mới bình luận.
- Cần xác định mức độ các ý cho hợp lí. Trong một bài văn, các ý không
phải bao giờ cũng đồng đều và được trình bày ngang nhau. Có ý cần nêu kĩ, có ý
chỉ cần nói qua, vừa đủ. Đề văn trên: Hai ý giải thích và bình luận không cần nói
kĩ bằng ý phân tích.
CHƯƠNG III: CÁC DẠNG ĐỀ “MỞ” TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO
CỦA NAM CAO
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Về nhà văn Nam Cao :
- Nam Cao ( 1917- 1951), là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở cả
hai giai đọan trước và sau Cách mạng tháng Tám.
- Là một nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, có tấm lòng đôn hậu,
chan chứa tình thương, gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông
dân nghèo khổ.
- Tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám thường tập trung
viết về hai đề tài: Người trí thức nghèo và người nông dân nghèo (Đời thừa,
Giăng sáng, Sống mòn; Chí Phèo...)
2. Truyện ngắn “Chí Phèo”:
2.1. Nhan đề:
- “Cái lò gạch cũ”: (do nhà văn đặt lần 1) Là một chi tiết nghệ thuật gắn

CMT8 và giải quyết mâu thuẫn ấy bằng những biện pháp quyết liệt. Đồng thời,
tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ của nhà văn: Phát hiện, miêu tả
phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi họ bị xã hội TDPK thối nát
biến thành quỷ dữ.
2.4. Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
2.4.1. Giá trị nội dung :
- Giá trị hiện thực: Phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa,
mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương.
- Giá trị nhân đạo:
+ Cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân cố cùng bị đọa đầy, lăng
nhục, bị cự tuyệt quyền làm người. Qua đó NC bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc
với nỗi khổ và sự bất công lương thiện của người l/đ lương thiện ấy.
+ Lên án gay gắt những thế lực tàn bạo đã gây nên tấn bi kịch tha hóa, lưu
manh hóa, bị cự tuyệt quyền làm người (Cha con thống lí, nhà tù, những thành
kiến, định kiến – bà cô TNở)
+ Trân trọng, nâng niu những nét đẹp của người nông dân. đồng thời nhà
văn còn phát hiện, khám phá, miêu tả những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện của
người nông dân ẩn đằng sau tâm hồn u mê, cằn cỗi ngay cả khi họ bị XH thực
dân nửa PK tàn ác biến thành thú dữ (vẻ đẹp CP, thị Nở) .
+ Qua tấn bi kịch và số phận bi thảm của Chí Phèo, t/g đã cất lên tiếng kêu
cứu thảm thiết, đầy phẫn uất cho người nông dân lương thiện: Làm thế nào để
cho con người được sống một cuộc sống xứng đáng trong cái xã hội vùi dập
nhân tính ấy; hãy tiêu diệt hoàn cảnh phi nhân tính, hãy làm cho hoàn cảnh trở
nên nhân đạo hơn.
2.4.2. Giá trị nghệ thuật:
- Xây dựng nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa sống động, có
cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.
- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại gần gũi, tự nhiên, giọng điệu đan
xen biến hóa, trần thuật linh hoạt.
- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lôgic.

- Nêu tác giả, tác phẩm, xuất xứ của cả hai nhân vật, hai hình tượng nghệ
thuật.
- Làm rõ từng chi tiết, từng nhân vật, từng đoạn văn xuôi
+ Cảm nhận về đối tượng thứ nhất:
Nội dung
Nghệ thuật
+ Cảm nhận về đối tượng thứ nhất 2:
Nội dung
Nghệ thuật
- So sánh sự tương đồng và khác biệt
+ Sự tương đồng
+ Sự khác biệt
1.2.3. Kết bài: Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật
2. Các dạng đề “mở” trong tác phẩm Chí Phèo
2.1. Đề 1: Khi nghĩ về Chí Phèo ( truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao), thị
Nở thành thật: “Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương”. Anh, chị hãy bày
tỏ suy nghĩ của mình về ý kiến trên.


Gợi ý:
Các
ý
1
2

3

4

Nội dung

bị tha hóa, lưu manh hóa, đáng thương)
- Nhân vật Chí Phèo trong quan hệ với thị Nở là bước ngoặt quan 1.75
trong trong sự phát triển tính cách của Chí. Nhà văn làm lộ những
phần nhân cách đẹp nhất về con người với quá khứ bình dị, chân
chất, với tình yêu và khát vọng hạnh phúc nho nhỏ và cả bản tính
lưu manh, liều lĩnh của Chí. Bi kịch hoàn toàn tan vỡ khi Chí Phèo
bị thị Nở từ chối tình yêu, cánh cửa trở về với cuộc sống làm người
hoàn toàn khép lại. Đỉnh điểm của bi kịch là hành động giết Bá Kiến
và tự vẫn của Chí Phèo. (Cái kết thúc cuộc đời đáng thương)
Đánh giá chung
0.5
- Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch của người nông dân lương thiện
bị tha hoá. Nhưng từ trong sự tha hoá, họ vẫn khao khát một cuộc
sống lương thiện và khao khát sự trở về với cuộc sống bình thường,
lương thiện của người nông dân. Hai biểu hiện lưu manh và lương
thiện được miêu tả thành công trong tình huống bất ngờ: cuộc tình
với thị Nở. Tình yêu và bàn tay đàn bà chăm sóc, yêu thương giúp
hắn nhận ra bao nhiêu trang đời đẹp đẽ, nhận ra hắn trên con đường


đời cô độc và bất hạnh, nhận ra mơ ước và khát khao giản dị, xứng
đôi. Năm ngày thằng lưu manh sống lương thiện, vui vẻ, hạnh phúc
sau bao nhiêu khổ sở. ( Sự cảm thông chia sẻ của thị Nở và nhà
văn). Đó chính là giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao
- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Phát
huy cao độ sở trường khám phá và miêu tả tâm lý; sử dụng ngôn
ngữ và cách trần thuật tự nhiên tạo nên thành công của tác phẩm.
2. 2. Đề 2: (Học sinh chỉ làm được đề này khi đã học tác phẩm Vợ nhặt của
Kim Lân - Ngữ văn lớp 12)
Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:

khát vọng hạnh phúc, được yêu thương vẫn ẩn sâu trong con quỷ dữ
Chí Phèo sau bao nhiêu năm tháng bị vùi lấp bởi rượu, máu và nước
mắt. Chí không dám nói một lời “cầu hôn” thẳng thắn, rõ ràng mà
chọn cách nói lấp lửng thể hiện sự âu lo, phấp phỏng của một thân
phận bị chối bỏ với một niềm hi vọng mong manh.
- Về Nghệ thuật:
+ Cách Là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của
cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách tâm lí và cảnh ngộ của
nhân vật.
+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ của ngòi bút
Nam Cao.
b. Về chi tiết Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên
xe rồi cùng về trong Vợ nhặt - Kim Lân
- Về nội dung:
+ Tràng là một chàng trai nông dân nghèo, ế vợ.
+ Trước tình cảnh của người đàn bà bị cái đói xô đẩy, Tràng đã đãi
thị bốn bát bánh đúc. Sau đó, Tràng nói một câu với hình thức như
một câu nói đùa: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên
xe rồi cùng về. Câu nói đùa nhưng lại thể hiện niềm khát khao hạnh
phúc có thật, mãnh liệt cháy bỏng thẳm sâu trong người nông dân
nghèo ấy mà ngay cả nạn đói và cái chết cũng không thể dập tắt.
+ Lời nói của Tràng có vẻ như đùa song ngọn lửa hạnh phúc trong
Tràng đước thắp lên từ câu nói đùa ấy lại thật sự bùng cháy. Tràng
trân trong hạnh phúc của mình cũng như bằng tất cả những gì có thể,
anh biến cuộc hôn nhân với thị trở nên đàng hoàng, nghiêm túc.
- Về nghệ thuật:
+ Là một chi tiết góp phần tạo nên một tình huống truyện độc đáo
và ý nghĩa, tạo bước ngoặt cuộc đời và tâm lí của nhân vật, thể hiện
chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ của ngòi bút

sâu trong con quỷ dữ Chí Phèo, sau khi cảm nhận được tình yêu
thương mộc mạc, chân thành ở thị Nở. Câu nói cho thấy anh nông
dân Chí hiền lành, chân chất ngày xưa đã sống lại, thay thế hoàn
toàn cho con quỷ dữ Chí Phèo.
+ Ở Vợ nhặt, chi tiết khẳng định sức mạnh của tình người, của khát
vọng mái ấm gia đình, sống trong tình yêu thương chiến thắng sự đe
dọa của nạn đói và cái chết.
Đánh giá chung:
0.25
Hai chi tiết nhỏ đã thể hiện khả năng thấu hiểu, đồng cảm và sự trân
trọng của hai nhà văn đối với vẻ đẹp và sức sống tâm hồn người
nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Đó là sự tiếp nối xuất
sắc của nam Cao và Kim Lân với mạch nguồn nhân đạo của văn học
Việt Nam

2.3. Đề 3: (HS phải học xong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài – SGK
Ngữ văn 12 mới làm được)
Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà
nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam
Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà
nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô
Hoài, Ngữ văn 12)
Gợi ý:
Các
ý
1

Nội Dung
Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và giới hạn đề.
- Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân

+ Âm thanh đó đã đánh thức trong Chí những cảm xúc của con
người. Chí nhớ về quá khứ, ý thức được hiện tại và nghĩ đến tương lai.
- Về Nghệ thuật:
+ Là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt
truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách tâm lí và bi kịch của nhân vật.
+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ của ngòi
bút Nam Cao.
Về chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà
nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A
Phủ - Tô Hoài)
- Về nội dung:
+ Mùa xuân trên miền núi Tây Bắc được miêu tả rất đẹp, sắc màu
của những chiếc váy hoa, tiếng cười nói của đám trẻ chơi quay đợi
tết, đặc biệt là tiếng sáo da diết xoáy sâu vào trái tim tưởng như
băng giá của Mị.
+ Mị nhớ về quá khứ; nhận thức được hiện tại, thấm thía thân
phận và hành động (uống rượu, xắn mỡ,…)
+ Âm thanh đó đã làm thức dậy trong Mị ý thức về tình yêu, hạnh
phúc và lòng khát khao cuộc sống tự do.
- Về nghệ thuật:
+ Là một chi tiết góp phần làm thay đổi trạng thái tâm lí của nhân vật.
+ Tài nghệ miêu tả tâm lí sống động cũng như tấm lòng nhân đạo
(phát hiện ra sức sống tiềm tàngVề chi tiết “Mị nghe tiếng sáo
vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm
tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) …) của nhà văn
So sánh:
- Sự tương đồng:
+ Đó là những âm thanh hết sức diệu kì, nó len lỏi vào tận sâu tâm
hồn vốn tưởng như đã chết của nhân vật để khơi dậy trong họ niềm
ham sống và khát khao sống mãnh liệt.

dại, vô cảm về tâm hồn giờ đã “thấy phơi phới trở lại”,…
Đánh giá khái quát.
0.25

2.4. Đề 4
Nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao đã ôm mặt khóc
rưng rức. Đến nhân vật Hộ trong Đời thừa, nhà văn cũng miêu tả: "Nước mắt
hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc...Ôi
chao! Hắn khóc! Khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc”.
Suy nghĩ của anh/ chị về ý nghĩa hai tiếng khóc trên.
Gợi ý:
Các
Nội dung
Điểm
ý
1
Giới thiệu vấn đề nghị luận
0.25
- Nam cao là nhà văn nhân đạo lớn, một ngòi bút hiện thực tâm lí
xuất sắc, bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn. Chí Phèo và Đời thừa
là những đỉnh cao trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn trước cách
mạng tháng 8/1945
- Tiếng khóc của nhân vật Hộ và nhân vật Chí Phèo trong truyện
rất giàu ý nghĩa
2
Ý nghĩa tiếng khóc của Hộ
1.25
- Ý nghĩa nội dung:
0.75
+ Sau những hành vi thô bạo đối với vợ con, khi tỉnh rượu, Hộ đã

ngay cả khi người nông dân tưởng chừng đã biến thành quỷ dữ.
- Ý nghĩa nghệ thuật
0.5
+ Đây là chi tiết nghệ thuật đắt giá, có sức chứa lớn về nội dung
và tư tưởng, cảm xúc, góp phần khắc họa sinh động hình tượng nhân
vật; thể hiện sự dẫn giải hợp lí trong quá trình phát triển tâm lí, tính
cách nhân vật;
+ Để lại dư âm sâu xa trong sự tiếp nhận của người đọc, gợi sự xu
hướng vận động của số phận nhân vật trong truyện.
4
Sự tương đồng và khác biệt của hai tiếng khóc
1.0
- Sự tương đồng
0.5
+ Là những chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa, không chỉ làm cho
hình tượng nghệ thuật sinh động mà còn góp phần làm nổi bật tư
tưởng, chủ đề tác phẩm
+ Tiếng khóc chất chứa một nỗi niềm, một số phận, một cuộc đời;
biểu hiện thấm thía nỗi đau thân phận khi hai nhân vật trải qua
những tấn bi bịch đau đớn trong cuộc đời.
- Sự khác biệt
0.5
+ Tiếng khóc của hai nhân vật bật ra ở những hoàn cảnh khác nhau.
+ Tiếng khóc của Chí phèo là tiếng khóc của người nông dân ý
thức nỗi đau bị cự tuyệt quyền làm người, còn tiếng khóc của Hộ là
tiếng khóc của người trí thức nghèo, trung thực, có hoài bão, có
nhân cách, nhưng phải lâm vào tình trạng Đời thừa.
5 Mở rộng, đánh giá
- Liên tưởng đến tiếng khóc của các nhân vật cùng hoặc khác tác
0

Chứng minh ý kiến
3.0
a. Chí Phèo là người nông dân bị tước đoạt nhân hình, nhân tính 1.0
- Chí Phèo bị hủy hoại nhân hình: Chí Phèo là đứa trẻ mồ côi,
được dân làng nuôi, lớn lên là một anh canh điền hiền lành, chất
phác; vì ghen tuông bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù; sau khi ra tù
Chí Phèo đã thay đổi về ngoại hình với cái đầu cạo trọc lốc, mặt
gườm gườm …trở thành một kẻ lưu manh, bị bá Kiến lợi dụng.
- Chí biến thành một Chí Phèo bị tước đoạt nhân tính: Hắn triền
miên trong những cơn say, đập phá bao nhiêu cơ ngơi, làm chảy bao
nhiêu máu và nước mắt của những người dân lương thiện. Chí Phèo
đã thực sự bán linh hồn cho quỷ dữ.
b. Chí Phèo muốn trở lại làm người mà không được
1
- Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa Chí Phèo với thị Nở đã giúp Chí .5
Phèo hồi sinh về tâm hồn và khao khát hoàn lương.
- Sự chối từ của bà cô thị Nở khiến Chí Phèo ý thức sâu sắc về bi
kịch bị cự tuyệt quyền sống, quyền làm người. Chí Phèo đã đến nhà
bá Kiến, tuyên án, kết tội, tiêu diệt kẻ thù và tự sát.
- Cái chết của Chí Phèo cho thấy niềm khát khao cháy bỏng được
sống lương thiện; nói lên sự bế tắc chưa tìm được lối thoát của
người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến; có sức tố cáo
xã hội mạnh mẽ…
c. Nghệ thuật
- Nhà văn miêu tả nhân vật đặc sắc từ chân dung, tính cách đến
0
đời sống tâm lí phong phú, đa dạng; khắc họa thành công nhân vật .5
điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
- Giọng điệu tự sự xen lẫn trữ tình, ngôn ngữ đa thanh, đa giọng,
mang tính triết lí sâu sắc về cuộc sống và thân phận con người.


C . KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Cách ra đề “mở” - một hình thức đổi mới theo cấu trúc đề thi của Bộ giáo
dục và đào tạo trong các văn bản văn học cấp THPT nói chung, tác phẩm Chí
Phèo nói riêng nhằm phát triển năng lực, các kĩ năng và tạo điều kiện cho học
sinh phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong quá trình làm bài kiểm tra,
bài thi; đồng thời góp phần phá vỡ lối mòn trong tiếp cận và đọc hiểu văn bản,
phá vỡ những khuân mẫu truyền thống trong phương pháp dạy - học văn như:
quá trình tiếp nhận, khám phá văn bản trong trình tự các bước mà không quan
tâm nhiều đến đặc điểm riêng về thể loại và phương thức biểu đạt. Đề thi “mở”
và đáp án mở được xây dựng dựa trên hệ thống năng lực chung và năng lực đặc
thù của môn học chính là đích đến của quá trình dạy học, là thước đo đánh giá
phù hợp cũng như độ tin cậy về chất lượng học tập môn Ngữ văn theo chương
trình, sách giáo khoa mới sau năm 2015 ở nhà trường phổ thông.
2. Một số kiến nghị
2.1. Thứ nhất: Trong qúa trình ra đề kiểm tra, đề thi nên hạn chế việc ra đề
mở quá đà
Đề “mở” là một hình thức ra đề phù hợp với thực tế dạy và học hiện nay.
Tuy nhiên, không ít thầy cô giáo ra đề "hơi quá đà". Hiện tượng này báo chí đã
phản ánh khá nhiều. Có trường hợp giáo viên ra đề không rõ mục đích giáo dục
là gì, thậm chí còn kích động những suy nghĩ phản giáo dục trong học sinh.
Chẳng hạn đề văn yêu cầu học sinh nhập vai Cám để kể chuyện Tấm Cám. Đây
đúng là một đề văn đặt ra một yêu cầu quá khó cho học sinh. Nếu nhập đúng vai
Cám, một nhân vật đại diện cho cái ác, tất yếu các em phải tưởng tượng mình là
một kẻ ác. Như thế đề văn đã vô tình cho các em suy nghĩ và thể hiện ra cái xấu.
Còn khi học sinh không thể hiện Cám là xấu thì có nghĩa là học sinh không hiểu
truyện Tấm Cám, và không hoàn thành bài làm.
GS Đỗ Ngọc Thống từng nói rất đúng:
“Cần khuyến khích những suy nghĩ sáng tạo, mới lạ. Dạy học làm văn

khép kín của phân môn Làm văn: phải có bài lí thuyết về đề văn mở để hình
thành khái niệm kiểu bài; luyện tập các thao tác làm bài theo hướng “mở” và
chấm trả bài làm văn theo hướng “mở”. Trong dạy học, dạy văn là phải khơi gợi
được cho học sinh cách cảm thụ vấn đề văn học mang tính sáng tạo, phải khuyến
khích học sinh cách cảm, cách nghĩ riêng, không dạy áp đặt, không đọc chép.
Thật lí tưởng khi có được giờ dạy học văn thành một giờ trao đổi, bàn luận, định
hướng. Để có những đổi mới cần thiết đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện
đại, giáo viên cũng phải đổi mới tư duy, phải không ngừng nâng cao trình độ
chuyên môn ngiệp vụ. Tuy nhiên, chỉ phía giáo viên là chưa đủ, cải tiến giáo dục
phải từ trên xuống, chứ không thể chỉ cá nhân có thể làm thay đổi được cục diện.
Một thực tế hiện nay, không chỉ ở môn Ngữ văn, mà còn diễn ra ở nhiều
môn học khác trong nhà trường phổ thông, là học gì thi nấy, đề thi năm nay thế
nào tất yếu sẽ kéo việc dạy và học sẽ thay đổi theo. Nếu không thay đổi cách ra
đề thi thì đổi mới phương pháp dạy học đã phát động lâu nay chỉ là đổi mới nữa
vời. Chính thi cử sẽ tác động trở lại cách dạy và học buộc người dạy phải thay
đổi. Giáo viên có "mở" trong cách dạy mới hướng học sinh tới cách "mở" trong
suy nghĩ và làm văn được. Đó là một tất yếu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng với điều kiện thời gian ngắn,
trình độ bản thân có hạn chắc chắn đề tài còn có nhiều hạn chế, thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, hội đồng khoa học
ngành để sáng kiến này thực sự có ý nghĩa trong việc dạy học, kiểm tra đánh giá
học sinh của bộ môn Ngữ văn ở trường THPT nói chung, chương trình Ngữ văn
lớp 11 nói riêng.
XÁC NHẬN CỦATHỦ
Thanh Hóa, ngày 17 tháng 5 năm 2016
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CAM KẾT KHÔNG COPY.
Người viết

Ngô Thị Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status