Tham luận Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tiểu vùng sông
Mê Kông”
Tên tham luận “Lễ Dolta và hội Đua bò trong định hướng phát triển du lịch bền
vững vùng Bảy Núi”
Lâm Thị Mai Sương Tú- Trường đại học An Giang
1. Dẫn nhập
An Giang thuộc vùng đất miền Tây Nam bộ, dân số toàn tỉnh 2.150.282 người, gồm
người Việt, người Hoa, người Chăm, người Khơme sinh sống. Người Khơme ở An Giang
là một trong các dân tộc thiểu số, chiếm 4.21% tổng dân số toàn tỉnh; trong đó tập trung
đông nhất tại hai huyện miền núi Tri Tôn (35.142 người Khơme, chiếm 29.1% dân số
huyện) và Tịnh Biên (44.969 người Khơme, chiếm 33.78% dân số huyện) (số liệu điều
tra vào cuối năm 2009). Lễ hội cổ truyền của đồng bào Khơme ở Tây Nam Bộ nói chung
và ở tỉnh An Giang nói riêng luôn mang đậm nét văn hóa truyền thống góp phần làm
phong phú thêm cho hệ thống lễ hội của tỉnh. Trong đó, lễ Dolta (Lễ cúng ông bà) được
tổ chức cùng với hội Đua bò tạo nên sức hấp dẫn riêng của lễ hội của người Khơme tỉnh
An Giang cũng như cho vùng đất địa đầu biên giới (Tịnh Biên và Tri Tôn). Lễ hội của
người Khơme trong những năm gần đây được sử dụng để phục vụ du lịch, nổi bật nhất là
hội Đua bò Bảy Núi, thu hút hàng triệu lượt khách du lịch đến với Bảy Núi mỗi năm. Tuy
nhiên, việc khai thác và sử dụng lễ hội như một tiềm năng du lịch vẫn còn nhiều bất cập,
chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, việc định hướng để sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên lễ hội là một việc cần thiết, vừa đảm bảo duy trì được nét đẹp văn hóa vừa tạo
điều kiện phát triển kinh tế của vùng.
2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của lễ Dolta và hội Đua bò
Năm 1992, hội Đua bò vùng Bảy Núi chính thức được UBND huyện Tri Tôn tổ
chức như một cuộc thi đấu với các quy định về luật chơi, đội chơi và cơ cấu giải thưởng.
Để tạo kinh phí cho việc tổ chức và nâng cao giá trị giải thưởng, ban tổ chức thường vận
động tài trợ từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Số tiền vận động để hỗ trợ cho các
khoản về giải thưởng, sân thi đấu, trật tự an ninh, trọng tài và các chi phí về băng rôn,
1
Trong công tác tổ chức, hội Đua bò còn bộc lộ nhiều yếu kém về các vấn đề sân bãi,
luật lệ thi đấu, trọng tài, trật tự an ninh. Về sân bãi, hội Đua bò vẫn tận dụng sân ruộng
của chùa để làm trường đua, còn khán giả đến xem cuộc thi đứng xung quanh bờ ruộng.
Vì chưa có một sân đua chuyên nghiệp nên ngoài phần sân ruộng làm đường đua là cố
định còn các khu vực khác như khán đài, lễ đài, khu vực của đại biểu và ban tổ chức thì
mỗi năm phải dựng lên tạm thời. Khán giả đến xem đua bò phải đứng chen chúc thành
nhiều vòng, nhiều lớp từ trên bờ ruộng tràn xuống gần đến sân đua. Sân đua cũng chưa có
khu vực an toàn dành cho báo, đài tác nghiệp nên các nhiếp ảnh gia và phóng viên cũng
phải đứng gần với đường đua gây ảnh hưởng đến các đôi bò trong lúc thi đấu. Đội ngũ
trọng tài của hội Đua bò còn thiếu chuyên nghiệp, chủ yếu do cán bộ của trung tâm
TDTT huyện hoặc cán bộ SVHTD&TD đảm nhiệm. Mỗi năm hội Đua bò diễn ra một lần
nên các trọng tài không được huấn luyện thường xuyên để phản ứng nhanh với các tình
huống xảy ra. Luật lệ thi đấu cũng còn nhiều bất cập, chưa bám sát tâm lý của người chơi
nên gây trở ngại cho trọng tài trong việc ra quyết định thắng thua. Do số lượng đôi bò thi
đấu mỗi năm tăng lên nên trong luật thi đấu cũng đã bỏ bớt số vòng hô từ ba vòng xuống
chỉ còn chưa đến một vòng. Thêm vào đó, một số chủ bò do mới tham dự lần đầu nên
chưa am hiểu luật chơi nên cũng gây ra sự tranh cãi, dẫn đến xô xát. Nhận định từ Ban tổ
chức cuộc thi cũng nhận thấy việc phân xử thắng thua trong cuộc thi đua bò rất khó khăn
do sự quan sát của trọng tài mang tính chủ quan và các yếu tố khách quan tác động đến
bò nên dễ gây tranh cãi.
Hội Đua bò còn thu hút những thành phần cơ hội, lợi dụng hội thi để thực hiện
những hành vi trái pháp luật, cá độ trong hội Đua bò là một ví dụ. Ngày xưa khi hội Đua
bò còn chưa phát triển và ít người biết đến, người Khơme khi đi xem hội thường thách
với nhau xem đôi bò nào sẽ giành giải thưởng cao nhất và sự thách đấu được giải quyết
bằng một gói thuốc, một ly cà phê hoặc một vài ly rượu. Ngày nay, khi hội phát triển thì
các cuộc cá cược mang tính giải trí giữa những người Khơme có nâng cao hơn với một
bữa ăn nhậu hoặc vài thùng bia để ngồi cùng nhau trò chuyện, bàn bạc về hội thi đã qua.
Hình thức cá độ với số tiền lớn, mang tính chất cờ bạc bắt đầu xuất hiện khi có sự tham
đến 0
2012
5.348.85
Tăng bình quân
2001-2005
2006-2012
6,3%
7,0%
1
An Giang
Nguồn: Sở VHTT&DL An Giang
Khách du lịch đến An Giang với các mục đích như tham quan, nghỉ dưỡng, hành
hương, tìm hiểu các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số trong đó du khách đến hành
hương chiếm số lượng đáng kể. Lễ hội lớn nhất và đón được nhiều khách du lịch nhất là
lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam. Theo thống kê của phòng Văn hóa thành phố Châu Đốc,
năm 2013, chỉ trong 6 ngày diễn ra lễ hội đã có đến 520.000 lượt khách, chiếm tỷ lệ
12,73% trong tổng số hơn 4 triệu lượt khách đến với thành phố Châu Đốc và 9,08% so
với tổng lượng khách đến An Giang.
4
30.000
(Nguồn: Phòng Văn hóa TP. Châu Đốc, huyện Tịnh Biên và Tri Tôn)
Ngoài lễ hội vía Bà, An Giang còn có nhiều lễ hội khác trong năm như lễ Đức Cố
Quản Trần Văn Thành, giỗ Nguyễn Hữu Cảnh, giỗ Thoại Ngọc Hầu, một số lễ hội truyền
thống của dân tộc Khơme như Chol Chnam Thmay, Ok Om Bok, lễ hội Roya của người
Chăm…Tuy nhiên, chỉ có lễ hội vía Bà là được quan tâm, đầu tư và khai thác du lịch
tương đối hiệu quả, còn các lễ hội khác chỉ mang tính địa phương, hầu như chưa có sự
đầu tư để phục vụ du lịch. Trong những năm gần đây, du khách còn biết đến An Giang
qua hội Đua bò Bảy Núi, một nét văn hóa đặc sắc của của người Khơme An Giang. Theo
thống kê qua số lượng vé bán ra vào hội Đua bò qua các năm thì số lượng khách đến xem
hội Đua bò dao động khoảng trên dưới 30.000 lượt khách. Điều này cho thấy hội Đua bò
đang trở thành điểm sáng du lịch của tỉnh An Giang bên cạnh lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi
Sam. Tuy nhiên, với những vấn đề còn tồn tại trong công tác tổ chức và hoạt động của
hội Đua bò cần xem xét lại để có thể khai thác lễ-hội tương xứng với tiềm năng định
hướng phát triển du lịch cho vùng.
Hội Đua bò từ lâu được xem như một hoạt động Hội gắn liền với lễ Sen Dolta của
người Khơme vùng Bảy Núi nhưng hoạt động của hội Đua bò được quan tâm đầu tư để
khai thác du lịch hơn so với lễ Dolta. Điều này cho thấy sự mất cân đối trong việc định
hướng đầu tư phát triển du lịch của vùng vì nếu xét về tiềm năng thì lễ Dolta hoàn toàn có
thể khai thác để phục vụ du lịch. Nếu hội Đua bò mang nhiều yếu tố giải trí, thi đua, tranh
tài để tạo không khí sôi nổi, phấn khởi cho người nông dân vào mùa vụ mới thì lễ Dolta
chứa nhiều nghi lễ phản ánh đời sống tín ngưỡng của người Khơme. Mặt khác, lễ Sen
5
Dolta của người Khơme Bảy Núi vẫn giữ được các yếu tố truyền thống với đầy đủ các
nghi thức như đặt cơm vắt, cúng ông bà, cúng linh, cúng tiễn và kéo dài trong 16 ngày.
Một số nơi có người Khơme sinh sống ở ĐBSCL đã rút gọn số ngày và một số nghi thức
của lễ Dolta để phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Chính vì vậy, khi tham dự
việc phát triển du lịch lễ hội. Vì lễ hội là một yếu tố cấu thành của văn hóa tinh thần của
cộng đồng, nó thể hiện đời sống tinh thần của cộng đồng nên cần được tôn trọng và bảo
vệ. Du lịch bền vững quan tâm đến việc phát triển du lịch nhưng không gây hại đến các
giá trị văn hóa của cộng đồng mà lại còn tôn trọng và phát huy các giá trị đó. Để có thể
phát huy ưu điểm này, du lịch bền vững yêu cầu các bên có liên quan như cá nhân, cộng
đồng, thành phần tư nhân, thành phần quản lý nhà nước tham gia vào các quá trình lập kế
hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên có liên quan về vai trò của họ. Ưu điểm
thứ hai của du lịch bền vững đóng vai trò then chốt, có tính chất quyết định khi định
hướng phát triển lễ hội vào hoạt động du lịch. Với ưu điểm này, du lịch bền vững là sự
lựa chọn đúng đắn cho việc phát triển du lịch lễ hội, đồng thời cũng phù hợp với quan
điểm phát triển du lịch của vùng và quốc gia.
Với tư cách là một ngành kinh doanh thì du lịch bền vững phải tạo ra được lợi ích
kinh tế cho cộng đồng. Thông qua các hoạt động du lịch, cộng đồng được cải thiện đời
sống kinh tế, chất lượng cuộc sống được nâng lên. Khác với du lịch đại chúng chỉ nghĩ
đến lợi ích trước mắt mà khai thác triệt để các nguồn tài nguyên để phục vụ du lịch, du
lịch bền vững hướng tới việc bảo tồn và phát huy các nguồn tài nguyên cho mục đích
phục vụ du lịch lâu dài. Nếu có kế hoạch thiết lập và thực hiện đồng bộ các khâu, quá
trình thì du lịch bền vững không chỉ là nguồn thu nhập đáng kể mà còn là phương tiện để
lưu giữ các giá trị truyền thống của dân tộc. Du lịch bền vững góp phần nâng cao đời
sống của cộng đồng qua việc thu lại lợi ích kinh tế để phục vụ trở lại cho cộng đồng. Khi
đời sống kinh tế được cải thiện thì nhận thức của cộng đồng đối với các giá trị văn hóa
cũng được nâng cao, từ đó việc bảo tồn các giá trị văn hóa sẽ đem lại hiệu quả hơn.
Để có thể khai thác các giá trị truyền thống vào hoạt động du lịch mà không làm
biến dạng các giá trị văn hóa của dân tộc, cần có sự liên kết giữa các thành phần có liên
quan như nhà nước, cộng đồng và thành phần tư nhân. Đối với thành phần nhà nước, bao
7
gồm UBND, Sở VHTT&DL, Phòng Văn hóa huyện, Trung tâm TDTT huyện đóng vai trò
quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu, đề ra chiến lược bảo tồn, phát huy các giá
khiển bò trong trang phục dân tộc trổ tài thi diễn cho du khách thưởng thức. Bên cạnh
việc xem đua bò, du khách còn có thể tham gia vào lễ của người Khơme và tìm hiểu các
nghi thức cúng cũng như ý nghĩa của từng nghi thức. Các trò chơi dân gian và nghệ thuật
trình diễn của người Khơme cũng có thể được kết hợp tổ chức để du khách có cơ hội
khám phá thêm nhiều nét văn hóa đặc sắc của người Khơme. Trên cơ sở của mô hình đó,
cần đa dạng thêm các dịch vụ tham quan, vui chơi cho du khách như thử làm người điều
khiển bò, tham gia nhảy múa trong lễ hội cùng với người Khơme, tham gia vào các trò
chơi dân gian hoặc đưa khách đến tham quan các làng nghề truyền thống của đồng bào
Khơme.
Cần đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật để phục vụ cho du lịch lễ
hội. Nâng cấp các tuyến đường giao thông trọng điểm nối các điểm du lịch để đáp ứng
nhu cầu di chuyển của du khách, vận chuyển hàng hóa phục vụ cho du lịch. Hiện nay,
tỉnh lộ 941 nối quốc Tri Tôn với quốc lộ 91 tại Châu Thành đang được sửa chữa và làm
mới là điều kiện thuận lợi để các phương tiện vận chuyển lưu thông trên tuyến đường
này. Ngoài ra, các tuyến đường QL N1 (nối QL91 tại Tịnh Biên qua Tri Tôn đến QL80 tại
Hà Tiên); Tỉnh lộ 943 (nối Tri Tôn qua Thoại Sơn đến QL91 tại TP.Long Xuyên); tỉnh lộ
948 (nối Tri Tôn qua Tịnh Biên đến QL91); tỉnh lộ 955B (nối Tri Tôn - Ba Chúc - đến QL
N1) cũng đã được nâng cấp để đảm bảo việc liên kết các điểm du lịch trọng điểm trong
vùng Bảy Núi. Các tuyến đường trên đều cho phép các xe khách từ 6 chỗ đến 46 chỗ lưu
thông, ngoài ra còn có hệ thống xe buýt di chuyển đến từng điểm du lịch. Trong tương
lai, để đa dạng hóa phương tiện vận chuyển nhằm tạo cảm giác mới lạ cho du khách thì
các nhà đầu tư nên thiết lập đội xe bò, xe ngựa phục vụ chuyên chở du khách trong phạm
vi một huyện, đi từ phum này đến phum khác để trực tiếp thưởng thức các giá trị văn hóa
của cộng đồng.
Đối với dịch vụ lưu trú và ăn uống, cần xây dựng thêm nhiều nhà hàng, khách sạn
đạt chuẩn để phục vụ khách du lịch. Hiện nay, các dịch vụ ăn uống và lưu trú chỉ phát
triển mạnh quanh khu vực núi Sam- Châu Đốc, khu vực Tịnh Biên, Tri Tôn thì còn hạn
9
báo, bảng hướng dẫn và số điện thoại đường dây nóng khi có các trường hợp nghiêm
trọng xảy ra.
Trong những năm gần đây, hội Đua bò Bảy Núi thu hút nhiều người từ khắp nơi đến
thưởng thức một nét văn hóa đặc sắc của một dân tộc ở vùng biên giới Tây Nam bộ.
Thông qua các báo, đài của Trung ương, tỉnh và huyện, hội Đua bò Bảy Núi được giới
thiệu đến du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để cho sản phẩm du lịch lễ hội được
du khách biết đến nhiều hơn nữa cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá và xúc
tiến du lịch lễ hội. Cần thường xuyên tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá bằng các
hình thức như truyền hình, báo đài, thực hiện phóng sự, chuyên đề, tổ chức hội chợ, hội
thảo hoặc quảng bá trên các website trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, phát hành
một số ấn phẩm văn hóa như băng, đĩa, bưu ảnh thông tin về lễ hội để du khách hiểu
thêm về lễ hội. Việc xúc tiến du lịch còn được thực hiện qua sự liên kết giữa các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch trong tỉnh và ngoài tỉnh nhằm giao lưu, trao đổi, đa dạng hóa
các chương trình tham quan phục vụ khách du lịch.
Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực phục vụ du lịch lễ hội.
Cần thường xuyên mở các lớp ngắn và dài hạn để bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên
môn của cán bộ quản lý. Các khóa học phải đảm bảo các yêu cầu về quản lý, tổ chức lễ
hội cũng như kiến thức văn hóa dân tộc, các quy tắc phát triển du lịch kết hợp với bảo tồn
và phát huy các giá trị của lễ hội nhằm khai thác có hiệu quả vào hoạt động du lịch. Đội
ngũ hướng dẫn viên du lịch cũng cần được đào tạo chuyên nghiệp và am hiểu kiến thức
văn hóa dân tộc, đây là vấn đề cấp bách khi phát triển du lịch lễ hội vì hiện nay lực lượng
hướng dẫn viên của địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu về kiến thức lẫn nghiệp vụ.
Đối với lực lượng lao động địa phương, nên ưu tiên sử dụng nguồn lực tại chỗ là cộng
đồng địa phương để phục vụ trong các dự án du lịch, bao gồm cung cấp các dịch vụ du
lịch tại các cơ sở, các điểm du lịch. Nâng cao sự hiểu biết của người dân địa phương đối
với các giá trị truyền thống của dân tộc để có nhận thức đúng đắn khi phục vụ khách du
lịch. Tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp, ứng xử với du khách cho cộng
11