1
zBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………
LUẬN VĂN
Đánh giá thực trạng và định hướng
phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa đã tạo ra rất nhiều điều kiện
thuận lợi cho việc giao lưu, hợp tác, phát triển về mọi mặt, mọi lĩnh vực trong đời
sống xã hội như văn hóa, giáo dục…, đặc biệt là kinh tế.
Ngày nay kinh tế phát triển đã đưa con người lên một tầm cao mới. Con
người giờ đây không chỉ biết ăn ngon, mặc đẹp, mà còn biết hưởng thụ những thú
vui trong cuộc sống. Vì thế trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành một nhu
cầu không thể thiếu trong cuộc sống kinh tế xã hội và phát triển với tốc độ ngày
càng nhanh.
Cùng với sự phát triển của du lịch thế giới và khu vực, du lịch Việt Nam
cũng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Thị trường du lịch Việt Nam ngày
càng khẳng định lợi thế, tiềm năng to lớn, đáp ứng nhu cầu của du khách trong khu
vực và thế giới. Vì thế, Việt Nam được xem là điểm đến an toàn và thân thiện,
nhiều khu du lịch được hình thành, hệ thống khách sạn, nhà hàng và dịch vụ trong
cả nước phát triển mạnh. Trong đó phải kể đến du lịch của tỉnh Cà Mau.
Cà Mau là vùng đất tận cùng cực Nam của Tổ quốc, vùng đất mà các bậc tiền
nhân đã khai hoang, mở cõi trên mãnh đất phù sa. Chính vùng đất đã sản sinh ra nét
văn hóa đặc trưng Nam bộ nói chung và của Cà Mau nói riêng. Là vùng đất mà nhà
thơ Xuân Diệu đã từng ví như :
“Tổ quốc tôi như một con tàu
tỉnh. Đến với Cà Mau chúng ta còn bắt gặp những làng nghề truyền thống như: dệt
chiếu, dệt thảm, hay đan lát, hay hầm than…, đây cũng là nét văn hóa thu hút du
khách và đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu và học hỏi của du khách.
Và hiện nay Cà Mau cũng như các tỉnh trong khu vực đang trên đà hội nhập
vào nền kinh tế chung của cả nước, tỉnh đã xác định du lịch là một ngành kinh tế
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và không ngừng đẩy mạnh khai thác tiềm
năng vốn có của địa phương để phát triển du lịch một cách bền vững, tỉnh đang từng
bước khẳng định mình, đang tận dụng cơ hội hiện có để bước vào hội nhập và cũng
không ngừng tổ chức, xúc tiến và luôn tạo điều kiện thuận lợi với những chính sách
ưu đãi nhằm kêu gọi sự đầu tư trong nước và ngoài nước. Đây là một nơi rất có tiềm
năng và là một điểm hẹn hấp dẫn của các nhà đầu tư trong tương lai.
Vâng, thiên nhiên đã ưu đãi, ban tặng cho Cà Mau những điều kiện thuận lợi
về tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn cộng với một nền văn hóa nghệ thuật
phong phú, đa dạng và kinh tế trên đà phát triển…, đây là nguồn tài nguyên, là thế 4
mạnh cho Cà Mau để phát triển du lịch. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua vấn
đề phát triển du lịch ở Cà Mau còn nhiều bỏ ngõ, hạn hẹp, sản phẩm du lịch còn khá
đơn điệu, nhiều tiềm lực phát triển du lịch vẫn còn ngủ yên, các điểm du lịch chưa
được đầu tư khai thác đúng mức để phục vụ du khách, chưa thực sự tương xứng với
tiềm năng, gây lãng phí và cạn kiệt dần nguồn tài nguyên.
Để góp phần biến tiềm năng năng thành sức hút, thành nhũng sản phẩm du
lịch đặc sắc, chất lượng cao cần có một giải pháp, một chính sách, bên cạnh đó cũng
cần phân tích được ưu điểm và nhược điểm trong chính sách phát triển du lịch hiện
nay của tỉnh. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và định hướng
phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Cà Mau”, để làm khóa luận tốt nghiệp.
Trong tương lai tỉnh đang tập trung phát triển các điểm du lịch có nhiều tiềm
năng như Khu du lịch Vườn quốc gia Đất Mũi, bãi biển Khai Long, các cụm đảo,
hòn như: Đá Bạc, Hòn Khoai…, để thuận lợi cho tỉnh tìm các đối tác liên doanh,
liên kết để thực hiện các dự án nâng cấp các khu du lịch nêu trên, đồng thời tiếp tục
đầu tư hoàn thiện các công trình xây dựng khách sạn, nhà hàng, điện, viễn thông,
cung cấp nước sạch…Có sự hợp tác như thế thì chất lượng sản phẩm du lịch mới
không ngừng được nâng cao, tạo cho tỉnh một sự phát triển du lịch một cách bền
vững và lâu dài.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Thu thập thông tin từ các điểm du lịch, các tư liệu từ cơ quan ban ngành có
liên quan, tham khảo các công trình nghiên cứu trước đó, thông tin từ các phương
tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, ti vi…), vận dụng những thông tin đã có, xử
lý và vận dụng những thông tin cần thiết vào đề tài đang nghiên cứu để có được cái
nhìn khái quát và rõ ràng vấn đề hơn.
4.2. Phương pháp bản đồ
Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp chúng ta
có được một tầm nhìn bao quát hơn về sự phân bố các sản phẩm du lịch và là cơ sở
để phân tích các qui luật hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch.
4.3. Phương pháp khảo sát thực địa
Sử dụng phương pháp này thường đạt hiệu quả cao trong quá trình thu thập,
xử lý thông tin, tư liệu do cần phải đi khảo sát thực tế, xin số liệu, chụp những hình
ảnh minh họa cho đề tài nghiên cứu.
4.4. Phương pháp so sánh
So sánh tiềm năng, hiện trạng của sản phẩm và hoạt động du lịch trong quá
khứ và hiện tại để thấy được những mặt mạnh nào cần phát huy và những điểm yếu
nào cần phải khắc phục. 7
1.1.1. Khái niệm về sản phẩm du lịch
1.1.1.1. Khái niệm về sản phẩm
1.1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch
Có rất nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch.
Theo định nghĩa của WTO thì “Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp
gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành tài nguyên tự nhiên, tài
nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ
cán bộ du lịch”. Sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm hữu hình và vô hình.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì sản phẩm du lịch bao gồm hai mặt
chính:
Xuất phát từ đích tới du lịch, sản phẩm du lịch là chỉ toàn bộ dịch vụ
của nhà kinh doanh du lịch dựa vào vật thu hút du lịch khởi sự du lịch, cung cấp cho
du khách để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch.
Xuất phát từ gốc độ người du lịch là chỉ quá trình du lịch một lần do
du khách bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất định để đổi được.
Theo tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa, tiến sĩ sử học, ủy viên đoàn chủ tịch
hội người Việt Nam tại Pháp: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng đáp
ứng cho nhu cầu du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn, ở và giải trí”.
Di chuyển tức là nhu cầu cần thiết sử dụng mọi phương tiện giao thông
như máy bay, xe lửa, tàu biển…và các phương tiện vận chuyển truyền thống như
lạc đà, xe ngựa…
Lưu trú liên quan đến các loại hình và cơ sở lưu trú.
Nghệ thuật ăn uống đáp ứng nhu cầu nuôi dưỡng con người và cũng là
một nghệ thuật tạo nên nét văn hóa ẩm thực cho các quốc gia và vùng.
1.1.2.6. Sản phẩm mua sắm
Bất cứ du khách nào khi đi du lịch đều muốn mua những sản phẩm đặc trưng
của vùng để về làm quà lưu niệm hoặc những du khách nữ thường rất thích
shopping. Chính vì vậy sản phẩm mua sắm chính là sản phẩm đáp ứng nhu cầu này
của du khách.
1.1.3. Mô hình sản phẩm du lịch
1.1.3.1. Mô hình 4S
SEA : Biển.
SUN : Mặt trời, tắm nắng.
SHOP : Cửa hàng lưu niệm, mua sắm.
SEX (or SAND): Hấp dẫn, khêu gợi giới tính (hay bãi cát tắm nắng).
SEA: Biển. 9
Biển là yếu tố quan trọng và có lực hấp dẫn lớn đối với du khách, thõa mãn
cho nhu cầu tắm biển, tắm nắng của du khách đặc biệt là vào mùa hè.
Việt Nam với chiều dài bờ biển là 3260 km, có đến 125 bãi biển có thể quy
hoạch xây dựng cho du lịch biển, trong đó có 16 bãi tắm đẹp, nỗi tiếng như Trà Cổ,
Bãi Cháy (Quãng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò
(Nghệ An), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha
Trang (Khánh Hòa), Vũng Tàu, Long Hải (Vũng Tàu), Hà Tiên (Kiên Giang).
Ngoài ra trên vùng biển Việt Nam còn có gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ với cảnh
quan hấp dẫn và là tiềm năng to lớn cho phát triển du lịch biển.
SUN: Mặt trời, tắm nắng.
Đối với du khách, mặt trời là một yếu tố quan trọng cho họ không chỉ để tắm
HERITARE: Di sản văn hóa, di sản truyền thống dân tộc.
Di sản văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, nghệ thuật là những yếu
tố đặc sắc, quan trọng của tài nguyên nhân văn của thế giới và mỗi quốc gia, nó tạo
ra lực hấp dẫn rất lớn đối với du khách nội địa và quốc tế.
HOSPITALITY: Lòng hiếu khách, khách sạn, nhà hàng.
Lòng hiếu khách, những dịch vụ trong khách sạn, nhà hàng là những yếu tố
rất quan trọng để cấu thành sản phẩm du lịch.
Lòng hiếu khách thể hiện qua sự giao tiếp giữa du khách với cán bộ, nhân
viên du lịch, giữa du khách với cư dân địa phương sẽ làm tăng thêm sự hài lòng và
góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
Khách sạn, nhà hàng đáp ứng nhu cầu lưu trú và ăn uống của du khách trong
quá trình đi du lịch.
HONESTY: Tính lương thiện.
Kinh doanh du lịch muốn thành công thì phải lấy chữ “ Tín” làm đầu, phải
tạo được sự tin cậy vững chắc của du khách vào chất lượng của sản phẩm du lịch để
họ sẵn sàng bỏ tiền ra mua sản phẩm du lịch mà họ tin tưởng.
1.1.3.3. Mô hình 6S
Là mô hình kết hợp sản phẩm du lịch của cộng hòa Pháp bao gồm 6 chữ S:
Sanitaire : Vệ sinh.
Santé : Sức khỏe.
Sécuríté : An ninh trật tự xã hội.
Serenníté : Thanh thản.
Service : Phục vụ, phong cách phục vụ.
Satisfaction: Sự thõa mãn (hài lòng).
SANITAIRE: Vệ sinh.
Vệ sinh là một tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng trong chất lượng của sản phẩm
du lịch, nó bao gồm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh môi
trường trong không khí, nước, vệ sinh đường phố và các điểm tham quan…
SANTÉ: Sức khỏe.
Du khách đi du lịch với mục đích phục hồi sức khỏe sau thời gian lao động
1.1.4.1. Tính tổng hợp
Hoạt động du lịch là hoạt động tổng hợp, bao gồm nhiều mặt như hoạt động
xã hội, kinh tế, văn hóa chính trị, giao lưu quốc tế. Bên cạnh đó nhu cầu của du
khách hết sức phong phú, đa dạng, vừa bao gồm nhu cầu đời sống vật chất cơ bản
vừa bao gồm nhu cầu cuộc sống tinh thần ở cấp cao hơn.
Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch thể hiện ở sự kết hợp các loại dịch vụ
mà cơ sở kinh doanh cung ứng nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, nó bao gồm 12
sản phẩm vật chất và phi vật chất. Mặt khác tính tổng hợp của sản phẩm du lịch thể
hiện ở sản xuất liên quan tới rất nhiều ngành nghề và nhiều bộ phận.
Do tính tổng hợp của sản phẩm du lịch mà các quốc gia, các vùng du lịch
phải tiến hành quy hoạch du lịch toàn diện.
1.1.4.2. Tính không dự trữ
Là một loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch có tính chất “không thể dự
trữ” như sản phẩm vật chất khác nói chung, có nghĩa là không thể tồn kho.
Sau khi du khách mua sản phẩm du lịch, cơ sở kinh doanh du lịch liền trao
quyền sử dụng liên quan trong thời gian qui định, nếu sản phẩm du lịch chưa thể
bán ra kịp thời thì không thực hiện được giá trị của nó, thiệt hại gây nên không bù
đắp được.
Đặc tính không thể dự trữ của sản phẩm du lịch cho thấy trong việc sản xuất
du lịch và thực hiện giá trị phải lấy việc mua thực tế của du khách làm tiền đề,
“Khách hàng là thượng đế”.
1.1.4.3. Tính không dịch chuyển
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra song song cùng một thời gian và
không gian sản xuất ra chúng, vì vậy du khách chỉ có thể tiêu thụ sản phẩm nơi sản
1.2.1.Khái niệm về du lịch
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch:
Theo liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Officail Travel Orangizition- IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành
đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không
phải để làm ăn tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh
sống…”
Theo I.I Pirogionic, 1985: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú
thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao
trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự
nhiên, kinh tế và văn hóa”.
1.2.2. Khái niệm về du khách
Nhà kinh tế học người Anh (Ogilvie) cho rằng: “Khách du lịch là tất cả
những người thõa mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời
gian dưới một năm và chỉ tiêu tiền tại nơi họ đến mà không kiếm tiền ở đó”.
Còn theo nhà xã hội học Cohen: “Khách du lịch là một người tự nguyện rời
khỏi nơi cư trú thường xuyên trong một khoảng thời gian nhất định, với mong muốn
được giải trí, khám phá những điều mới lạ từ những chuyến đi tương đối xa và
không thường xuyên”.
1.2.2.1. Phân loại du khách 14
1.2.2.1.1. Phân theo phạm vi lãnh thổ
Du khách quốc tế.
Du khách quốc tế là người nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam định cư
15
sau: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền
vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
1.2.4. Khái niệm du lịch sinh thái cộng đồng
Du lịch sinh thái cộng đồng là loại hình du lịch dựa trên sự đa dạng về điều
kiện sinh thái tự nhiên, sự phong phú của các làng nghề truyền thống và nét văn hóa
đặc sắc của các cư dân bản địa tại những điểm đến. Tham gia loại hình du lịch này
du khách được đến với cộng đồng dân cư địa phương, thực hiện những cuộc đối
thoại, tìm hiểu những nét đặc sắc trong văn hóa bản địa, tắm mình trong cuộc sống
của người dân.
Loại hình du lịch cộng đồng đã khuyến khích các cộng đồng cư dân tại nơi
khách đến tham gia váo các hoạt động du lịch và tạo thêm thu nhập, giảm nhẹ một
phần những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần mà họ đang phải chịu
đựng, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
1.2.5. Khái niệm cơ sở lưu trú
Cơ sở lưu trú là những cơ sở kinh doanh về buồng_ phòng, giường và các
dịch vụ khác phục vụ du khách. Cơ sở lưu trú bao gồm: khách sạn, khu nghỉ dưỡng
cao cấp (resort), motel, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều, nhà chòi, bãi cắm trại cho
thuê, tàu thuyền du lịch. Trong đó, khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu.
1.2.6. Khái niệm điểm du lịch
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch (bình thường hoặc hấp dẫn), có khả
năng phục vụ và thu hút khách.
1.2.7. Khái niệm tuyến du lịch
Tuyến du lịch là lộ trình kết nối các diểm du lịch, khu du lịch khác nhau về
chức năng nhằm đáp ứng nhu cầu đi tham quan du lịch của du khách.
Điểm cực Nam 8
0
30’ vĩ độ Bắc (xã Viên An huyện Ngọc Hiển).
Điểm cực Bắc 9
0
33’ vĩ độ Bắc (xã Biển Bạch huyện Thới Bình).
Điểm cực Đông 105
0
24’ kinh Đông (xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi).
Điểm cực Tây 104
0
43’ kinh Đông (thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển).
Với ba mặt giáp biển: phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây
giáp Vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang (63km), phía Đông giáp tỉnh
Bạc Liêu (75km). Thành phố Cà Mau là tỉnh lỵ của tỉnh Cà Mau, nằm trên đường 17
quốc lộ 1A, cách Hà Nội 2085km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 370km, cách
Thành phố Cần Thơ 180km về phía Nam. Nằm ở khu vực trung tâm trong mối quan
hệ với các nước Đông Nam Á, Cà Mau có điều kiện thuận lợi trong giao lưu, hợp
tác kinh tế với các nước trong khu vực. Tỉnh cũng nằm trong hành lang kinh tế của
chương trình hợp tác tiểu vùng sông MêKông mở rộng, với trục giao thông xương
sống từ Hà Tiên (cửa khẩu Xà Xí)_ quốc lộ 63_ Cà Mau_ Năm Căn_ Đất Mũi.
2.1.2. Diện tích:
Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên là 5.211km
2
18
Cà Mau có địa hình thấp, bãi biển dài, tạo cho Cà Mau có đặc điểm là vùng
đất ngập nước, có độ cao so với mặt nước biển thấp, mặt đất khá bằng phẳng (cao
trung bình 0,6m-1,5m so với mặt nước biển). Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh bị
ngập nước vào mùa mưa, trong đó vùng đất có diện tích khá lớn thường xuyên bị
ngập nước. Ngoài đất ngập mặn, đất phèn và than bùn, Cà Mau có diện tích lớn đất
bãi bồi màu mỡ, có giá trị cao đối với việc phát triển các vườn cây ăn trái phục vụ
phát triển du lịch miệt vườn. Hướng địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ
Đông Bắc sang Tây Nam, luôn luôn bị chi phối bởi thủy triều của biển và ngập
nước vào mùa mưa. Hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều cửa sông lớn thông ra
biển như: Sông Đốc, Bồ Đề, Gành Hào.
Do địa hình Cà Mau là biển ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành đặc điểm
đất trồng, có rất nhiều đơn vị đất trồng nhiễm mặn và hình thành các hệ sinh thái
đặc thù như: Hệ sinh thái rừng ngập mặn (rừng đước), rừng ngập nước chua phèn
(rừng tràm)…Đồng thời đây cũng là thế mạnh của tỉnh so với các tỉnh khác trong
khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Địa hình tự nhiên của Cà Mau không đồng
nhất, có sự phân hóa theo thời gian. Sự khác biệt giữa các tổng thể tự nhiên tạo sự
phân hóa lãnh thổ theo không gian. Phần đất liền được chia ra thành ba cảnh quan
tự nhiên: cảnh quan trũng phèn phía Bắc tỉnh, cảnh quan trung tâm tỉnh, cảnh quan
ven biển phía Nam và Đông Nam tỉnh. Mỗi cảnh quan có đặc điểm riêng, có khả
năng riêng.
2.2.1.2. Khí hậu:
Do chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý, Cà Mau có khí hậu mang tính đặc trưng
của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt trung bình năm cao. Cùng
chung đặc điểm của miền khí hậu phía Nam, Cà Mau có khí hậu phân thành hai
mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Hàng năm, mùa mưa kéo dài khoảng 7 tháng từ tháng
nhật triều ở biển Đông và nhật triều không điều ở biển Tây. Biên độ triều biển Đông
tương đối lớn (3-3,5m vào các ngày triều cường và từ 180-220cm vào các ngày
triều kém). Triều biển Tây yếu hơn, biên độ triều lớn nhất là 1m. Tại của sông Ông
Đốc mực nước cao nhất +0,85m đến +0,95m, xuất hiện vào tháng 10 và tháng 11;
mực nước thấp nhất -0,4m đến +0,5m, xuất hiện vào tháng 4 và tháng 5.
Hệ thống sông ngòi của Cà Mau khá dày đặc. Bênh cạnh một số con sông
khá lớn như Tam Giang, Bảy Háp, Gành Hào, Sông Đốc, Sông Trẹm…Cà Mau còn
có chung đặc điểm của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là có mạng lưới sông
ngòi, kênh gạch chằng chịt và chính mạng lưới này của tỉnh có vị trí quan trọng
trong giao thông thủy và phát triển kinh tế. Thống kê cho thấy trên địa bàn tỉnh có
11 con sông lớn với chiều dài của sông dài nhất là 416km. Lớn nhất là sông Tam
Giang, dài 58km, sâu 20m và nhỏ nhất là sông Bạch Ngưu dài 30km… Cà Mau còn
có nhiều hồ đầm, các hồ nước mặn ven sông, ven biển được giữ nước để nuôi trồng
thủy hải sản. Đó là những hồ đầm nhân tạo. Đầm tư nhiên là Đầm Thị Tường, đầm
dài 7km, rộng 1-2km, ngoài việc cung cấp thủy sản, đầm còn là điểm du lịch hấp
dẫn của tỉnh.
Nước sử dụng ở Cà Mau có 3 dạng: nước mưa, nước ngầm và nước ở sông
ngòi kênh rạch. Nước mưa và nước ngầm là 2 nguồn nước sử dụng chính trong sinh 20
hoạt của người dân Cà Mau, chất lượng nước ngầm khá tốt và phong phú với bảy
tầng chứa nước. Trong đó, năm tầng từ tầng 2 đến tầng 6 là các tầng chứa nước
mềm không bị nhiễm mặn. Tổng lượng nước ngầm khai thác khoảng hơn 17 vạn
m
3
/ngày đêm bằng 1/30 trữ lượng tiềm năng. Nước sông ngòi kênh rạch là nguồn
môi trường như: ráng, gạc nai, lác biển (vùng đất mặn ít và có phèn nhiễm mặn),
đồng tiền, rau má, sam (vùng đất ngọt ít phèn).
Rừng cận xích đạo trên đất feralit đỏ vàng (ở cụm đảo Hòn Khoai, có diện
tích khoảng 500ha, với 221 loài tực vật bậc cao thuộc 78 họ, 11 loài cây dược liệu
quý). Ngoài ra trong hệ thực vật của tỉnh còn có những loài cây rất quý như lan
móng rùa, lan thạch hộc, nắp nước…
Hệ động vật: Nhìn chung thành phần động vật hoang dã rất phong phú và đa
dạng chủ yếu ở hai vùng sinh thái.
Động vật hoang dã ở vùng sinh thái rừng tràm: tại rừng đặc dụng Vồ Dơi có
12 loài lưỡng cư, 32 loài bò sát, 100 loài chim (Khoang cổ, gà đãi,ó biển, quạ), 18
loài động vật có vú, hàng chục loài bướm. Chiếm số lượng khá nhiều là các loài heo
rừng, nai, nai, khỉ, dơi, sóc. Các loài bò sát ở rừng U Minh không chỉ phong phú, đa
dạng về số loài mà còn có rất nhiều loài có giá trị cả về kinh tế và nghiên cứu khoa
học. Có loài được ghi trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới như: tê tê, rùa nắp,
rùa răng, rắn hổ mang, rắn mai Động vật hoang dã ở vùng sinh thái rừng ngập mặn:
Khu rừng Năm Căn có 6 loài lưỡng cư, 18 loài bò sát, 41 loài chim, 15 loài động vật
có vú. Nhiều loài thú quý hiếm như: khỉ đuôi dài, vượn đen huyền, cà khu, heo
rừng, nai, tê tê, chồn mướp, chồn đen, cá sọc, rái cá, các loại dơi…Ngoài ra còn
phải kể đến các loài động vật dưới nước như: có 661 loài, 319 giống, 138 họ, có 33
loài tôm biển trong đó có 17 loài có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó còn có hệ sinh
thái sân chim: Thiên nhiên đã ban tặng cho Cà Mau là nơi có rất nhiều sân chim -
tập hợp nhiều loài chim khác nhau. Cà Mau có 2 sân chim ở Chà Là và Đầm Dơi,
và một vườn chim rừng ở xã Hồ Thị Kỷ…Ngoài 3 sân chim nêu trên Cà Mau còn
có thêm 16 sân, vườn chim và bãi đậu. Đặc biệt ngay giữa lòng thành phố Cà Mau
còn hình thành một sân chim tự nhiên diện tích khoảng 5ha với trên 60 loài, hội tụ
trên 20.000 con các loại như: cò, vạc, bồ nông, le le, còng cọc,vạc, bìm bịp…
2.2.2. Tài nguyên nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn ở Cà Mau gồm các di tích lịch sử - văn hóa, các
Hồng Anh Thư Quán
Khu di tích này thuộc căn cứ số 2, nhà số 41 đường Phạm Văn Ký, phường
2, Thành phố Cà Mau. Là cơ sở chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí
Hội tại Cà Mau (1-1928) làm niệm vụ tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin
trong mọi tầng lớp nhân dân và tạo điều kiện cho sự ra đời của các cơ sở Đảng
Cộng Sản tại Cà Mau sau này, tiền thân của chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên ở Cà
Mau, Bạc Liêu.
Hồng Anh Thư Quán đã từng là hiệu sách báo tiến bộ của chi hội đặt tại tầng
1 của ngôi nhà trên. Hiệu sách phục vụ các loại sách báo tiến bộ xuất bản ở Sài Gòn 23
trong đó có “Tư bản luận” của Mác và Angghen. Hồng Anh Thư Quán trở thành di
tích cách mạng được Nhà nước công nhận từ năm 1992.
Đảo Hòn Khoai
Đây là nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp do thầy Phan Ngọc Hiển lãnh
đạo vào ngày 13-12-1940. Khu di tích Hòn Khoai thuộc loại di tích “Lịch sử và
danh thắng” đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận di tích cấp quốc gia vào
ngày 24-11-2000.
Chứng tích tội ác Bình Hưng (Dinh Điền, Phú Mỹ)
Hay được gọi là “Biệt khu Hải Yến-Bình Hưng” chứng tích điển hình về tội
ác của Mỹ-Ngụy. Di tích tọa lạc tại ấp Thanh Đạm, xã Phú Tân, huyện Cái Nước.
Nơi đây là chứng tích ghi dấu tội ác của kẻ thù, đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin
công nhận khu di tích cấp quốc gia vào ngày 24-11-2000.
Làng Rừng
Đây là một hiện tượng xã hội độc đáo đã đi vào lịch sử giữ nước của nhân
dân ta. Trong những năm 60 của thế kỷ 20, không chịu nỗi sự đàn áp dã man của đế
Mau vào chùa chỉ khoảng 17km. Theo đường tráng nhựa, du khách có dịp đến viếng
cảnh chùa, tìm hiểu sinh hoạt của người Khmer ven hai rạch Đường Cày.
Công ty du lịch Cà Mau cần kết hợp chặt chẽ với chùa Cao Dân, nhằm phát
huy đội ca nhạc và đội đua ghe ngo phục vụ nhu cầu thưởng thức của du khách, thu
hút bà con dân tộc tham gia vào phục vụ sinh thái.
Chùa Bà Thiên Hậu
Chùa thuộc địa phận phường 1 Thành phố Cà Mau, nhìn ra con sông Gành
Hào gió lộng, rất nỗi tiếng linh thiêng. Vào dịp tháng 3 âm lịch ngày 2-3, là ngày
vía bà Thiên Hậu, ngày này cũng là ngày sinh của bà. Lễ hội được tổ chức chu đáo,
vào dịp này bà con tề tựu về rất đông để cầu tài lộc như ý. Lễ hội chùa Bà ở Cà Mau
không chỉ ước vọng tâm linh của con người về hạnh phúc, may mắn, mà còn mang
đậm màu sắc dân gian huyền thoại. Chùa có niên đại từ năm 1903.
Chùa Bà Mã Châu
Chùa là nét văn hóa truyền thống của người Hoa, nằm trên khuôn viên
thoáng rộng, tĩnh lặng trên phố Lê Lợi-Khu thương mại sầm uất của Thành phố Cà
Mau. Trầm mặc và tỏa sáng trong sắc màu thời gian cạnh dòng sông bến nước con
đò, ngôi chùa như dòng hội tụ gợi nhớ thuở người xưa đi mở đất, tiến về phương
Nam, trong đó có cộng động người Hoa đến vùng sông nước Cà Mau sinh sống.
Chùa thờ bà Lâm Mật Nương, bà độ người đi biển vượt qua những trận phong ba,
những cơn hoạn nạn,tới chốn bình yên. Nhớ ơn bà nên người dân lập đền thờ và tôn
bà là vị Thần Biển (Thiên Hậu Thánh Mẫu). Chùa vừa kỷ niệm 128 năm ngày hình 25
thành (1882-2010), là địa chỉ văn hóa thu hút khách thập phương đến tham quan, lễ
bái.
Nhà Bác Ba Phi