Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH PHƢƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƢỚNG
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÁC ĐIỂM DÂN CƢ
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Hải
Thái Nguyên - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 4
1.1.1 Khái niệm và tiêu chí phân loại điểm dân cư 4
1.1.2. Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển
khu dân cư 5
1.1.2.1. Những quy định về định mức sử dụng đất 6
1.1.2.2. Những quy định về quản lý đất đai và quản lý quy hoạch xây dựng 7
1.2. Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư một số nước trên thế giới 8
1.2.1. Các nước châu Âu 8
1.2.1.1. Hà Lan 8
1.2.1.2. Anh 9
1.2.1.3. Đức 10
1.2.1.4. Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu 10
1.2.2. Khu vực Châu Á 13
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sông Lô 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1.1. Vị trí địa lí 29
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo 30
3.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 30
3.1.1.4. Các nguồn tài nguyên 31
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35
3.1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế 35
3.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36
3.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và mức sống 42
3.1.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 43
3.2. Hiện trạng sử dụng đất và thực trạng hệ thống điểm dân cư huyện Sông Lô 47
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Sông Lô năm 2012 47 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
3.2.2. Thực trạng điểm dân cư huyện Sông Lô 49
3.2.2.1. Thực trạng các điểm dân cư huyện Sông Lô 49
3.2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất trong khu dân cư 51
3.2.3. Phân loại hệ thống điểm dân cư 54
3.2.3.1. Kết quả phân loại một số tiêu chí đánh giá điểm dân cư 54
3.2.3.2. Phân loại điểm dân cư và kết quả phân loại điểm dân cư 57
3.2.4. Thực trạng kiến trúc, cảnh quan trong xây dựng và phát triển điểm dân cư 59
3.2.4.1. Kiến trúc nhà ở trong khu dân cư 59
3.3. Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Sông Lô đến năm 2020 . 65
3.3.1. Các dự báo cho định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 65
3.3.1.1. Căn cứ phát triển hệ thống điểm dân cư 65
Công trình công cộng
DCNT
Dân cư nông thôn
GCNQSD
Giấy chứng nhận quyền sử dụng
GT
Giao thông
HĐND
Hội đồng nhân dân
KDC
Khu dân cư
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TNMT
Tài nguyên môi trường
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân
XDCTCC
Xây dựng công trình công cộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, nền sản xuất nông nghiệp luôn
luôn gắn bó chặt chẽ với người nông thôn. Sau khi có chính sách đổi mới, cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã làm cho sự phát triển mạnh mẽ của quá
trình đô thị hóa và các hoạt động kinh tế xã hội khác ở nông thôn. Tuy nhiên, việc
đầu tư phát triển không đồng bộ giữa các vùng nông thôn và vùng đô thị, các khu
trung tâm phát triển, các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm trong những năm
qua đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Vì vậy muốn thực hiện
được mục tiêu phát triển đất nước theo xu hướng công nghiệp hoá thì phải hướng sự
phát triển về vùng nông thôn, nhằm khai hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên
cho sự phát triển. Tạo nên sự phát triển cân đối, hài hoà và thu hẹp khoảng cách giữa
nông thôn và thành thị.
Phát triển khu dân cư, khu ở, bố trí các công trình phúc lợi công cộng nhằm
đáp ứng tốt nhất cho cuộc sống của người dân là mục tiêu chiến lược trong phát
triển nông thôn. Từ thực tế hiện nay cho thấy nhiều khu dân cư đang phải chịu
những áp lực lớn về trật tự xây dựng, mặt bằng sản xuất cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi
trường, các khu ở bố trí không hợp lý, manh mún nên rất khó cho việc đầu tư phát
triển. Chính vì vậy việc quy hoạch hệ thống điểm dân cư một cách khoa học, hợp lý
là rất cần thiết.
Tại Hội nghị trung ương Đảng lần thứ V khoá VII đã có chủ trương: “Tiếp tục
đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn” và chỉ đạo: “Nghiên cứu giải quyết
các vấn đề quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bố trí các điểm dân cư, kết cấu hạ
tầng kiến trúc nông thôn. Tổ chức cuộc sống, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”.
Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Định hướng phát triển hệ thống các điểm dân cư phù hợp với quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
* Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và phân loại hệ thống các điểm dân cư đô
thị và nông thôn trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc dựa trên một số tiêu
chí của tiêu chuẩn Việt Nam số 4418 năm 1987 và các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Chính phủ về việc ban
hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
- Định hướng sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
huyện Sông Lô giai đoạn 2011 - 2020 và phát triển mạng lưới điểm dân cư theo
hướng xây dựng nông thôn mới phù hợp với sự phát triển theo yêu cầu CNH - HĐH
chung của đất nước, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
3. Yêu cầu của đề tài
- Số liệu, tài liệu điều tra phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, phản ánh
đúng hiện trạng.
- Phải tiến hành tổ chức điều tra, khảo sát và đề xuất những định hướng trong
thời gian tới.
- Định hướng quy hoạch phải dựa trên các cơ sở khoa học: Tiềm năng về đất
đai, nguồn vốn đầu tư, lao động…, dựa trên các chính sách, chỉ tiêu phát triển kinh
tế xã hội của địa phương nhằm đem lại tính khả thi cao nhất.
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Chƣơng 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
(6) Làng nhỏ: Là nơi ở, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông lâm nghiệp
của nhân dân trong một xã.
(7) Các xóm, ấp, trại: Là các điểm dân cư nhỏ nhất, với các điều kiện sống
rất thấp kém. Trong tương lai các điểm dân cư này cần xoá bỏ, sát nhập thành các
điểm dân cư lớn hơn [10].
Hiện nay, vấn đề quy hoạch đô thị, quy định những tiêu chuẩn đối với việc
phát triển mở rộng, không gian kiến trúc… đã được sự quan tâm của nhà nước. Tại
Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27/2/2007 của Chính Phủ quy định cụ thể về
vấn đề quản lý kiến trúc đô thị, cụ thể [9]: Nghị định quy định cụ thể các quy định
đối với từng hạng mục công trình trong kiến trúc tổng quan đô thị.
Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính
Phủ quy định cụ thể về việc phân loại đô thị. Đô thị được phân thành 6 loại:
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
- Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành,
nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
- Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
- Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và
có thể có các điểm dân cư nông thôn [10].
1.1.2. Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu
dân cư
Trong quá trình phát triển, các điểm dân cư (đô thị và nông thôn) ở nước ta
phần lớn được hình thành và phát triển một cách tự phát. Vì vậy mà tình trạng xây
dựng lộn xộn, manh mún, không thống nhất, không đồng bộ, sử dụng đất không
ven biển
Khu vực miền
núi, trung du
Diện tích
(m
2
/ngƣời)
Tỷ lệ
(%)
Diện tích
(m
2
/ngƣời)
Tỷ lệ
(%)
- Tổng số
54 - 98
100,00
64 - 110
100,00
- Đất ở
30 - 65
60 - 64
35 - 75
61 - 65
- Đất xây dựng các công trình công cộng
7 - 9
9 - 13
10 - 11
10 - 14
dụng như: đất ở; đất nông nghiệp (đất vườn, ao thả cá trong khuôn viên của hộ gia
đình và có thể có một số đất nông nghiệp khác nằm xen kẽ trong dân cư, do UBND
xã quản lý sử dụng); đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng; đất phi nông nghiệp; đất
chưa sử dụng.
Theo quy định của Luật Đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý các loại đất và giao
cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng theo đúng mục đích và có hiệu quả.
- Đất ở của mỗi hộ gia đình được quy định hạn mức cụ thể tuỳ theo từng địa
phương dựa trên căn cứ điều 83, 84 của Luật Đất đai năm 2003.
- Các loại đất chuyên dùng phục vụ yêu cầu xây dựng các công trình hạ tầng
cơ sở và phục vụ lợi ích công cộng phải được sử dụng theo đúng mục đích trên cơ
sở phương án quy hoạch thiết kế đã được phê duyệt.
b. Quản lý quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
Quy hoạch xây dựng cho khu vực nông thôn là công việc được triển khai
thực hiện đối với từng điểm dân cư nông thôn kể cả điểm dân cư nông thôn là trung
tâm xã, thị tứ, trung tâm cụm liên xã. Công tác quy hoạch xây dựng điểm DCNT
bao gồm quy hoạch xây dựng các điểm DCNT mới và quy hoạch cải tạo xây dựng
phát triển các điểm DCNT hiện có.
Phương án quy hoạch xây dựng và phát triển một điểm DCNT mới, hoặc quy
hoạch cải tạo xây dựng một điểm DCNT hiện có, sau khi đã được phê duyệt sẽ trở
thành căn cứ để triển khai công tác xây dựng. Đồng thời nó cũng là cơ sở pháp lý
cùng với hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước làm căn cứ để quản lý công
tác cải tạo, xây dựng và kiểm soát quá trình thay đổi làm cho điểm dân cư được phát
triển theo đúng ý đồ đã được xác định.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Việc quản lý quy hoạch trước hết là đối với việc sử dụng đất đai cho thiết kế
đường xá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật và
môi trường nông thôn. Cần phải quản lý tốt và triển khai cải tạo hoặc xây dựng từng
nước, tập hợp nhân công canh tác. Số người này trở thành công nhân nông nghiệp
và sống trong các làng nói trên.
Mạng lưới giao thông được tổ chức rất tốt, đường ô tô nối liền các điểm dân
cư đảm bảo liên hệ thuận tiện và nhanh chóng từ nơi ở đến các cánh đồng và khu
vực tiêu thụ chế biến [19].
1.2.1.2. Anh
Khác với phần lớn các nước ở lục địa Châu Âu, nông thôn nước Anh hầu
như không bị chiến tranh tàn phá, các điểm dân cư nông thôn truyền thống có sức
hấp dẫn mạnh mẽ với những người dân sống trong các thành phố lớn và các khu
công nghiệp tập trung. Mức độ “ôtô hoá” và mạng lưới giao thông rất phát triển, rút
ngắn khoảng cách về thời gian từ chỗ ở đến nơi làm việc.
Quy mô làng xóm của nước Anh thường từ 300 - 400 người, khoảng 100 -
150 hộ sinh sống. Tuy dân số ít nhưng đầy đủ các công trình văn hoá, xã hội. Trong
các khu dân cư có đường giao thông dẫn đến từng nhà, không khí trong lành, phong
cảnh đẹp và yên tĩnh. Chính vì vậy mà nhiều người dân muốn bỏ chỗ ở không thoải
mái trong các căn hộ khép kín nơi đô thị đi tìm chỗ ở lý tưởng nơi miền quê. Do sự
di chuyển một bộ phận dân cư ở các thành phố về sống ở nông thôn mà cơ sở dịch
vụ văn hoá, xã hội của làng quê truyền thống được cải thiện, nó trở thành các khu
ngoại ô của đô thị lớn hay khu công nghiệp. Đây là xu hướng khác hẳn so với các
nước khác trên thế giới.
Quy hoạch xây dựng phát triển mạng lưới đô thị và nông thôn của nước Anh
được công nhận là thành công nhất thế giới, từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ
XIX đã có nhiều nhà kiến trúc sư người Anh nghiên cứu về lĩnh vực này:
William Morris là một kiến trúc sư, nhà nghệ sỹ đã có quan điểm xây dựng
đô thị đó là xây dựng phân tán trên toàn bộ đất nước các điểm dân cư nhỏ. Ông xác
minh cho phương án của mình rằng điện là nguồn động lực cơ bản cho mọi hoạt
động, sẽ đi đến tất cả các điểm dân cư trong toàn quốc và đến tận mọi nhà cho nên ở
đó sẽ là chỗ ở vô cùng lý tưởng và là nơi làm việc của mọi người. Ngoài ra lý luận
về xây dựng các điểm dân cư mang tính chất đô thị - nông thôn được đề cao như
1.2.1.4. Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu
Khác với các nước Tây Âu, Liên Xô và các nước Đông Âu xây dựng nông
thôn theo mô hình phát triển nông thôn XHCN.
a. Cộng hoà Séc
Nét đặc trưng của các điểm dân cư nông thôn của Cộng hoà Séc là có sẵn một
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
mạng lưới rất dày các điểm dân cư nhỏ bé, manh mún. Theo thống kê có 14.234 đơn vị
hành chính xã. Diện tích trung bình mỗi xã là 8,9 km
2
. Mỗi xã trung bình có 4 làng thì
tổng số điểm dân cư có tới 55.000 - 60.000 điểm. Trong số đó có khoảng 35% là các
điểm dân cư có quy mô dân số dưới 500 người. Các điểm dân cư ban đầu đơn thuần chỉ
tham gia sản xuất nông nghiệp. Ngày nay số người làm nông nghiệp chỉ chiếm 18%
trong tổng số dân và nông nghiệp đã được cơ giới hoá do vậy sản xuất nông nghiệp tăng
lên. Dân cư sống ở các vùng nông thôn, làm việc trong các xí nghiệp ở thành phố phần
lớn không di chuyển chỗ ở. Nguyên nhân là họ đã có nhà ở nông thôn, họ vẫn tận dụng
được hoa màu trên mảnh đất vườn và chi phí cho cuộc sống gia đình đỡ tốn kém hơn ở
thành phố. Mặt khác, nhờ có mạng lưới giao thông phát triển nên việc đi lại thuận tiện.
Theo thống kê, số người làm việc trong các ngành sản xuất và dịch vụ trong
thành phố sống trong các khu dân cư cách xa nơi làm việc lên tới 52,2%; số người
ở chỗ gần nơi làm việc chỉ chiếm 47,8% (với bán kính khoảng cách dưới 10 km).
Cự ly giữa khu làm việc với nơi nhà ở trong phạm vi 60 km người lao động vẫn đi
về hàng ngày. Vấn đề xây dựng mạng lưới giao thông nông thôn hợp lí với chất
lượng cao và đều khắp rất được chú ý [25].
b. Liên Xô cũ
Mục tiêu của Nhà nước Xô Viết là xây dựng nông thôn tiến lên sản xuất nông
nghiệp theo quy mô lớn, hiện đại xoá bỏ sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị. Đặc
tầng sẽ tốn kém không đạt hiệu quả kinh tế. Trong phương án quy hoạch không gian
toàn quốc của Ba Lan, người ta cũng đã xác định hướng phát triển tương lai của đô
thị theo hệ thống dải và cụm dựa trên các đô thị hiện có và dọc các trục giao thông
chính trong toàn quốc [25].
d. Bungari
Bungari coi quy hoạch phát triển nông thôn là một bộ phận của quy hoạch
lãnh thổ. Mục đích của việc cải tạo nông thôn là nhằm xoá bỏ dần sự khác nhau sẵn
có giữa thành thị và nông thôn, tạo ra môi trường sống phù hợp. Các yếu tố cơ bản
để đạt mục đích trên là:
- Cải tạo cấu trúc không gian của các điểm dân cư trên cơ sở kinh tế xã hội
hiện tại, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường.
- Cải tạo tổ chức và nâng cao mức độ phục vụ văn hoá và đời sống.
- Nâng cao hơn nữa tiêu chuẩn nhà ở.
- Cải thiện kỹ thuật hạ tầng (giao thông, điện, nhiệt và nước).
- Giữ gìn ưu thế cơ bản của các điểm dân cư nông thôn là mối quan hệ trực
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
tiếp của chúng với thiên nhiên.
Giữ nguyên hiện trạng, cải tạo từng phần là hình thức đặc trưng của quá trình
xây dựng nông thôn mới ở Bungari. Khi dự kiến cải tạo một làng người ta cân nhắc
sử dụng một cách hợp lý nhất các công trình hiện có và các nhà ở có giá trị, tìm ra
và phát triển mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc hình thái của làng với môi trường
tự nhiên xung quanh nó.
Thành phần cơ bản của một làng cải tạo là trung tâm công cộng, đảm bảo mối
liên hệ trực tiếp với các khu nhà ở, khu sản xuất với khu nghỉ ngơi giải trí. Giao thông
trong làng được đặc biệt lưu ý, đường vận chuyển hàng hoá thường được đặt bên
ngoài làng. Đường trục chính của làng dẫn tới các đầu mối giao thông khu vực, nối
các khu chức năng với nhau và với các khu trung tâm công cộng. Chiều rộng tuyến
triển và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam [25].
1.2.2.2. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông. Dân số trên
1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm xấp xỉ 80%. Đơn vị cơ sở ở nông thôn Trung
Quốc là làng hành chính (traditional village). Làng truyền thống chia thành hai hay
nhiều làng hành chính. Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800
- 900 dân. Trong chiến lược hiện đại hoá đất nước, việc phát triển các cộng đồng
nông thôn có ý nghĩa quan trọng.
Hiện nay, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa là một công trình có hệ
thống mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu nông dân, đồng thời cũng là một quá trình
lâu dài. Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp
thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính Phủ hỗ trợ,
nông dân xây dựng. Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu
nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ở nông thôn; hoàn
thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm
cho lao động dư thừa ở nông thôn. Đồng thời với những công việc trên, trong việc
xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển
sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn [27].
1.2.2.3. Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt
mạnh, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất có thể canh tác. Trong quá khứ, làng
truyền thống ở Hàn Quốc chủ yếu nằm dọc theo các con sông suối, các thung lũng
có địa hình bằng phẳng và các tuyến giao thông chính. Điểm dân cư thường nhỏ và
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
nằm rải rác, nhà ở bố trí phân tán không có định hướng từ ban đầu khi mới hình
thành điểm dân cư.
Hiện nay, việc quy hoạch phát triển làng trực tiếp do cộng đồng dân cư trong