BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CAO TÁM THƠM
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.62.16
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ VềNG
HÀ NỘI - 2012
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước
ta luôn phấn đấu để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Đến nay, nền
kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và
phát triển tương đối toàn diện, văn hoá và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc
gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời
sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện. Điều đú đã góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của dân cư ở đô thị và nông thôn trong cả nước.
Có thể nói, để đạt được những thành tựu về kinh tế xã hội như trên là do
sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta về nhiều mặt, trong đó có công tác quy
hoạch đô thị. Điều đó được thể hiện khỏ rừ sau khi thực hiện Chỉ thị số 19/CT
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, công tác quy hoạch đô thị đã được đổi mới
đáng kể, bước đầu có tác dụng thiết thực như tăng cường quản lý phát triển đô
thị, trực tiếp phục vụ đời sông nhân dân và toàn xã hội, hệ thống các văn bản
pháp luật quản lý quy hoạch xây dựng đô thị đã được soản thảo khá hoàn chỉnh,
chuyển hóa về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động: các hoạt động dịch vụ - thương
mại - ngành nghề ngày càng phát triển, một bộ phận lao động đã tách khỏi sản
xuất nông nghiệp hoặc ít nhiều thoát ly nông nghiệp.
Quá trình hội nhập và mở cửa của Việt nam vào khu vực và thế giới sẽ
đặt các doanh nghiệp và các ngành kinh tế trước sự cạnh tranh không cân
sức, hàng hoá từ bên ngoài xâm nhập vào cạnh tranh với hàng hoá trong
nước, nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp và khả năng triệt tiêu nguồn nội
lực ngày càng tăng.
Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp. Đối với
Diễn Châu, 1 huyện trong tỉnh Nghệ An, điểm xuất phát kinh tế thấp, tiềm
lực và lợi thế cạnh tranh chưa cao, khả năng tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài
hạn chế, nguy cơ tụt hậu so với các địa phương khác ngay cả trong tỉnh là
đáng kể.
Việc hình thành Khu kinh tế Đông Nam tỉnh Nghệ An trong đó Diễn
Châu có 6 xã (Diễn Thịnh, Diễn Trung, Diễn An, Diễn Thọ, Diễn Phú, Diễn
Lộc) nằm trong khu kinh tế này tạo điều kiện cho Diễn Châu khai thác tiềm
năng, thế mạnh của mình để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhân dân.
Tuy nhiên, hiện nay do chưa có quy hoạch đô thị, quy hoạch phát triển hệ thống
dân cư đô thị dẫn đến tình trạng hầu hết các điểm dân cư phát triển gây khó khăn
cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như quản lý công tác xã hội ở địa phương. Tuy
đó có sự cố gắng đầu tư nhưng hiện tại hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông,
cấp thoát nước, cấp điện ) vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo quy mô, tiêu
3
chuẩn kỹ thuật, kiến trúc cảnh quan, dân cư nhiều khu vực xây dựng chưa đúng
quy định làm ảnh hưởng chung đến cảnh quan đô thị.
Để khắc phục thực trạng trên, góp phần xây dựng huyện Diễn Châu phát
triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong huyện,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và định hướng phát
triển hệ thống điểm dân cư huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”.
1.2. Mục đích, yêu cầu
Như vậy, cơ cấu cư dân là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững,
là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vựng. Cỏc điểm dân cư
phân biệt với nhau về quy mô và cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mỗi quan
hệ phân công chức năng trong toàn bộ cơ cấu cư dân của quốc gia trong một
vùng. Vì vậy, trong quy hoạch cơ cấu dân cư phải lưu ý các mối quan hệ tương
hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng điểm dân cư, cũng như cơ cấu của toàn bộ
trong một nhúm cỏc điểm dân cư cụ thể.
- Điểm dân cư đô thị:
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân
phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là tập trung chính trị, hành
chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương. Đô thị bao
gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, trị trấn.
Dân số toàn đô thị là dân số của khu vực nội thị và khu vực ngoại thị.
- Điểm dân cư nông thôn:
+ Theo quan điểm về xã hội học:
Điểm dân cư nông thôn là địa bàn cư tụ có tính chất cha truyền con nối
của người nông dân (xóm, làng, thôn, bản, buôn, ấp), đó là một tập hợp dân cư
sinh sống chủ yếu theo quan hệ láng giềng, nó được coi là những tế bào của xã
hội người Việt từ xa xưa đến nay.
5
+ Theo Luật Xõy dựng (Điều 14):
Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn
kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm
vi một khu vực nhất định (gọi chung là thôn), được hình thành do điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế xã hội - văn hoá, văn hóa, phong tục, tập quán và các
yếu tố khác.
Như vậy, điểm dân cư nông thôn là một bộ phận của khu dân cư nông thôn.
- Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ;
2.1.2.3. Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định
mục đích sử dụng.
2.1.3. phân loại hệ thống điểm dân cư
2.1.3.1. Phân loại đô thị.
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để
xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành
nhiều loại khác nhau. Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất,
quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia.
Ở nước ta, theo Nghị định số 42/2009/ND-CP ngày 07/5/2009 của
Chớnh phủ về việc phân loại đô thị, đô thị được chia làm 6 loại.
Các đô thị ở vùng cao, vựng sõu, vựng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô
dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu
chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn
quy định so với các loại đô thị tương đương.
Các đô thị được xác định là đô thị đặc thù thì tiêu chuẩn về quy mô dân
số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn
quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương
đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
2.1.3.2. Phân loại điểm dân cư nông thôn
Phân loại điểm dân cư nông thôn theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4418
(TCVN) năm 1987. Theo tiêu chuẩn Việt Nam 4418 quy định phương pháp
đánh giá và phân loại điểm dân cư nông thôn như sau:
- Mạng lưới điểm dân cư hiện trạng được phân thành 3 loại:
7
+ Loại 1: Các điểm dân cư chính, tồn tại lâu dài và phát triển gần những
thôn bản được quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo để trở thành điểm dân cư
chính thức của hệ thống dân cư chung trên lãnh thổ toàn huyện, được ưu tiên
quy hoạch và đầu tư xây dựng đồng bộ. Các điểm dân cư này cú cỏc trung tâm
sản xuất và phục vụ công cộng chung của xã.
2.1.4.1. Nguyên tắc phát triển không gian đô thị :
- Tuân thủ quy hoạch vùng lãnh thổ về địa lí và phát triển kinh tế: Mỗi
đô thị đều phải gắn bó với sự phát triển của toàn vựng vỡ quy hoạch vựng đó
cân đối sự phát triển cho mỗi điểm dân cư trong vùng lãnh thổ.
- Triệt để khai thác các lợi thế của điều kiện tự nhiên: Những đặc
trưng của cảnh quan thiên nhiên là cơ sở để hình thành cấu trúc không gian đô
thị. Các giải pháp quy hoạch, đặc biệt là trong cấu trúc chức năng cần phải tận
dụng triệt để các điều kiện tự nhiên, nhằm cải thiện nâng cao hiệu quả của cảnh
quan môi trường đô thị và hình thành cho đô thị một đặc thù riêng hòa hợp với
thiên nhiên ở địa phương đó.
- Phù hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống sinh hoạt của địa
phương và dân tộc: Mỗi địa phương, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán
khác nhau. Đó là vốn tri thức bản địa quý giá cần được khai thác và kế thừa để
tạo cho mỗi đô thị một hình ảnh riêng của dân tộc và địa phương mình.
Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị còn phải hết sức lưu ý đến vấn
đề cơ cấu tổ chức của các khu ở, khu trung tâm đô thị và các khu đặc trưng khác
như khu vực danh lam thắng cảnh, khu vực lịch sử, khu vực tâm linh tôn giáo
- Kế thừa và phát huy thế mạnh của hiện trạng: Cần phải kết hợp và phát
huy mọi tiềm năng giữa cái cũ và cái mới trong đô thị, giữa truyền thống và hiện
đại, đặc biệt chú ý đến công trình kiến trúc có giá trị, các khu phố cổ truyền thống.
- Phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật tiên tiến: Thiết kế quy hoạch
tổng thể xây dựng đô thị phải đảm bảo phát huy tốt các mặt về kỹ thuật đô thị,
trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là giao thông đô thị. Cần đảm
bảo thực hiện các quy chế và chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật xây dựng. Phải tuân thủ
các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về xây
9
dựng phát triển đô thị, hiện đại hóa các trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện giao
thông vận tải, thông tin liên lạc.
- Tính cơ động và hiện thực của đồ án quy hoạch: Bất kỳ một đồ án
nào khi thiết kế cũng phải đề cập đến khả năng thực thi của nó và trong từng
và cơ sở hạ tầng phát triển. Chính những điều này đã thúc đẩy sự hoạt động rất đa
dạng của các ngành nghề và các thành phần kinh tế luôn đòi hỏi có được những
vị trí xây dựng có nhiều lợi thế nhất trong sản xuất kinh doanh. Từ đó dẫn đến
nhiều mâu thuẫn trong sản xuất, thậm chí cản trở lẫn nhau giữa các cơ sở sản
xuất, giữa sản xuất và sinh hoạt làm ảnh hưởng lớn đến môi trường đô thị.
Quy hoạch xây dựng đô thị là công cụ tích cực và có hiệu quả nhất giải
quyết mối bất hòa giữa các cơ sở sản xuất và các hoạt động của các thành phần
kinh tế khác nhau trong đô thị cũng như các mối quan hệ của nó với bên ngoài
đô thị.
- Bảo đảm sự cân đối và thống nhất giữa các chức năng hoạt động
trong và ngoài đô thị: Đô thị ngày càng phát triển và mở rộng không gian ra
các vùng ngoại ô, lấn chiếm đất nông nghiệp và cỏc vựng cảnh quan thiên nhiên
khác. Quy hoạch chung xây dựng đô thị điều hòa sự phát triển của các bộ phận
chức năng trong đô thị và các vùng ảnh hưởng ở bên ngoài đô thị, nhằm bảo vệ
môi trường tự nhiên, cảnh quan đô thị, bảo tồn các di tích và an toàn cho đô thị
có tính đến hậu quả của thiên tai và các sự cố của kỹ thuật khác có thể xảy ra.
- Bảo đảm điều kiện sống, lao động và phát triển toàn diện của người
dân đô thị: Quy hoạch xây dựng đô thị nghiên cứu các hình thức tổ chức cuộc
sống và cơ cấu chức năng hoạt động của các bộ phận trong đô thị, nhằm tạo
điều kiện cho con người có nhiều thuận lợi nhất trong cuộc sống mới ngày càng
cao ở đô thị.
2.1.5.2. Mục tiêu xây dựng và phát triển các điểm dân cư nông thôn
- Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Các huyện nằm trong vùng quy hoạch sản xuất lương thực của cả nước
tuy đã vượt qua cửa ải 10 tấn lương thực/ha vẫn phải phấn đấu tăng sản lượng
lương thực (cả lúa và màu) và bình quân lương thực đầu người, nâng cao chất
11
lượng lương thực, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chăn nuôi, dự trữ và xuất khẩu
của cả nước.
Các huyện thuộc vùng trung du, miền núi dứt khoát từ bỏ ý tưởng tự túc
Sản xuất nông nghiệp phải gắn với thị trường, quan tâm tới công tác dự
báo thị trường, thông tin kinh tế để tăng khả năng tiếp thị, điều chỉnh sản xuất
của các hộ và tổ chức kinh tế phù hợp với nhu cầu thị trường. Làm thay đổi cơ
cấu lao động, tăng tỷ trọng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp,
thiết thực tăng thu nhập, tăng sức mua của nông thôn, đi đôi với việc mở rộng
lưu thông hàng hóa giữa cỏc vựng trong nước và mở rộng xuất khẩu để đẩy
mạnh tiêu thụ nông sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn.
Như vậy, nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn từng huyện sẽ từng
bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu trở thành nền nông nghiệp, kinh tế nông
thôn đa dạng, phong phú, giàu có, văn minh, tiến bộ. Phát triển kinh tế phải gắn
chặt với phát triển văn húa xã hội trên địa bàn huyện.
2.2. Xu thế và kinh nghiệm phát triển khu dân cư một số nước trên
thế giới:
2.2.1. Cộng hòa Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia đất rộng người đông, đứng thứ 2 ở Châu Á (sau
Trung Quốc). Theo các chuyên gia kinh tế, đặc điểm của đất nước Ấn Độ được
khái quát là:
Nền kinh tế chậm phát triển, tài nguyên phân bố không đồng đều, mất
cân đối giữa cỏc vựng, khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn, bình quân thu
nhập đầu người rất thấp, tốc độ tăng dân số quá nhanh, nhiều người thất nghiệp,
di dân từ nông thôn ra thành thi khá lớn.
Các chuyên gia phát triển nông thôn Ấn Độ cho rằng muốn đạt được mục
tiêu xây dựng nông thôn mới cần có 3 hệ thống trung tâm nông thôn được phân
cấp và hoạch định như sau:
Hệ thống trung tâm thứ nhất gọi là làng trung tâm, có chức năng đảm bảo
các dịch vụ cơ bản cho dân cư trong làng cũng như các khu vực xung quanh.
Hệ thống trung tâm thứ hai được gọi là trung tâm dịch vụ, có nhiệm vụ
cung cấp các dịch vụ ở mức trung bình.
13
Hệ thống trung tâm thứ ba là trung tâm phát triển, đáp ứng các nhu cầu
rời bỏ quê hương làng mạc. Khẩu hiệu ly nông bất ly hương đã trở thành mô
hình hấp dẫn của người nông dân nông thôn Trung Quốc.
Ưu điểm của mô hình phát triển công nghiệp nông thôn là sự tiếp nhận
công nghiệp mà tránh được sự tập trung quá đông ở các thành phố và khu công
nghiệp lớn, người dân nông thôn có cơ hội làm giàu, nông thôn phát triển mạnh,
mức sống nông thôn thành thị xích lại gần nhau.
2.2.3. Vương quốc Thái Lan:
Thái Lan là một nước nông nghiệp lớn trong vùng Đông Nam Á, là nước
có khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn. Cả nước có khoảng 53.000 làng
xóm, trải qua nhiều kế hoạch phát triển 5 năm, trong đó chú trọng đến sự phát
triển cỏc vựng nông thôn. Chính phủ đã xây dựng 32 dự án phát triển các khu
vực nông thôn với sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, nhờ đó mà đời sống của
nông dân đã được cải thiện đáng kể.
Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc biệt
là giao thông đường bộ, cung cấp nước tưới tiêu trong nông nghiệp và nước sinh
hoạt nông thôn. Việc đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi nông thôn phần lớn
tập trung vào cỏc vựng cú tiềm năng lớn trong sản xuất. Tuy nhiên vẫn còn một
số làng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt và chưa có
đường ô tô tới trung tâm. Măc dự đó phát triển hệ thống giao thông nông thôn
trên toàn quốc nhưng sự phân hóa giàu nghèo trong nông thôn ngày càng lớn.
Đó là những bức xúc mà Thái Lan vẫn phải đương đầu để vượt qua.
2.3. Đặc điểm và xu hướng biến đổi cơ cấu dân số, lao động của điểm
dân cư nông thôn
Khác với trước đây, dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nền
nông nghiệp của nước ta đang chuyển biến mạnh mẽ, theo xu hướng phá thế
độc canh và phát triển ngày càng đa dạng, phong phú. Mặt khác, việc cơ giới
hóa cũng từng bước được tăng cường nờn đó xuất hiện tầng lớp dân cư bán
nông nghiệp và phi nụng nghiờp ở nông thôn. Thêm vào đó, cũng như nhiều
nước trên thế giới, chúng ta đang nỗ lực phấn đấu theo xu hướng đô thị hoá đất
nước một cách có kiểm soát để từng bước giảm dần sự khác biệt giữa đô thị và
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
16
Nhà ở đô thị phải xây dựng phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu
chuẩn và các quy định về quản lý đầu tư và nhà ở do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành, hình thành các tiểu khu nhà ở, khu dân cư tập trung vừa và
nhỏ, phân bố hợp lý, không tập trung dân cư quá đông vào các thành phố lớn.
Phấn đấu đạt tiêu chí bình quân 15 m
2
sàn/người vào năm 2010 và
20m
2
/sàn vào năm 2020.
Nhà ở nông thôn: Phấn đấu, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng
chỗ ở của các hộ dân cư nông thôn. Phát triển nhà ở nông thôn gắn với việc phát
triển và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
Phát triển nhà ở nông thôn phải phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm
tự nhiên và tập quán sinh hoạt của từng vùng, sử dụng có hiệu quả quỹ đất són
cú và khuyến khích phát triển nhà ở có nhiều tầng, để tiết kiệm đất, hạn chế việc
chuyển đất nông nghiệp sang đất ở.
Khuyến khích huy động nội lực của hộ gia đình, cá nhân, ở khu vực nông
thôn tự cải thiện chỗ ở kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ,
các thành phần kinh tế.
Phấn đấu việc thanh toán nhà ở tạm (tranh, tre, nứa, lá) tại các khu vực
nông thôn vào năm 2020. Diện tích bình quân đạt 14m
2
/người vào năm 2010,
18m
2
/người năm 2020. Nhà ở nông thôn có công trình sinh hoạt và sản xuất
dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đạt tiêu chuẩn vệ
một số điểm dân cư nông thôn bị mất đi, một sụ khỏc sắp xếp lại, số còn lại
được bảo tồn trong cơ cấu quy hoạch đồ thị.
Hướng phát triển kiến trúc với việc hình thành các thị trấn, thị tứ giữ vai
trò là trung tâm xã, cụm xã, các thị trấn, thị tứ gắn với vùng nông nghiệp trước
khi xây dựng đều phải lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết.
Hướng cải tạo, chỉnh trang và phát triển kiến trúc tại các làng xã: Việc
phát triển kiến trúc tại các làng, xã thuộc cỏc vựng nông nghiệp cần lưu ý bảo
tồn được các truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán riêng biệt của từng địa
phương.
18
2.5. Một số quan điểm cho phát triển đô thị và điểm dõn cư nông
thôn tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm
2020, cơ cấu kinh tế của tỉnh trong giai đoạn tới sẽ chuyển theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp và thương mại dịch vụ trong cơ
cấu nền kinh tế sẽ tăng từ 69,5% năm 2010 lên 88,3% năm 2020. Vì vậy phải
ưu tiên cho phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và xõy dựng cơ sở hạ
tầng. Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản để phát triển thế
mạnh các khu trung tõm, các khu công nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt quan tõm
đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống để góp phần tạo
việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Tổ chức lại không gian kết
cấu hạ tầng để gắn kết các trung tõm phát triển kinh tế của tỉnh với các tỉnh lõn
cận, đặc biệt là vùng bắc trung bộ, nước bạn lào và vùng Đông Bắc Thái Lan.
Về phát triển đô thị: Phát triển hệ thống đô thị Nghệ An tạo ra mối liên
kết chặt chẽ nhằm đáp ứng và phục vụ chung cho mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội vùng trọng điểm kinh tế Bắc Trung bộ tới năm 2020. Xõy dựng thành
phố Vinh giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ, là đầu tàu
tăng trưởng, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, trung tâm công nghiệp, thương
mại, dịch vụ, du lịch và đầu mối giao thông quan trọng của Bắc Trung Bộ, cả
nước và quốc tế. Năm 2010 đạt tiêu chuẩn đô thị loại I, đến năm 2020 giữ vai
đánh giá thực trạng, phân loại và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
như: Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh trên địa bàn huyện
Thường Tín - Hà Tây, Nguyễn Danh Hựng trờn địa bàn huyện Từ Sơn - Bắc
Ninh, Cù Ngọc Thọ trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội,…
Nhìn chung, những nghiên cứu ứng dụng này đã có ý nghĩa rất lớn trong
quy hoạch mạng lưới dân cư của mỗi địa phương. Tuy nhiên tính khả thi của
các đồ án này còn chưa cao, quy hoạch vẫn ở tầm khái quát, phần lớn chưa có
quy hoạch chi tiết cho từng điểm dân cư. Do vậy, các điểm dân cư vẫn được bố
trí vẫn manh mún, phân tán, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, công tác xây dựng kiến
trúc cảnh quan khu dân cư phát triển một cách tự phát có thể theo quy hoạch
20
hoặc không theo quy hoạch gây khó khăn cho việc bố trí các công trình công
cộng phục vụ cho các khu dân cư.
3. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIấN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loại điểm dân cư, thực trạng kiến trúc, cảnh quan nhà ở, các công
trình công cộng và tình hình sử dụng đất trong khu dân cư huyện Diễn Châu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn 01 thị trấn và 38 xã của huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của
huyện Diễn Chõu, tỉnh Nghệ An liên quan đến phát triển mạng lưới dân cư
3.3.1.1. Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
- Vị trí địa lý, địa hình - địa mạo, khí hậu - thời tiết, thủy văn.
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên đất, nước, rừng, tài
nguyên khoáng sản và tài nguyên nhân văn.
- Cảnh quan môi trường.
- Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát
3.3.5.1. Căn cứ cho định hướng phát triển mạng lưới dân cư
Định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020.
3.3.5.2. Định hướng phát triển mạng lưới dân cư
- Định hướng phát triển điểm dân cư đô thị.
- Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập các tài liệu, số liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý:
+ Báo cáo về thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Diễn
Chõu.
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Diễn Chõu, tỉnh Nghệ An đến
năm 2020.
22
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện Diễn Chõu và cỏc xó.
+ Tình hình xây dựng cơ bản và kết cấu hạ tầng khu dân cư trên địa bàn.
+ Các văn bản pháp luật về tình hình quản lý và sử dụng đất dân cư trên
đia bàn.
+ Tình hình xây dựng cơ bản và kết cấu hạ tầng khu dân cư trên địa bàn.
+ Các văn bản pháp luật về tình hình quản lý và sử dụng đất dân cư trên
địa bàn.
3.4.2. Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn và tham khảo ý kiến các nhà quy hoạch sử dụng đất, xây
dựng, kiến trúc trong quá trình đánh giá hiện trạng cũng như định hướng phát
triển hệ thống điểm dân cư huyện Diễn Chõu.
3.4.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và tổng hợp
Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu về đặc điểm điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất khu dân cư của huyện
Diễn Chõu, tiến hành thống kê, phân loại tài liệu, số liệu theo từng nội dung. Sử
dụng phần mềm Excel để xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo
cáo tổng hợp.
''
đến 105
0
39
'
26
''
Kinh độ Đụng. Cú phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Bắc: Giáp huyện Quỳnh Lưu;
- Phía Nam: Giáp huyện Nghi Lộc;
- Phía Đông: Giáp biển Đông;
- Phía Tây: Giáp huyện Yên Thành.
Huyện nằm trên trục giao thông Bắc - Nam là nơi tập trung của
nhiều tuyến giao thông quan trọng như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 7A, Quốc lộ
48, tỉnh lộ 538 cùng tuyến đường sắt Bắc - Nam. Ngoài ra với 25 km bờ
biển cùng nhiều bãi cát đẹp là tiềm năng to lớn của huyện trong khai thác
thế mạnh du lịch, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Thị trấn Diễn Châu là
trung tâm kinh tế - văn hoá - chính trị của huyện, cách thành phố Vinh 33
km về phía Bắc.
Với những lợi thế trên, Diễn Châu có điều kiện để phát huy tiềm
năng về đất đai cũng như các nguồn lực khác cho phát triển tổng hợp các
ngành kinh tế - xã hội như nông, lâm nghiệp, thuỷ hải sản và du lịch - dịch
vụ trên địa bàn huyện nói riêng và toàn tỉnh Nghệ An nói chung.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Diễn Châu chia thành 3 dạng địa hình chớnh: Vựng đồi núi, đồng bằng
và cát ven biển.
* Vùng đồi núi: được chia thành 2 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng núi thấp Tây Nam: Chủ yếu là núi thấp (bình quân độ cao
200 - 300 m), đỉnh Thần Vũ cao nhất 441 m. Đây là địa bàn có độ dốc bình
quân trên 15
4.1.1.3 Địa chất thủy văn:
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn huyện khá dày gồm sụng Bựng, sụng
Vếch Bắc, kênh Nhà Lê, trong đó quan trọng nhất là sụng Bựng. Chế độ nước
của cỏc sụng phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm, mùa mưa nước cỏc sụng lên
cao gây ngập úng cục bộ các khu vực ven sông và mùa khô nước cỏc sụng
xuống thấp gây hiện tượng xâm nhập mặn khu vực cửa sông. Do phần lớn cỏc
sụng chảy qua địa hình cao dốc tốc độ dòng chảy mạnh nên khả năng tích nước
kém.
Chế độ thủy triều ở huyện là nhật triều và bán nhật triều không đều. Thời
kỳ triều dâng thường trùng vào thời điểm cú bóo gõy tác hại đối với khu vực
ven biển.
4.1.1.4. Khí hậu thời tiết
Diễn Châu chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với
một mùa nóng, ẩm, lượng mưa lớn (từ tháng 4 đến tháng 10) và một mùa khô
lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Những đặc điểm chính của
khí hậu thời tiết như sau:
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ bình quân cả năm tương đối cao 23,4
0
C, phân hóa theo mùa
khá rõ nét (cao nhất 40,1
0
C và thấp nhất 5,7
0
C). Đặc trưng theo mùa thích
hợp cho việc bố trí cơ cấu cây trồng đa dạng.
Tổng tớch ụn lớn hơn 8.000
0
C, cho phép phát triển nhiều vụ cây trồng
ngắn ngày trong năm.