SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG THÍ NGHIỆM ẢO ĐỂ TÍCH CỰC HÓA
HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG
GIẢNG DẠY CHƯƠNG 8- SGK HÓA HỌC 11 CƠ BẢN
Người thực hiện: Lưu Thị Thu Quyên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2016
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................2
...............................................................................................................................2
1. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài...............................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................2
2. NỘI DUNG.......................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn.................................................................................................3
2.1.1.Cơ sở lí luận...............................................................................................................3
2.2. Thực trạng........................................................................................................................5
2.3. Mô tả giải pháp của đề tài................................................................................................5
nghiệm trong các bài học, bài thi của bộ môn Hóa Học, việc rèn luyện các kĩ
năng này là vô cùng cần thiết trong nhà trường phổ thông.
Trên thực tế, giáo viên đã sử dụng thí nghiệm vào bài giảng một cách phổ
biến để hình thành kiến thức cho học sinh. Vì vậy, chúng ta cần sử dụng các thí
nghiệm một cách hợp lí, có phương pháp vào các bài giảng để hoạt động hóa
học sinh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng một cách hiệu quả,
tạo hứng thú hơn trong việc học tập môn Hóa học.
Tuy nhiên, theo tôi, việc sử dụng thí nghiệm vẫn còn chưa hệ thống, đúng
phương pháp, dẫn đến việc khai thác các kiến thức chưa được sâu sắc, logic, linh
hoạt và tổng hợp, tốn nhiều thời gian vô ích, điều đó làm cho hiệu quả của việc
sử dụng thí nghiệm chưa cao. Đặc biệt là trong hóa học hữu cơ, các thí nghiệm
thường khó thành công, phản ứng xảy ra chậm, có thể theo nhiều hướng khác
nhau. Giáo viên không thể thực hiện những thí nghiệm với những hóa chất độc
hại như phenol, anđehit, amin... ảnh hưởng đến sức khỏe.Hơn nữa, trên thực tế,
hầu hết ở các trường THPT trong Tỉnh, phòng thí nghiệm chưa được đảm bảo
đúng kỷ thuật, an toàn cũng như các thiết bị, đồ dùng, hóa chất còn thiếu thốn,
không đảm bảo chất lượng. Vì vậy, việc tiến hành các thí nghiệm trong các bài
giảng còn nhiều bất cập, chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, ngày nay, việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào việc giảng dạy ở trường THPT đã được phổ biến, các
bài giảng điện tử đã được áp dụng thường xuyên, nguồn tài liệu video thí
nghiệm, các mô phỏng thí nghiệm, mô hình, phần mềm thí nghiệm Hóa học... rất
phong phú, khoa học. Do đó, việc ứng dụng các thí nghiệm ảo vào bài giảng rất
ưu việt, dễ dàng thực thi, đạt được hiệu quả cao trong việc lĩnh hội kiến thức và
rèn luyện kỹ năng của học sinh. Chính vì những lí
do trên tôi đã chọn đề tài “Vận dụng thí nghiệm ảo để tích cực hóa hoạt động
nhận thức của học sinh trong giảng dạy chương 8 - SGK Hóa học 11”.
1
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”(mục 2 điều 3)
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”(mục 3
điều 24)
Như vậy, giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơn
thuần mà chú trọng hơn tới:
+ Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyên
môn, học để chuyển đổi nghề nghiệp….
+ Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong đời sống, lao động và sản xuất.
+ Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, phát
huy tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn
đề nảy sinh trong học tập và trong thực tiễn.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ tình hình thực tế ở trường THPT Yên Định 3 nói riêng và học
sinh THPT nói chung, tôi nhận thấy các em luôn thích thú những bài giảng có sử
dụng các thí nghiệm, khi giáo viên đưa thí nghiệm vào bài giảng, học sinh rất
hứng thú theo dõi, thảo luận các hiện tượng thí nghiệm rất sôi nổi, lĩnh hội kiến
thức rất nhanh và hệ thống, ghi nhớ các kiến thức rất linh hoạt, sâu sắc. Đồng
thời, thông qua các thí nghiệm, học sinh cũng tự rèn luyện thêm các thao tác, kỹ
năng thực hành trước khi tiến hành thực hành tại các phòng thí nghiệm.
Trên thực tế, có nhiều hình thức sử dụng thí nghiệm trong bài giảng như:
trình chiếu video thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm....Mỗi hình thức thí nghiệm
trên có những ưu và nhược điểm khác nhau, cụ thể như sau:
3
hệ thống trình chiếu phục vụ cho việc giảng dạy đã được trang bị đầy đủ, việc
trình chiếu các video thí nghiệm là dễ dàng thực hiện. Bên cạnh đó, hiện trạng
của hầu hết các Trường THPT là hệ thống phòng bộ môn chưa đảm bảo, chưa
đầy đủ, hóa chất thường là hết hạn sử dụng. Kết hợp những điều kiện thuận lợi
và khó khăn của thực tế, tôi đã sử dụng các video thí nghiệm vào bài giảng Hóa
học tại lớp để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện một phần các kỹ
năng thực hành trước khi tiến hành thí nghiệm trong các bài thực hành tại phòng
thí nghiệm, nhằm tránh sai sót và đạt được hiệu quả thực hành cao.
Đặc biệt, hiện nay, các video thí nghiệm, các mô phỏng thí nghệm, hệ thống
phần mềm thí nghiệm Hóa học đảm bảo chất lượng, khoa học, phục vụ cho bài
giảng đang rất phổ biến trên các kênh thông tin như Google, các trang web khác
của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Các video này được tải rất dễ dàng và có thể trình
chiếu được bằng nhiều phần mềm khác nhau như: KM- Player, Window
media....
Đồng thời, nguồn tư liệu thí nghiệm ảo còn có một hệ thống các video thí
nghiệm được phổ biến rộng rãi trên các trang web như Google. com/ Thí nghiệm
hóa học 12, Youtube/ thí nghiệm hóa học....Các video thí nghiệm này vô cùng
phong phú và đa dạng, giáo viên có thể lựa chọn các video chính xác khoa học
để ứng dụng vào bài giảng một cách hiệu quả nhất.
4
Với điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin phổ cập của trường THPT Yên
Định 3 và các trường THPT khác, việc trình chiếu các thí nghiệm trong bài
giảng là dễ dàng thực hiện được. Với các lí do trên, tôi đã tiến hành sử dụng
video thí nghiệm vào bài giảng và nghiên cứu đề tài này.
2.2. Thực trạng
Trên thực tế, giáo viên chưa hoặc đã sử dụng thí nghiệm vào bài giảng để
hình thành kiến thức cho học sinh nhưng chưa có tính hệ thống và chưa phổ
Các hoạt động cần thiết của giáo viên:
- Nêu vấn đề nghiên cứu
- Giải thích mục đích cần đạt được
- Vạch phương hướng nghiên cứu
- Tổ chức chỉ đạo
- Kích thích sự nhận thức của học sinh
5
2.3.2.1.2. Đặc trưng:
- Hoạt động của học sinh mang tính chủ động, độc lập: trực tiếp tác động
vào đối tượng nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức.
- Thí nghiệm được dùng như là phương tiện để kiểm nghiệm xác nhận giả
thuyết khoa học đúng đắn trong các giả thuyết mà học sinh đưa ra dưới sự
định hướng của giáo viên. Như vậy, trước khi làm hoặc xem thí nghiệm,
học sinh cần nêu các giả thuyết, các dự đoán, quan sát chất phản ứng. Sau
đó, giáo viên tiến hành thí nghiệm hoặc đưa video thí nghiệm, học sinh
quan sát, mô tả thí nghiệm, xác nhận giả thuyết hay dự đoán đúng, giải
thích hiện tượng, viết phương trình phản ứng để rút ra kết luận.
- Phương pháp này giúp học sinh nắm kiến thức vững chắc, sâu sắc, phong
phú, hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học, phát hiện và giải quyết vấn
đề.
2.3.2.1.3. Ví dụ: nghiên cứu tính chất của benzen
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
- Nêu mục đích của thí nghiệm
nghiên cứu tính chất của benzen.
- Yêu cầu học sinh dự đoán các giả
- Viết phương trình phản ứng
- Kết luận
2.3.2.2. Thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng, củng cố và hình thành kiến thức
mới
2.3.2.2.1. Các hoạt động:
Hoạt động của giáo viên chủ yếu là:
- Nêu mục đích thí nghệm
- Yêu cầu học sinh quan sát, dự đoán hiện tượng, làm thí nghiệm đối
chứng, giải thích hiện tượng, từ đó học sinh rút ra nhận xét.
- Sửa chữa, nhận xét, bổ sung kiến thức, kết luận kiến thức mới.
6
2.3.2.2.2. Đặc trưng:
Đối với phương pháp này, giáo viên củng cố, tổ chức điều khiển hoạt
động của học sinh, học sinh hoạt động như người nghiên cứu.
2.3.2.2.3.Ví dụ: sử dụng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng khi tìm hiểu về phản
ứng cộng của ankin.
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
- Nêu mục đích yêu cầu: nghiên cứu - Lắng nghe, nhận nhiệm vụ
phản ứng cộng của ankin.
- Quan sát trạng thái, màu sắc của các
- Yêu cầu học sinh quan sát trạng thái, chất trước phản ứng
màu sắc của các chất trước phản ứng
- Dự đoán các phản ứng:
- Yêu cầu học sinh dự đoán các phản + khí axetilen làm mất màu dung dịch
ứng xảy ra, hiện tượng
Brom(CCl4)
- Trình chiếu thí nghiệm.
+ benzen không tác dụng với dung
- Yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét
dịch Br2(CCl4)và dung dịch
hiện tượng, giải thích sự khác nhau với
KMnO4(t0) thì phải có cấu tạo bền
hidrocacbon không no dựa vào cấu tạo
+ CTCT
bền của vòng benzen
- Yêu cầu học sinh kết luận về CTCT
của benzen.
hay
7
2.3.3.Cách sử dụng video vào bài thực hành:
Mục tiêu chính của bài thực hành là học sinh tự rèn luyện kỹ năng, củng cố
kiến thức thông qua các thao tác thí nghiệm. Tuy nhiên, trước khi tiến hành thí
nghiệm, học sinh cần chuẩn bị đầy đủ kiến thức cũng như kỹ năng nhằm tránh
sai sót trong quá trình thực hành nhằm đạt được hiệu quả cao. Vì vậy, trước khi
học sinh tiến hành thí nghiệm, giáo viên củng cố các thao tác tiến hành, các kiến
thức cơ bản thông qua các video thí nghiệm.
- Đối với trường hợp Trường THPT có trang bị phòng thí nghiệm đảm bảo kỹ
thuật, giáo viên sử dụng thí nghiệm ảo theo phương pháp nghiên cứu để củng cố
kiến thức và kỹ năng của bài thực hành cho học sinh. Sau đó, yêu cầu học sinh
tiến hành thực hành các thí nghiệm tại phòng thí nghiệm để tiếp tục củng cố kiến
thức và rèn luyện kỹ năng. Thông qua việc thí nghiệm thực tế, học sinh sẽ có
niềm tin vào khoa học, vào các thí nghiệm ảo.., từng bước rèn luyện tính cách
cẩn thận, tích cực và chính xác khoa học.
- Đối với những nơi có điều kiện khó khăn, chưa trang bị được phòng thí
nghiệm, giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác trên
2.3.4.1.2. Phương pháp sử dụng thí nghiệm:
- Dùng thí nghiệm nêu vấn đề.
- Dùng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng, củng cố và hình thành kiến thức mới.
- Đàm thoại + dạy học nêu vấn đề + TNo trực quan.
2.3.4.1.3. Các bước tiến hành:
Các thí nghiệm
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Thí nghiệm 1: etanol tác
dụng với Na
Thí nghiệm 2:
Etilenglicol, glixerol,
etanol+ Cu(OH)2 .
- GV nêu vấn đề : từ đặc
điểm cấu tạo ancol phản
ứng với các chất như thế
nào?
- Trình chiếu thí nghiệm.
- Sửa chữa, kết luận:
PTHH dạng tổng quát
-HS quan sát, nêu hiện
tượng và viết PTHH:
→
C2H5OH + Na
C2H5ONa + 1/2H2.
natrietylat
- HS viết PTHH:
CH2=CH-CH2-CH3
nước của ancol.
(spp)
? Vận dụng:
CH3-CH(OH)-CH2-CH3
+ H2 O
H SO đ ,170 C
CH3-CH=CH-CH3
→
(spc)
- GV hướng dẫn HS xác
định sản phẩm chính,
phụ theo quy tắc Zaixep.
2
2
2
4
4
4
o
o
o
CuO →
CH3-COCH3 + Cu + H2O
[ O]
ancol bậc II →
xeton
ancol bậc III không bị
Thí nghiệm 5: Oxihóa - Chiếu thí nghiệm
oxi hoá
hoàn toàn etanol
Oxihoá hoàn toàn etanol. - Quan sát hiện tượng.
- Yêu cầu HS tự viết Viết PT
PTHH dạng tổng quát và C2H5OH + 3O2
t
→
đánh giá tỉ lệ mol của 2CO2 + 3H2O
CO2 với H2O.
o
o
0
Từ video và từ thực tế
Video quy trình sản xuất - Chiếu video về quy viết sơ đồ:
trình sản xuất ancol
etanol
(C6H10O5)n → C6H12O6
→ C2H5OH
Video ứng dụng và tác hại
- Dùng thí nghiệm nêu vấn đề.
- Dùng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng, củng cố và hình thành kiến
thức mới.
2.3.4.2.3. Các bước tiến hành:
Các thí nghiệm
Hoạt động của giáo Hoạt động của học sinh
viên
Thí nghiệm 1: Tính chất - Nêu vấn đề: tìm hiểu
vật lí của phenol
về tính chất vật lí, tính
chất hóa học của
phenol.
- HS quan sát, kết hợp
- GV cho HS quan sát nêu tính chất vật lí của
mẫu phenol, làm TNo phenol.
thử tính tan của Phenol là chất rắn không
phenol.
màu để lâu có màu hồng.
? Từ mẫu hoá chất, Phenol rất ít tan trong
TNo, kết hợp SGK, nước lạnh, nhưng tan
Tính tan của phenol
cho biết tính chất vật nhiều trong nước nóng và
lí của phenol?
trong etanol.
- GV nhấn mạnh:
phenol độc, gây bỏng
nặng, cần lưu ý khi
dùng phenol làm thí
nghiệm.
- đưa ra các dự đoán:
+ Phenol có phản ứng ở
nhánh và phản ứng ở
nhân
benzen với: Na, NaOH,
Brom.
- Quan sát, nhận xét,
khẳng định các dự đoán
đúng, viết phương trình
hóa hoc :
C6H5OH + NaOH →
C6H5ONa + H2O
- GV chiếu thí nghiệm
C6H5OH + Br2
- Yêu cầu học sinh
nêu hiện tượng viết
các phương trình , nêu
ý nghĩa của phản ứng.
Thí nghiệm 4: Phenol với
Axit HNO3
Quan sát, nêu hiện tượng,
viết phương trình:
C6H5OH + 3Br2 →
C6H2Br3OH ↓ + 3HBr
Màu trắng
→ p.ứ nhận biết phenol
- Chiếu thí nghiệm
C6H5OH tác dụng với với chất khác.
Dựa trên các kiến thức đã khai thác được ở trên, GV hướng dẫn học sinh
bổ sung để hoàn thành tính chất vật lí, hóa học của phenol.
Học sinh cũng sẽ tự đưa ra kết luận, khắc sâu kết luận và hình thành kỹ năng
thực hành thông qua các video thí nghiệm.
Phenol rất độc nên việc tiến hành thí nghiệm nên hạn chế.
Việc sử dụng các thí nghiệm ảo để củng cố các kiến thức và thao tác, kỹ
năng thực hành trước khi tiến hành thí nghiệm đã giúp học sinh thao tác chính
xác, khoa học, tránh được sai sót, thu được hiệu quả lớn trên bài thực hành.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
2.4.1. Ý kiến thăm dò:
Tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 300 em học sinh khối 11 trong các
năm học khác nhau về việc sử dụng vào bài giảng với nội dung cụ thể như sau:
2.4.1.1. Nội dung thăm dò:
Câu 1/ Cá nhân có thích những bài học có sử dụng video thí nghiệm để tìm hiểu
kiến thức mới không?
Có
Không
Không có ý kiến
Câu 2/ Cá nhân có cảm thấy dễ hiểu bài hơn khi bài học có sử dụng video thí
nghiệm không?
Có
Không
Không có ý kiến
Câu 3/ Cá nhân có cảm thấy kiến thức được khắc sâu hơn, nhớ lâu hơn thông
qua video thí nghiệm không?
Có
Không
Không có ý kiến
Câu 4/ Cá nhân có vận dụng kiến thức học được qua video thí nghiệm, kiến
thức của bài học để giải thích các hiện tượng thực tế không?
Không có ý kiến
Câu 10/ Cá nhân có mong muốn được học các bài học có sử dụng các video thí
nghiệm thường xuyên không?
Có
Không
Không có ý kiến
2.4.1.2. Kết quả khảo sát:
Với tổng số 300 học sinh, số lượng câu hỏi được lựa chọn như sau:
Câu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Có
300 286
259
223
167
245
243
248
155
300
Không
30
12
42
35
72
0
Với kết quả khảo sát như trên, tôi có kết luận rằng:
- Đa số học sinh rất hứng thú với những bài giảng có thí nghiệm.
- Đa số học sinh mong muốn được học các bài học có sử dụng thí nghiệm.
- Bài giảng có sử dụng thí nghiệm đem lại hiệu quả cao trong việc lĩnh
hội, ghi nhớ, vận dụng kiến thức của học sinh.
2.4.2. Kết quả thống kê:
Tôi đã thống kê kết quả bài kiểm tra của các chương nhằm theo dõi chất
lượng học tập của học sinh sau khi áp dụng phương pháp sử dụng các thí nghiệm
vào bài giảng, cụ thể như sau:
2.4.2.1. Kết quả kiểm tra:
Tôi đã thống kê được kết quả của bài kiểm tra viết số 4- nội dung chính là
chương dẫn xuất halogen – Ancol - Phenol - Chương trình hóa học lớp 11 - Ban
cơ bản, trong 3 năm học gần đây:
Năm
2013- 2014
2014- 2015
2015- 2016
2.4.2.2. Nhận xét:
- Đa số học sinh nắm được kiến thức của chương.
- Kết quả học tập của học sinh ổn định qua các năm.
2.4.3. Khả năng thay thế các giải pháp hiện có
Theo tôi, việc sử dụng thí nghiệm ảo vào bài giảng một cách khoa học, có
phương pháp là cần thiết. Mặt khác, trong các bài giảng, việc kết hợp các thí
nghiệm trực tiếp và các thí nghiệm ảo hợp lí, phù hợp với đặc thù của bộ môn và
thực tế hiện nay tại các trường THPT.
2.4.4. Khả năng áp dụng ở đơn vị hoặc trong ngành
Việc sử dụng các video thí nghiệm hóa học vào bài giảng đã được tôi và
các giáo viên trong nhà trường áp dụng. Chúng tôi đang từng bước củng cố,
khắc phục các nhược điểm để tiếp tục nâng cao hiệu quả của phương pháp này,
đồng thời, áp dụng phương pháp này cho toàn bộ các bài học của các khối
THPT.
Theo tôi, việc áp dụng các video thí nghiệm vào bài giảng là hoàn toàn
thực hiện được cho hầu hết các bài giảng của chương trình Hóa học tại các
trường THPT.
Với những kết quả đạt được của việc ứng dụng thí nghiệm vào bài giảng,
học sinh yêu thích hơn, hứng thú hơn với bộ môn Hóa học, giúp cho kết quả học
tập của bộ môn tăng cao.
Các hiện tượng trong thí nghiệm, kết hợp với các kiến thức của bộ môn
giúp học sinh giải thích các hiện tượng trong cuộc sống dễ dàng. Mặt khác, các
kỹ năng thực hành, sự khéo léo, tính cẩn thận của học sinh cũng được rèn luyện,
giúp cho học sinh linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
đồng thời nhìn nhận các sự vật hiện tượng xảy ra trong cuộc sống một cách khoa
học hơn từ đó tạo được niềm tin của bản thân và có những hành động giúp ích
cho cuộc sống, cho xã hội.
Việc áp dụng các video thí nghiệm vào việc giảng dạy các bài học của
học sinh hoạt động tích cực hơn trong việc tìm hiểu bài mới, nhớ được bài và
nắm vững hơn kiến thức. Học sinh học tập được các thao tác thí nghiệm, bước
đầu hình thành được các kỹ năng thực hành, thí nghiệm, làm cơ sở cho việc tiến
hành các thí nghiệm trong các bài thực hành tại phòng thí nghiệm. Đây là nguồn
tư liệu để các giáo viên và học sinh THPT có thể tham khảo và áp dụng.
Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp: đề tài sẽ
được áp dụng trong toàn bộ chương trình hóa THPT, có tác dụng làm phong phú
thêm kiến thức Hóa học, rèn luyện được nhiều kỹ năng quan trọng cho học sinh
và cũng từ đó có thể vận dụng để giải thích linh hoạt các hiện tượng thường gặp
trong cuộc sống hằng ngày, tạo sự hứng thú và sự tin tưởng của học sinh vào bộ
môn Hóa học. Theo tôi, việc vận dụng thí nghiệm ảo trong dạy học còn có thể
được áp dụng rộng rãi cho các bộ môn khác như: Vật lý, Sinh học nhằm góp
phần mang lại hiệu quả cao trong việc dạy và học trong trường phổ thông.
3.2. Kiến nghị
- Cần đưa hệ thống thí nghiệm vào các sách giáo khoa nhiều hơn và có hệ thống
hơn.
- Cần tăng cường số lượng và chất lượng các video thí nghiệm trên các kênh
thông tin.
- Lựa chọn và thiết lập hệ thống video thí nghệm, phần mềm thí nghệm khoa
học, hoàn chỉnh, thống nhất, chuẩn cho chương trình Hóa học THPT trong toàn
tỉnh.
- Trang bị phòng thí nghiệm đúng tiêu chuẩn tại các trường THPT.
- Mở rộng nguồn thí nghiệm ảo chuẩn cho các bộ môn Hóa học, Vật Lý, Sinh
học...
- Trang bị cho giáo viên phương pháp sử dụng nguồn tài liệu thí nghiệm ảo.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị:
Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi
viết, không sao chép của người khác.
Người viết