BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THỊ NGA SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
DẠY HỌC (CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 11 THPT) THEO
HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA
HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC VINH – 2014
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ VĂN NĂM
VINH - 2014 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS. Lê Văn Năm - Khoa Hóa trường Đại học Vinh, đã giao
đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
- Thầy giáo TS. Lê Danh Bình – Khoa Hóa trường Đại học Vinh và thầy giáo
TS. Nguyễn Xuân – Thành phố Vinh đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét
cho luận văn.
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các
thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá
học trường ĐH Vinh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành
luận văn này.
6.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn 5
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5
7. Đóng góp mới của đề tài 5
8. Cấu trúc của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập 6
1.1.1. Tính tích cực trong học tập. 6
1.1.2. Cơ sở tâm lý học của tính tích cực trong học tập 7
1.1.3. Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh. 7
1.2. Các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh 8
1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 8
1.2.2. Nét đặc trưng của PPDH tích cực 8
1.2.3. Một số phương pháp dạy học tích cực 14
1.3. Thí nghiệm hóa học trong dạy học 19
1.3.1. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hoá học 19
1.3.2. Thí nghiệm của giáo viên 21
1.3.2.1. Những yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm 21
1.3.2.2. Phối hợp lời nói của GV với việc biểu diễn thí nghiệm 22 1.3.3. Thí nghiệm của học sinh 23
1.3.3.1. Thí nghiệm HS khi nghiên cứu tài liệu mới 23
1.3.3.2. Thí nghiệm thực hành trong phòng thí nghiệm 25
1.3.3.3. Thí nghiệm đơn giản giao cho HS làm ở nhà 26
1.3.4. Đảm bảo an toàn khi sử dụng thí nghiệm. 26
1.3.4.1. Thí nghiệm với chất độc 26
2.3.3. Sử dụng thí nghiệm của HS 81
2.3.3.1. Thí nghiệm của HS khi học bài mới 81
2.3.3.2. Thí nghiệm thực hành của HS 86
2.3.3.3. Thí nghiệm ngoại khóa, ở nhà 90
2.4. Thiết kế giáo án có sử dụng thí nghiệm hóa học để tổ chức các hoạt động học
tập tích cực. 98
2.4.1. Giáo án có sử dụng thí nghiệm biểu diễn của GV 98
2.4.2. Giáo án có sử dụng thí nghiệm của HS khi học bài mới, thí nghiệm ở
nhà 103
2.4.3. Giáo án có sử dụng thí nghiệm thực hành của HS 108
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 118
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 120
3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 120
3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm 120
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 121
3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm 121
3.3.2. Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm 121
3.3.3. Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 121
3.3.4. Trao đổi với GV dạy thực nghiệm 122
3.4. Các phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm. 122
3.4.1. Phương pháp phân tích định tính kết quả 122
3.4.2. Phương pháp phân tích định lượng kết quả kiểm tra 122
3.4.3. Phân tích số liệu thống kê 123
3.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm 124
3.5.1. Tổ chức thực nghiệm sư phạm 124
3.5.2. Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 126
3.5.3. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 131
KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BT : Bài tập
CH : câu hỏi
Dd : dung dịch.
GV : giáo viên.
HCHC : Hợp chất hữu cơ.
HS : học sinh.
PPDH : phương pháp dạy học.
PTHH (pthh) : phương trình hóa học
PTPƯ : phương trình phản ứng.
SBT( sbt) : sách bài tập.
SGV (sgv) : sách giáo viên.
SGK : Sách giáo khoa.
THPT : trung học phổ thông.
PTN : phòng thí nghiệm
TN : thực nghiệm.
ĐC (Đc) : đối chứng.
TN
1
: thí nghiệm 1.
TN
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng phân phối kết quả kiểm tra bài thực nghiệm 1………………… 126
Bảng 3.2. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 1…… 126
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1………………………… 127
Bảng 3.4. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 1……………….128
nhập quốc tế là con người. Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra
những con người lao động năng động, sáng tạo làm chủ đất nước, tạo nguồn nhân
lực cho một xã hội phát triển. Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước đang đòi hỏi
cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao. Cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi
mới căn bản về phương pháp dạy học.
Nhân tài có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Trên bia
Văn Miếu Hà Nội, ông cha ta đã khẳng định: “Những người tài giỏi là yếu tố cốt tử
đối với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước phát triển mạnh mẽ và
phồn thịnh. Khi yếu tố này kém đi thì quyền lực đất nước bị suy thoái. Những người
giỏi có học thức là một sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nước”.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 -
1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các
chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh".
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ
động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993) đã xác định: “Phải khuyến 2 khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Định hướng này đã
3 huy tính tích cực chủ động của HS, coi HS là chủ thể của quá trình dạy học. Đây là
nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học. Nguyên tắc
này đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là
một trong những phương hướng cải cách GD phổ thông Việt Nam. Những tư tưởng,
quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc trên đã được chúng ta nghiên
cứu, áp dụng dạy học trong các môn học và được coi là phương hướng dạy học tích
cực.
Với đề tài này, chúng ta đã được biết đến qua một số công trình nghiên cứu về
việc sử dụng thí nghiệm để nâng cao hiệu quả dạy học của các môn học cụ thể đó là
các bài báo, các báo cáo được đăng trên các tạp chí giáo dục, hóa học ứng dụng, các
luận văn, luận án tiến sĩ. Đó là những công trình đã trình bày có hệ thống lý luận
về việc sử dụng thí nghiệm để nâng cao hiệu quả giảng dạy các nội dung cơ bản
của bộ môn hóa học trong chương trình phổ thông.
Ngoài ra còn một số các bài báo, công trình nghiên cứu khác đi sâu vào việc
nghiên cứu về đổi mới PPDH trong đó có PPDH nêu và giải quyết vấn đề mà mấu
chốt của PPDH này là sử dụng thí nghiệm. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm để tổ chức dạy học (chương trình hóa học 11
THPT) theo hướng dạy học tích cực.
Trên cơ sở tăng cường đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học
tập của học sinh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Sử dụng thí nghiệm nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học (chương trình hóa học 11 THPT) theo hướng tích cực
hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học môn hóa học ở trường THPT.
- Đối tượng nghiên cứu:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tâm lí học, giáo dục học, lý luận dạy học liên
quan đến vấn đề tính tích cực của học sinh trong hoạt động nhận thức của quá trình
học tập.
- Nghiên cứu lí luận về việc xây dựng thí nghiệm và các PPDH tích cực môn
hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu vai trò của thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học.
- Tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài: Sách giáo khoa Hóa học 11, sách
giáo viên hóa học, tạp chí Hóa học, đề tài khoa học, luận văn nhằm đề ra giả thuyết
khoa học và nội dung của luận văn. 5 6.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
- Tìm hiểu thực tiễn giảng dạy và sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học
nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.
- Quan sát, trao đổi và thảo luận ý kiến với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm
về nội dung, kiến thức và kĩ năng sử dụng các thí nghiệm hóa học trong mỗi bài.
- Lập các phiếu điều tra để tìm hiểu về thực tiễn cũng như những thông tin cần
thiết giúp người nghiên cứu có những cơ sở cho việc sử dụng thí nghiệm để nâng
cao hiệu quả dạy học hóa học hiện nay, những khó khăn và thuận lợi khi tiến hành
tổ chức hướng dẫn học sinh sử dụng thí nghiệm hóa học trong quá trình học tập để
từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp trong quá trình xây dựng tiến trình dạy học
cụ thể và quá trình dạy học.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT có đối chứng để kiểm
tra giả thuyết khoa học về tính khả thi, tính đúng đắn mà giả thuyết nêu ra.
- Nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống thí nghiệm và tiến trình giảng dạy khi
- Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát
vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.
Nói cách khác, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy
động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập
nhận thức.
- Việc hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ
chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp
phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, đồng thời
là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
- Tính tích cực của HS có mặt tự phát và tự giác:
+ Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở
tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻ đều có,
trong mức độ khác nhau.
+ Mặt tự giác của tính tích cực tức là trạng thái tâm lí, tính tích cực có mục
đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. Tính tự
giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học…
- Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
+ Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
+ Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm cách giải quyết khác nhau về
một số vấn đề …
+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu… 7 1.1.2. Cơ sở tâm lý học của tính tích cực trong học tập
Theo tâm lí học, tính tích cực nhận thức của HS tồn tại với tư cách là cá nhân
với toàn bộ nhân cách của nó. Cũng như bất kì một hoạt động nào khác, hoạt động
nhận thức được tiến hành trên cơ sở huy động các chức năng nhận thức, tình cảm và
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học
nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt.
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.
1.2. Các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
[8],[24],[32],[34],[42].
1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều
nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” trong PPDH – tích cực được
dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động
chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
- PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy
học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo
phương pháp thụ động.
- Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học,
nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.
Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo
viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích
cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập
thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây
dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên
cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả thầy và trò, sự phối
hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
1.2.2. Nét đặc trưng của PPDH tích cực
a. Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động
học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học sinh
phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được
chú trọng.
- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ 10 tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên.
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học hơn là việc truyền thụ kiến thức.
Diesteweg viết: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi
dạy cách tìm ra chân lí”. Rèn luyện cho HS phương pháp tự học không chỉ là biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của dạy học. Con người
được đào tạo trước hết phải là con người năng động, có tính tích cực, có khả năng tự
học, tự nghiên cứu để tự hoàn thiện mình.
- Mặt khác, trong một thời gian ngắn nhà trường không thể trang bị kịp cho
HS những kiến thức cần thiết trong kho tang kiến thức của nhân loại đang ngày một
phong phú thêm. Do vậy, GV phải tìm cách hình thành ở HS phương pháp và năng
lực tự học, tự nghiên cứu để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức và hoàn thiện bản thân
sau này.
c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
tác GV-HS và tương tác nhóm.
- Phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi HS
trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Vì vậy phải chú ý đến vai trò của từng
cá nhân trong hoạt động dạy học. Tuy nhiên, vai trò cá nhân chỉ có thể phát huy tốt
thông qua sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS và HS và tương tác giữa các nhóm
với nhau, đó chính là phương pháp học tập hợp tác. Trong phương pháp này, người
ta đề cao vai trò giao tiếp giữa HS và HS. Để phát huy vai trò của HS người ta
thường tổ chức việc học tập hợp tác theo kiểu nhóm, tổ từ 4 đến 6 người. Học tập
nhóm, tổ tạo cho HS có nhiều cơ hội bộc lộ suy nghĩ , hiểu biết và thái độ của mình.
Đó là cách tốt nhất để hình thành cho HS tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong
suy nghĩ cũng như hành động.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
- Quá trình dạy học bao gồm hai hoạt động dạy và học, với hai chủ thể là GV
và HS. Trong quá trình này luôn có sự điều chỉnh và tự điều chỉnh. Vì vậy, ngoài sự
đánh giá của GV, phải có sự tự đánh giá của HS.
- Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
- Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều
chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học 12 sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động
kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải
trang bị cho học sinh.
- Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
lí thông tin…tự hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất.
Bản chất
Truyền thụ tri thức, truyền
Tổ chức hoạt động nhận thức 13 thụ và chứng minh chân lí của
giáo viên.
cho học sinh. Dạy học sinh cách
tìm ra chân lí.
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo. Học để đối
phó với thi cử. Sau khi thi xong
những điều đã học thường bị bỏ
quên hoặc ít dùng đến.
Chú trọng hình thành các
năng lực (sáng tạo, hợp tác…)
dạy phương pháp và kĩ thuật lao
động khoa học, dạy cách học.
Học để đáp ứng những yêu cầu
của cuộc sống hiện tại và tương
lai. Những điều đã học cần
thiết, bổ ích cho bản thân học
sinh và cho sự phát triển xã hội.
Nội dung
14 1.2.3. Một số phương pháp dạy học tích cực [8], [32], [34], [42].
a. Vấn đáp tìm tòi:
- Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi
để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội
được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân
biệt ba phương pháp vấn đáp.
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận.
- Vấn đáp giải thích - minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa làm cho HS
dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các
phương tiện nghe nhìn.
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơristic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp
xếp hợp lý để hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy
luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết, GV tổ chức sự
trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm
giải quyết một vấn đề xác định.
b. Sử dụng thí nghiệm hóa học để hoạt động hóa nhận thức học sinh:
- Trong dạy học hoá học, thí nghiệm hoá học thường được sử dụng để chứng
minh, minh họa cho những thông báo bằng lời của GV về các kiến thức hoá học.
Thí nghiệm cũng được dùng làm phương tiện để nghiên cứu tính chất các chất, hình
thành các khái niệm hoá học.
- Sử dụng thí nghiệm trong dạy hoá học được coi là tích cực khi thí nghiệm
hoá học được dùng làm nguồn kiến thức để HS khai thác, tìm kiếm kiến thức hoặc
dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình thành khái
- Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu sẽ giúp HS hình thành kỹ
năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề.
Như vậy, khi sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu thì GV đã tổ
chức cho HS tập làm người nghiên cứu: HS hiểu mục đích nghiên cứu, vận dụng
kiến thức đã có đưa ra các dự đoán và dự kiến các phương án thực hiện việc kiểm
nghiệm các dự đoán đưa ra, tiến hành thí nghiệm khẳng định dự đoán đúng, bác bỏ
dự đoán không phù hợp với kết quả thí nghiệm, tìm ra kiến thức cần thu nhận. Bằng
cách đó HS vừa thu được kiến thức hoá học qua sự tìm tòi vừa có được phương
pháp nhận thức hoá học cùng các kỹ năng hoá học cơ bản.
d. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề:
- Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề là kiểu dạy học mà GV tạo ra những