SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TỰ LÀM MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN
SAU KHI HỌC BÀI “CÁC DẠNG CÂN BẰNG. CÂN BẰNG
CỦA MỘT VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” (SGK VẬT LÍ 10 THPT)
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoàng Thanh
Chức vụ: Giáo viên, tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Vật lí
THANH HOÁ NĂM 2017
1
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài…………............…...…….…………………
1.2 Mục đích nghiên cứu…………………...................…………
1.3 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………
1.4. Phương pháp nghiên cứu…………….….......………………
2. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận ..................................................................................
2.1.1 Chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy
học Vật lí ở trường phổ thông................................................................
1
2
2
2
3
3
3
3
3
4
5
5
5
6
6
6
6
6
7
7
7
7
9
10
12
12
12
13
còn ở các giờ học tự chọn, không những trên lớp học mà còn ở ngoài lớp, ở nhà.
Việc đưa thí nghiệm vào dạy học làm cho học sinh tiếp cận với con đường
nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học và tiếp thu các kiến thức một cách dễ
dàng và sâu sắc hơn. Thông qua hoạt động thực nghiệm vật lý, học sinh sẽ được
củng cố, mở rộng kiến thức, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo; giáo dục tổng hợp và tinh thần làm việc tập thể;
kích thích sự hứng thú, phát huy cao độ tính tích cực và phát triển năng lực sáng
tạo.
Đặc biệt, hình thức tố chức cho học sinh tự thiết kế, chế tạo dụng cụ và tiến
hành các thí nghiệm đơn giản sẽ đem lại hiệu quả dạy học rất cao vì nó phù hợp
với đặc thù bộ môn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay là lấy
người học làm trung tâm. Lúc này học sinh tiến hành thí nghiệm Vật lí trong
điều kiện không có sự giúp đỡ, kiểm tra trực tiếp của giáo viên vì vậy đòi hỏi
cao độ tính tự giác, tự lực, tích cực của học sinh trong học tập. Cũng khác với
các loại thí nghiệm khác, thí nghiệm Vật lí ở nhà chỉ đòi hỏi học sinh sử dụng
các dụng cụ thông dụng trong đời sống, những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc các
dụng cụ thí nghiệm đơn giản được học sinh chế tạo từ những vật liệu này. Chính
đặc điểm này tạo nhiều cơ hội phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong
việc thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được
giao. [3]
1
Qua quá trình dạy học bài “Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có
mặt chân đế” (SGK Vật lí 10 THPT), tôi nhận thấy bài học này không có thí
nghiệm theo yêu cầu của SGK, tuy nhiên kiến thức bài học có sự liên hệ thực tiễn
rất phong phú, rất gần gũi và có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật. Có thể
sử dụng rất nhiều dụng cụ và thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm từ cuộc sống để minh
họa cho bài học. Chính vì vậy tôi đã giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh tự thiết
- Việc chế tạo dụng cụ thí nghiệm đòi hỏi ít vật liệu. Các vật liệu này đơn giản,
rẻ tiền, dễ kiếm. [2]
- Dễ chế tạo dụng cụ thí nghiệm từ việc gia công các vật liệu bằng các công cụ
thông thường như kìm, buá, kéo, cưa, giũa. Chính nhờ đặc điểm này của các
dụng cụ thí nghiệm đơn giản, trong một số trường hợp, ta có thể làm được một
số thí nghiệm mà không thể tiến hành được với các dụng cụ có sẵn trong phòng
thí nghiệm. [2]
- Dễ lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ thí nghiệm. Vì vậy, với cùng
một dụng cụ thí nghiệm, trong nhiều trường hợp ta chỉ cần thay thế các chi tiết
phụ trợ là có thể làm được thí nghiệm khác. [2]
- Dễ bảo quản, vận chuyển và an toàn trong chế tạo cũng như trong quá trình
bố trí, tiến hành thí nghiệm. [2]
- Việc bố trí và tiến hành thí nghiệm với những dụng cụ thí nghiệm cũng đơn
giản, không tốn nhiều thời gian. [2]
- Hiện tượng Vật lí diễn ra trong thí nghiệm với dụng cụ thí nghiệm đơn giản
phải rõ ràng, dễ quan sát. [2]
2.1.1.2 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong
dạy học Vật lí
- Việc giao cho học sinh nhiệm vụ thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí
nghiệm đơn giản để tiến hành các thí nghiệm Vật lí có tác dụng trên nhiều mặt
góp phần nâng cao chất lượng kiến thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ thực tiễn độc lập và sáng tạo của học sinh. [2]
- Do được tự tay chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để tiến hành các
thí nghiệm, học sinh nắm vững kiến thức hơn, chính xác và bền vững hơn.
Trong nhiều trường hợp, việc tiến hành thí nghiệm, giải thích hoặc tiên đoán kết
quả thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải huy động các kiến thức đã học ở nhiều
phần khác nhau của Vật lí. Thông qua đó, các kiến thức mà học sinh lĩnh hội
được củng cố, đào sâu, mở rộng và hệ thống hóa. [2]
- Việc sử dụng các thí nghiệm đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ
thông còn cần thiết, bởi vì với các thiết bị có sẵn trong phòng thí nghiệm, trong
nhiều trường hợp, “cái hiện đại” của các thiết bị này che lấp mất bản chất Vật lí
hoàn thành nhiệm vụ được giao. [3]
- Loại thí nghiệm này khác với các loại bài làm khác của học sinh ở nhà ở chỗ:
Nó đòi hỏi sự kết hợp giữa hoạt động trí óc và hoạt động chân tay của học sinh.
[3]
- Với những đặc điểm trên, thí nghiệm Vật lí ở nhà có tác dụng trên nhiều mặt
đối với việc phát triển nhân cách của học sinh: Quá trình tự lực thiết kế phương
án thí nghiệm, lập kế hoạch thí nghiệm, chế tạo hoặc lựa chọn dụng cụ, bố trí
tiến hành thí nghiệm, xử lí kết quả thí nghiệm thu thập được góp phần vào việc
phát triển năng lực hoạt động trí tuệ - thực tiễn của học sinh. Việc thực hiện và
hoàn thành các công việc trên sẽ làm tăng rõ rệt hứng thú học tập, tạo niềm vui
của sự thành công trong học tập của học sinh. Việc thiết kế phương án thí
nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích các kết quả thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải
huy động các kiến thức đã học, mà nhiều khi ở các phần khác nhau của Vật lí.
Nhờ vậy, chất lượng kiến thức của học sinh được nâng cao. Thí nghiệm Vật lí ở
nhà có tác dụng làm phát triển những kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm, các thói quen
của người làm thực nghiệm mà học sinh đã thu được trong các loại thí nghiệm
khác. [3]
- Loại thí nghiệm này cũng tạo điều kiện cho giáo viên cá thể hóa quá trình
học tập của học sinh bằng cách giao cho các đối tượng học sinh khác nhau
nhiệm vụ chế tạo dụng cụ thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm với mức độ khó dễ
khác nhau, nông sâu khác nhau và mức độ hướng dẫn khác nhau về cách chế
tạo, lựa chọn dụng cụ, tiến hành thí nghiệm... được thể hiện trong đề bài. [3]
- Khi sử dụng loại thí nghiệm này trong dạy học Vật lí, giáo viên cần bố trí
thời gian để học sinh báo cáo trước toàn lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu
4
những sản phẩm của mình, nhận được sự đánh giá của giáo viên và tập thể cũng
như động viên và khen thưởng kịp thời. [3]
- Thí nghiệm Vật lí ở nhà không những nhằm đào sâu, mở rộng các kiến thức
2.1.2.2. Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
a) Khái niệm năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật
chất hoặc tinh thần, tìm ra các mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành
công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. [7]
b) Các biểu hiện của sự sáng tạo trong nghiên cứu vật lí
Những hành động của học sinh trong học tập có mang tính sáng tạo như:
đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ; đề xuất được những sáng
kiến kĩ thuật để thí nghiệm chính xác hơn, dụng cụ bền đẹp hơn; đưa ra dự đoán
kết quả các thí nghiệm; so sánh được các phương án thí nghiệm; vận dụng kiến
5
thức để giải thích hiện tượng vật lí, kết quả thí nghiệm hoặc các ứng dụng trong
kĩ thuật;...
2.2 Thực trạng vấn đề
Trên cơ sở thực tế dạy học bộ môn Vật lí ở trường THPT Yên Định 3,
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tôi nhận thấy một số thực trạng sau:
2.2.1 Tình hình giảng dạy của giáo viên
- Ở nhiều bài học, giáo viên vẫn mang nặng phương pháp truyền thụ,
thuyết trình, thông báo.
- Giáo viên gần như chỉ tiến hành thí nghiệm biểu diễn trong các bài có
yêu cầu sử dụng thí nghiệm tối thiểu; ít chế tạo thêm các dụng cụ thí nghiệm;
- Các giáo viên rất ít tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự thiết kế, chế tạo
và tiến hành các thí nghiệm vật lí.
- Đối với bài học “Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có mặt
chân đế” (SGK Vật lí 10) không có thí nghiệm được cấp vì vậy giáo viên giảng
dạy chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, chưa có giáo viên nào tổ chức
hoạt động cho học sinh tự thiết kế, chế tạo và tiến hành các thí nghiệm đơn giản
liên quan đến nội dung bài học.
không tích cực trong học tập.
Trong dạy học nội khóa đã được trang bị một số thiết bị thí nghiệm tối
thiểu tuy nhiên những thiết bị chế tạo sẵn đó đôi khi không gần gũi và quen
thuộc với thực tiễn nên các em khó liên hệ và vận dụng vào cuộc sống. Đa số
các dụng cụ thí nghiệm được cấp đều là thí nghiệm định lượng phục vụ mục
đích nghiên cứu khảo sát các định luật vật lí, ít thí nghiệm định tính về các hiện
tượng vật lí.
Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc thay đổi phương pháp dạy học
nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả đối với mọi đối tượng học sinh và tất cả các
nội dung kiến thức.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trước thực trạng đó, tôi thấy một trong những giải pháp để khắc phục là
đối với những bài học, những chương trong SGK có nội dung phù hợp, giáo
viên có thể tổ chức hoạt động cho HS tự thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm
đơn giản và sử dụng các dụng cụ đó để tiến hành các thí nghiệm để HS được vận
dụng kiến thức bài học giải thích các hiện tượng Vật lí có liên quan nhằm củng
cố, mở rộng các kiến thức trong chương trình nội khóa; rèn luyện khả năng vận
dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng Vật lí trong thực tiễn; rèn luyện kĩ
năng thực hành; kích thích sự hứng thú, tính tích cực và phát triển năng lực sáng
tạo của HS.
Và bài “Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có mặt chân đế”
(SGK Vật lí 10 THPT) là một bài rất phù hợp để áp dụng hình thức tổ chức trên
vì bài này không có thí nghiệm theo yêu cầu của SGK, tuy nhiên kiến thức bài
học có sự liên hệ thực tiễn rất phong phú, rất gần gũi và có nhiều ứng dụng trong
đời sống và kĩ thuật. Có thể sử dụng rất nhiều dụng cụ và thí nghiệm đơn giản,
dễ kiếm từ cuộc sống để minh họa cho bài học.
2.3.1 Quy trình thực hiện
- Bước thứ nhất: giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh. Giáo
viên định hướng và giúp đỡ trong quá trình học sinh tham gia thiết kế, chế tạo
các dụng cụ thí nghiệm và tiến hành các thí nghiệm về “Các dạng cân bằng.
Hình 4. Xác định
trọng tâm bằng cách
dùng dây dọi
Hình 5. Xác định trọng Hình 6. Xác định trọng
tâm vật rắn bằng cách
tâm của vật rắn bằng
dịch vật ra ngoài mép bàn cách đặt vật tựa trên
8
đầu nhọn
+ Nhận xét: Phương án 3 cho kết quả chính xác nhất và dễ tiến hành nhất,
nhưng không sử dụng để xác định trọng tâm của những vật mỏng, phẳng có
dạng hình vành khăn hoặc đường như phương án 1 và 2.
+ Kết quả: Trọng tâm có thể nằm trên vật hoặc ở ngoài vật.
*Thí nghiệm 2: Thí nghiệm xác định trọng tâm của vật hình khối (củ khoai tây)
+ Mục đích: Vận dụng đặc điểm của trạng thái cân bằng của vật được treo
để xác định trọng tâm của vật hình khối (củ khoai tây)
+ Các dụng cụ cần thiết và bố trí thí nghiệm như hình 7.
+ Tiến hành: Treo củ khoai lên, xuyên 1 que thẳng dọc theo phương dây treo.
Làm như vậy với các vị trí khác trên củ khoai.
Hình 8. Hệ vật cân bằng
trên điểm tựa
* Thí nghiệm 3: Thí nghiệm nghiên cứu xem cần gắn kết các vật như thế nào để
được một hệ cân bằng trên điểm tựa (ý nghĩa của việc xác định trọng tâm)
+Mục đích: Tìm hiểu ý nghĩa của việc xác định trọng tâm vật rắn.
+ Các dụng cụ cần thiết và bố trí như hình 8.
+ Tiến hành: Đặt viên đất nặn tại các vị trí khác nhau trên thước để tìm vị trí
trên mặt phẳng, cong lồi, cong lõm. Nhận xét
về các vị trí cân bằng của nó và tìm đặc điểm Hình 10. Quả bóng ở trạng thái
cân bằng không bền
của các vị trí này.
+ Nhận xét: Nguyên nhân gây ra các dạng
cân bằng của quả bóng là do độ cao tương đối của vị trí cân bằng so với các vị
trí lân cận.
*Thí nghiệm 6: Chế tạo một vật có thể thay đổi
được vị trí trọng tâm để nghiên cứu các dạng cân
bằng của vật rắn, từ đó rút ra phương pháp xác
định trọng tâm của một vật có hình dạng bất kì.
+Mục đích: Chế tạo một vật có thể thay đổi
vị trí trọng tâm
+ Vật được chế tạo như hình 11.
+ Tiến hành: Dịch chuyển hai thanh sắt đồng
thời để thay đổi vị trí trọng tâm của hệ. Quan sát
và xác định các trạng thái cân bằng của hệ.
+ Vận dụng: Muốn xác định trọng tâm của hệ
ta tìm vị trí đặt được vật ở trạng thái cân
Hình 11. Dụng cụ
bằng phiếm định. Trọng tâm của hệ ở vị trí
thí nghiệm có thể thay đổi được
điểm tựa.
vị trí trọng tâm
* Thí nghiệm 7: Chế tạo con lật đật
từ vỏ trứng
+ Mục đích: Chế tạo một con lật dật từ
vỏ trứng.
+ Các dụng cụ cần thiết: vỏ trứng; xi
lanh; cát khô; xi măng;…
+ Kết quả: Vật cân bằng khi trọng lực đi qua mặt chân đế. Vật đổ khi trọng
lực rơi ra ngoài mặt chân đế.
Hình 14. Sự cân bằng
của vật có mặt chân đế
Hình 15. Sự cân bằng của một
khung hình hộp chữ nhật
* Thí nghiệm 10: Thí nghiệm nghiên cứu sự ảnh hưởng các yếu tố: khối lượng
của vật, độ cao trọng tâm của vật, diện tích mặt chân đế đến mức vững vàng cân
bằng của vật rắn.
+ Mục đích: Nghiên cứu về mức vững vàng cân bằng của vật có mặt chân đế.
+ Dụng cụ thí nghiệm và bố trí như các hình sau:
+ Kết quả: Vật có khối lượng càng lớn, có độ cao trọng tâm càng thấp hoặc có
diện tích mặt chân đế càng lớn thì có mức vững vàng cân bằng càng cao.
12
Hình 16. Hai vật chỉ có
khối lượng khác nhau
Hình 17. Sự phụ thuộc của
mức vững vàng vào độ cao
của củ khoai
Hình 18. Sự phụ thuộc của
.
mức vững vàng vào diện tích
mặt chân đế
2.4.1 Đối với học sinh
a, Những biểu hiện của tính tích cực trong hoạt động của học sinh
- Các em đều tự nguyện tham gia vào các hoạt động ngoại khóa một cách
tích cực, thoải mái, nhiệt tình. Các thành viên của mỗi nhóm đều thực hiện nghiêm
túc và hiệu quả nhiệm vụ của nhóm mình.
- Học sinh đều tích cực hoàn thành nhiệm vụ của mình.
- Khi có vấn đề chưa hiểu hoặc khó khăn không giải quyết được thì các
em đã mạnh dạn nhờ giáo viên giúp đỡ.
- Khi giáo viên hướng dẫn, các em rất chăm chú lắng nghe và suy nghĩ rất
tích cực theo hướng giáo viên gợi mở. Sau đó, đa số các nhóm đều có thể tự tìm
ra cách giải quyết cho mình.
- Có nhiều em nghĩ ra phương án thí nghiệm để giải quyết nhiệm vụ được
giao thì các em đã mạnh dạn trình bày ý tưởng với giáo viên và các bạn cùng
nhóm.
- Có nhiều thí nghiệm khó thành công, như: chế tạo con lật đật từ vỏ
trứng, chế tạo vật có thể thay đổi vị trí trọng tâm.…nhưng các em cũng không
nản chí. Các em biểu diễn thí nghiệm nhiều lần và cố tìm hiểu nguyên nhân
cũng như tìm cách để thí nghiệm thành công hơn.
- Tất cả các nhóm đều cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngoài
ra, các em còn cố gắng để có sản phẩm đẹp, bền và có thể sử dụng trong giờ học
của các em khóa sau.
- Các em đều rất háo hức mong đợi đến buổi tổng kết để được ra mắt các
sản phẩm mà các em đã chế tạo được và giao lưu với nhóm khác.
b, Một số biểu hiện của tính sáng tạo của học sinh
- Hầu hết các nhóm đều đưa ra được cách chế tạo dụng cụ thí nghiệm. Ví
dụ như nhóm lớn 1: các em đã tìm được cách chế tạo các vật mỏng phẳng từ bìa
cứng; đưa ra được cách buộc dây treo vật; đưa ra được cách đánh dấu đường đi
qua trọng tâm cho trường hợp vật có dạng hình vành khăn hoặc dạng đường,…
- Trong khi chế tạo dụng cụ thí nghiệm các nhóm đều đề xuất được sáng
kiến để dụng cụ bền, đẹp hơn. Ví dụ: Nhóm lớn 2 đã nghĩ ra cách trang trí thêm
học rất cao, nó đã khắc phục được những điểm còn hạn chế của dạy học nội
khóa, đó là HS đã được làm thí nghiệm và vận dụng kiến thức vào thực tiễn
nhiều hơn. Nhờ đó, các em củng cố, mở rộng, đào sâu thêm các kiến thức, rèn
luyện được kĩ năng, hình thành tình cảm thái độ đúng đắn. Hình thức mới mẻ và
nội dung hấp dẫn, phù hợp của hoạt động đã thu hút HS tham gia một cách tích
cực. Học tập một cách thoải mái, không gò bó tạo điều kiện cho HS chiếm lĩnh
tri thức một cách tự nhiên, kích thích sự ham hiểu biết, tìm tòi và sáng tạo, rèn
luyện cho HS thói quen học đi đôi với hành, gắn liền kiến thức lý thuyết với
thực tiễn, đem lại hiệu quả rất rõ rệt trong việc phát huy tính tích cực và phát
triển năng lực sáng tạo của HS.
3.2 Kiến nghị
Nhà trường và giáo viên cần có sự đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu
quả các thí nghiệm vật lí đã có hơn nữa; nên bổ sung thêm các dụng cụ thí
nghiệm cần thiết, có thể bằng cách tự chế tạo.
Giáo viên cần đa dạng hóa các hình thức dạy học, đổi mới phương pháp
một cách hiệu quả, đặc biệt chú trọng vai trò trung tâm của học sinh trong qua
trình hình thành kiến thức và kĩ năng.
Nên tận dụng các giờ học tự chọn để tổ chức các hoạt động ngoại khóa
cho học sinh.
Giáo viên cần áp dụng hình thức tổ chức hoạt động tự làm thí nghiệm ở
nhà cho học sinh vào nhiều bài học và nội dung kiến thức khác nữa.
Xác nhận của BGH
Cam kết: đề tài SKKN do tôi tự viết,
không coppy của người khác, nếu sai
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
15
Ngày 16/4/2017
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Thanh
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Vật lí, tổ trưởng chuyên môn, trường
THPT Yên Định 3
TT
1.
2.
3.
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)
Để học sinh nắm vững Sở GD&ĐT
hơn về đơn vị đo của tỉnh Thanh Hóa
các đại lượng vật lí
Quyết định số:
932/QĐ-SGD
Ngày 11/9/2008
Tổ chức hoạt động Sở GD&ĐT
ngoại khóa về quang tỉnh Thanh Hóa
học nhằm phát huy tính Quyết định số:
tích cực và phát triển 539/QĐ-SGD&ĐT
năng lực sáng tạo cho Ngày 18/10/2011
20132014
C
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành năm 2007 cho đến thời điểm hiện tại.
18
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài…………............…...…….…………………
1.2 Mục đích nghiên cứu…………………...................…………
1.3 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………
1.4. Phương pháp nghiên cứu…………….….......………………
2. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận ..................................................................................
2.1.1 Chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy
học Vật lí ở trường phổ thông................................................................
2.1.1.1 Các yêu cầu đối với việc chế tạo các dụng cụ thí nghiệm
đơn giản.........................................................................................
2.1.1.2 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn
giản trong dạy học Vật lí.......................................................
2.1.1.3 Thí nghiệm Vật lí ở nhà là một loại bài tập mà giáo viên
giao cho từng học sinh hoặc nhóm học sinh thực hiện ở nhà.......
2.1.2 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập ..
2.1.2.1 Tính tích cực trong học tập của học sinh..........................
2.1.2.2. Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
2.2 Thực trạng vấn đề …………………………………..............
2.2.1 Tình hình giảng dạy của giáo viên.................................................
5
5
6
6
6
6
6
7
7
7
8
9
11
12
12
12
13
19
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận...........................................................................................
3.2 Kiến nghị.........................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14
14
14
15