SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC 3
----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
NHẰM GIẢM THIỂU SỐ LƯỢNG HỌC SINH NỮ VẮNG VÀ
BỎ HỌC TẠI LỚP 12A1 TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC 3
Người thực hiện: Trịnh Thị Vân
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm
THANH HÓA NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Trang
2
1. Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
2.4.Hiệu quả của đề tài
3. Kết luận
3.1. Kết luận:
3.2. Kiến nghị và đề suất.
Tài liệu tham khảo
11
13
16
8
18
19
19
20
20
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
3
Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục
đích, có kế hoạch, thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người
được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người. Giáo dục là
quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi nhằm hình thành
niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong
xã hội. Bản chất của quá trình giáo dục là tổ chức toàn bộ cuộc sống học tập,
trong nhà trường, đưa các phong trào nhà trường đi lên vững mạnh và xã hội có
được những người công dân tốt trong tương lai.
1.2. Mục đích nghiên cứu
4
Sáng kiến kinh nghiệm này cung cấp kinh nghiệm riêng trong việc giáo
dục nữ sinh lớp chủ nhiệm với mục đích:
- Giúp giáo viên chủ nhiệm lớp ở bậc học phổ thông nhận thấy rõ hơn vai
trò ý nghĩa của công tác chủ nhiệm lớp mà việc giáo dục, tác động đến nữ sinh
lớp chủ nhiệm là yếu tố quan trọng không thể xem thường. Đồng thời tôi muốn
qua sáng kiến kinh nghiệm này nói lên những kinh nghiệm của bản thân trong
việc giáo dục nữ sinh lớp chủ nhiệm để các thầy cô giáo đồng nghiệp cùng xem
xét, bàn bạc trao đổi những mong có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần nhỏ
bé làm tăng chất lượng giáo dục toàn diện học sinh và làm cho công tác chủ
nhiệm lớp đạt hiệu quả cao hơn.
- Học sinh được trang bị những kiến thức cần thiết về giới tính, tình bạn,
tình yêu chân chính, biết cách điều chỉnh hành vi, cách cư xử của bản thân, biết
cách vượt qua những rào cản tâm lý, những khó khăn trong cuộc sống, học tập,
xác định được mục đích, động cơ học tập rõ ràng, hăng hái học tập, lao động
sáng tạo, tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể, …trong quá trình học tập
ở trường phổ thông cũng như các môi trường học tập và làm việc sau này.
- Người viết cũng mong muốn nhận được những ý kiến phản hồi, những
đánh giá, trao đổi của quý thầy cô đồng nghiệp để cùng hoàn thiện hơn nữa đề
tài sáng kiến kinh nghiệm này.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về thực trạng của trường THPT Bá
Thước 3 trong những năm qua, đặc biệt là năm học 2015 – 2016 để áp dụng cho
cả về thể chất, tâm lý, tình cảm và khả năng hòa nhập xã hội, cộng đồng.
Những biến đổi về tâm lý tình cảm: Học sinh nữ THPT khi bước tới tuổi
dậy thì các em bước tới ngưỡng cửa của người lớn. Các em muốn được đối xử
như người lớn, muốn thoát khỏi những ràng buộc của cha mẹ và gia đình, các
em muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn thử sức mình, khám
phá những cái mới để khẳng định mình là người lớn. Các em thích giao tiếp với
bạn bè cùng lứa hay những người ở lứa tuổi lớn hơn và dễ dàng bộc lộ tâm sự
với bạn bè. Cũng trong chính giai đoạn này các em bắt đầu quan tâm đến bạn
khác giới và xuất hiện những cảm xúc mới lạ. Điều này khiến các em rất có ý
thức về cơ thể và giới của mình và có những rung cảm khi nghĩ về một người
bạn khác giới. Có lúc những rung cảm này trở nên quá mãnh liệt, khi lý trí chưa
đủ để giúp các em làm chủ được mình, khiến các em có những hành vi chưa
đúng mực, có hại cho sức khỏe trong quan hệ với bạn khác giới. Chưa kể ngày
nay sự bùng nổ công nghệ thông tin có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến học
sinh THPT, nên suy nghĩ, hành động của các em bị ảnh hưởng rất lớn từ nguồn
tiếp thu thông tin đa dạng, đa chiều, đa sắc màu, vô cùng phong phú từ internet,
phim ảnh, báo chí,...tạo cho giới trẻ chủ nghĩa anh hùng cá nhân thích thể hiện
mình cộng với tâm lý đang thay đổi dẫn đến dễ có những quyết định bồng bột.
Mặc dù giai đoạn dạy thì có tầm quan trọng nhưng rất ít người có hiểu biết về
kiến thức, thái độ và các hành vi liên quan cùng với nhu cầu hỗ trợ xã hội của
lứa tuổi này.
Con người sinh ra và lớn lên ai cũng trải qua tuổi vị thành niên, nhất là
các em nữ sinh THPT thì giai đoạn này rất quan trọng trải qua với nhiều biến đổi
về cơ thể, tâm lý, tình cảm nhưng thường được xem là chuyện riêng tư kín đáo,
không dễ chia sẻ, bày tỏ dẫn đến tâm lý ngại ngùng, xấu hổ và im lặng. Vì vậy
các em cần được cung cấp, hướng dẫn để hiểu quá trình biến đổi của bản thân
mình. Đồng thời các em cần được người lớn thông cảm, khuyến khích, tạo điều
kiện để các em nói lên những băn khoăn thắc mắc của mình. Các em cần được
người lớn giúp đỡ, hỗ trợ, giải đáp thắc mắc, chia sẻ những cảm xúc để các em
vượt qua được giai đoạn chuyển tiếp này và vững bước tới tương lai.
tập nên các em ngại học, lười học dẫn đến vắng học, bỏ học.
Phần lớn học sinh của lớp là con của các gia đình thuần nông, hoàn cảnh
kinh tế còn nhiều khó khăn, ít có điều kiện để chăm lo cho việc học tập của con
em mình. Đặc biệt một số gia đình cả bố và mẹ đều đi làm ăn xa, nên việc phối
hợp giữa gia đình và nhà trường còn nhiều hạn chế (như hs: Hà Thị Phúc, Lục
Thị Châm, Ngân Thị Lệ cả bố, mẹ đều đi làm ăn trong Miền Nam...). Số học
sinh thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo năm 2015-2016 của lớp là 21/33 (chiếm
tỉ lệ 63,6%); Học sinh mồ côi là 1em, học sinh người dân tộc thiểu số là 32/33
(chiếm tỉ lệ 97%) nên ảnh hưởng phần nào đến chất lượng giáo dục của lớp.
Học sinh trong lớp chủ yếu thuộc các xã Lũng Cao, Cỗ Lũng, nhiều em
phải đi học qua suối, qua đồi núi, đường xá đi lại khó khăn dẫn đến học sinh đi
chậm, nghỉ học nhiều nhất là những ngày mưa lũ. Một số học sinh thuộc xã
Thành Lâm, Thành Sơn ở xa trường (hơn 10km) các em phải trọ lại thiếu sự
quan tâm, quản lý của gia đình, điều kiện hoàn cảnh ở các nhà trọ, thiếu thốn
điều kiện sinh hoạt, dẫn đến các em bi quan, chán nản, xao nhãng việc học hành,
cũng là nguyên nhân dẫn tới chán học, vắng học và bỏ học.
7
Do nhận thức và hiểu biết của một bộ phận học sinh và phụ huynh còn
hạn chế, các em thiếu kiến thức và hiểu biết về sức khỏe sinh sản vị thành niên,
quan hệ tình bạn và tình yêu nam nữ, cộng với một số tập tục lạc hậu còn tồn tại
(như bắt dâu, ở rễ, tảo hôn,...) nên một bộ phận học sinh nữ, bỏ học lập gia đình.
Năm học 2013-2014 lớp tôi chủ nhiệm ban đầu có 40 học sinh trong đó có
35 học sinh nữ, sau học kỳ 1 có 3 em bỏ học lập gia đình, hết năm 10, có 4 em
nghỉ học lập gia đình. Năm học 2014-2015, hết lớp 11 có 2 em nghỉ học, 1 em
có thai ngoài ý muốn nên phải nghỉ học lập gia đình, 1 em do điều kiện gia đình
nên nghỉ học sớm.
Tất cả học sinh bỏ học của lớp đều là học sinh nữ. Mặc dù đã có sự phối
quyết vấn đề như thế nào cho hợp lý. Trong những trường hợp như thế, học sinh
rất cần đến sự chia sẻ, sự thông hiểu từ người thân: gia đình, bạn bè,… Thế
8
nhưng trong cuộc sống, người lớn chúng ta thường đòi hỏi các em phải có ý thức
trách nhiệm, có thái độ hợp lý, có tính độc lập, nhưng mặt khác lại cũng đòi hỏi
các em phải chịu sự sắp đặt của người lớn. Vì vậy, thay vì cho con những lời
khuyên, các bậc cha mẹ lại thường nói với con cái những câu đại loại như: Con
phải …, Con người ta … còn con thì …, Hồi đó ba (mẹ) …, … Không muốn bị
áp đặt, không muốn bị so sánh, và không muốn nghe bố mẹ kể "chuyện đời
xưa", con cái thường che giấu bố mẹ những điều mà các em đang trăn trở,
những vướng mắc của bản thân, … Lâu dần, vì lý do này hay lý do khác, các em
đâm ra đề phòng bố mẹ, thầy cô, thủ thế với bạn bè. Trong khi đó, trên báo chí,
trên các trang mạng xã hội, lại đầy những thông tin bất lợi đối với các em –
những "người lớn - trẻ con" chưa đủ sức sàng lọc để lựa chọn, giữ lại những
điều tốt và loại bỏ cái xấu. Vì vậy các em có thể bị mất thăng bằng bởi chính
những điều tưởng như vặt vãnh ấy nếu không được những người xung quanh
quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ kịp thời".
Có thể nói, lứa tuổi 15-18 là một trong những giai đoạn khủng hoảng và
khó khăn trong cuộc đời của mỗi người. Sự trợ giúp kịp thời và đúng đắn từ phía
người lớn là một nhu cầu bức thiết đối với các em, đặc biệt là khi các em đã rơi
vào sự khủng hoảng tâm lý. Học sinh cần được giãi bày, cần được tâm sự, cần
được những lời khuyên đúng đắn từ người lớn, mà gần gũi với các em nhất
chính là cha mẹ, thầy cô. Và khi không thể có được điều đó từ gia đình, nhiều
em đã xem thầy cô như một chỗ dựa tinh thần. Cho các em những lời khuyên,
định hướng đúng đắn cho các em con đường phải đi, giúp các em tìm lại niềm
tin, niềm vui trong cuộc sống,…
2.3.2. Giáo dục cung cấp cho các em những kiến thức về sức khỏe sinh sản
phát triển sinh lý cơ thể như: chiều cao, cân nặng, cấu trúc và chức năng của cơ
quan sinh dục, cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, đời sống tình dục, kinh nguyệt,
sinh nở, cho con bú, những kiến thức về sức khỏe, sinh đẻ có kế hoạch, các bệnh
thông thường, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, vệ sinh cơ quan sinh dục,
sự thụ thai, hậu quả của việc có thai sớm.
+ Đặc điểm giới tính về đạo đức xã hội, thẩm mỹ như quan hệ cư xử với
mọi người, với bạn khác giới, tác phong tư thế, phẩm chất đạo đức theo giới
tính, quan niệm về cái đẹp, sự rèn luyện để tạo nên cái đẹp chân tình và bền
vững, pháp luật liên quan đến cuộc sống gia đình như luật hôn nhân và gia đình,
trách nhiệm của con người trong gia đình và xã hội, phương hướng rèn luyện
con người về mặt giới tính, những đặc điểm về đời sống tâm lý con người, tâm
lý giới tính theo lứa tuổi,...
+ Những vấn đề về quan hệ bạn khác giới và tình yêu nam nữ, xây dựng
tình bạn, tình yêu chân chính.
Qua các tiết sinh hoạt lớp tôi cho các em hoạt động ngoại khóa dưới hình
thức những trò chơi kiến thức, trang bị cho các em những kiến thức cần thiết,
các em rất hồ hỡi phấn khởi đón nhận với tinh thần tự nguyện, tự giác, trong các
tiết học đó tôi dành thời lượng nhất định để giải đáp những băn khoăn, vướng
mắc mà các em còn gặp phải, giúp các em có những kiến thức, hiểu biết về giới
nhất định, tránh những sai lầm để lại những tổn thương, những hậu quả nặng nề
mà các em có thể gặp phải.
2.3.3 .Luôn gần gũi, quan tâm tới học sinh lớp chủ nhiệm.
Học sinh THPT đang ở trong lứa tuổi muốn được tự khẳng định mình,
giàu ước mơ, hoài bão, bước đầu có kinh nghiệm sống, có khả năng tự quản tốt,
có ý thức tổ chức hoạt động tập thể,…Tuy nhiên đây vẫn là lứa tuổi mong muốn
lớn hơn khả năng, muốn khẳng định mình nhưng chưa đủ kinh nghiệm, tri thức,
…Đặc biệt là những học sinh vùng sâu, vùng xa như học sinh trường chúng tôi,
các em còn thiếu mạnh dạn, dễ bị dao động, dễ tự ti phân biệt dân tộc, có thể
làm được nhưng không dám nói. Xuất phát từ đặc điểm đó về tâm lí lứa tuổi,
việc định hướng giáo dục đối với học sinh là rất cần thiết, giúp các em vượt qua
học, nhắc nhở học sinh, góp ý hoặc có thể giúp đỡ học sinh giải quyết các vấn đề
còn thắc mắc về học tập hoặc những khó khăn các em gặp phải trong cuộc sống.
Để hạn chế các em học sinh đi chậm, vắng học, giáo viên chủ nhiệm phải nắm
bắt thường xuyên sĩ số lớp, tìm hiểu lí do vắng học, bỏ học để có các biện pháp
xử lí phù hợp. Ví dụ, có em vắng học vì ham chơi thì phải dùng hình thức nhắc
nhở, hay có thể phạt, nhưng có em nghỉ học vì gia đình có việc bận thì giáo viên
nên động viên để lần sau các em sắp xếp công việc hợp lí để đến trường đầy đủ;
có em phải bỏ học vì lí do hoàn cảnh gia đình khó khăn thì ngoài việc động viên
các em đến lớp trở lại thì còn cần phải có cả sự hỗ trợ về mặt vật chất từ các bạn
trong lớp, từ sự tạo điều kiện của nhà trường mà cầu nối là giáo viên chủ nhiệm,
những em nữ nghỉ học, vắng học vì lý do tình cảm, tình yêu, giáo viên chủ
nhiệm cần quan tâm, phát hiện sớm, gặp gỡ riêng các em và gia đình các em,
phân tích cho các em và bố mẹ các em hiểu những tác hại ảnh hưởng không tốt
đến bản thân các em, các em mất đi cơ hội học tập, hòa nhập cộng đồng, ngoài
ra tảo hôn còn là vi phạm pháp luật, đồng thời bản thân giáo viên chủ nhiệm
phản ánh lên ban giám hiệu để cùng kết hợp với địa phương nơi các em sinh
sống để can thiệp, ngăn chặn những cuộc tảo hôn mà do thiếu hiểu biết em và
gia đình các em đang tạo ra.
11
Bên cạnh vai trò giám sát hoạt động của học sinh lớp mình, giáo viên chủ
nhiệm còn là người cố vấn cho các em trong các hoạt động. Giáo viên chủ
nhiệm bằng nghệ thuật sư phạm kích thích tư duy sáng tạo của học sinh, phát
triển tiềm năng trí tuệ vốn có của từng em trong học tập, đề xuất các nội dung,
giải pháp, cách thức tổ chức hoạt động thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà
trường. Ví dụ, ở trường THPT Bá Thước 3 các buổi sinh hoạt 15 phút thường
xen kẽ giữa sinh hoạt văn hóa, văn nghệ với sinh hoạt học tập. Để tránh nhàm
chán vì sự lặp đi lặp lại, tôi đã gợi ý để học sinh thêm vào các nội dung như đọc
các thành viên một khi đã được liên kết lại một cách có mục đích, có tổ chức thì
sẽ tạo ra sức mạnh chung của tập thể mạnh gấp nhiều lần tổng số sức mạnh của
các thành viên riêng lẻ, đồng thời có tác dụng làm tăng lên sức mạnh của từng
thành viên”. Tập thể học sinh còn được xem là một phương tiện đặc biệt quan
12
trọng và hiệu quả trong việc giáo dục học sinh. Vì vậy trong công tác chủ nhiệm
để giáo dục từng cá nhân học sinh, giúp các em có đủ điều kiện phát triển và bộc
lộ về mọi mặt thì bản thân tôi luôn quan tâm và xây dựng tập thể lớp đoàn kết
vững mạnh có kỹ luật, dư luận tập thể tốt, có truyền thống yêu thương, tương trợ
lẫn nhau như:
+ Đề ra những yêu cầu vừa sức, hợp lý cho học sinh: Đầu năm học, tôi
xây dựng và điều chỉnh nội quy lớp phù hợp với điều kiện lớp và yêu cầu của
trường, Đoàn Thanh Niên, triển khai đến tập thể lớp. Yêu cầu các em phải thực
hiện đầy đủ các nội quy, quy định của lớp, của trường. Định hướng cho học sinh
xây dựng các chỉ tiêu lớn của tập thể lớp về học lực, hạnh kiểm, tỷ lệ tốt nghiệp,
đại học, học sinh giỏi cấp tỉnh,…để các thành viên trong lớp phấn đấu thực hiện
được các mục tiêu đề ra. Việc đề ra các yêu cầu đối học sinh sẽ tác mạnh mẽ đến
từng học sinh, buộc các em phải nổ lực, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình
trong các nhóm, trong các tổ tạo sự gắn kết mạnh mẽ giữa các thành viên, tạo
điều kiện để các cá nhân bộc lộ ưu, nhược điểm khi tham gia thực hiện các yêu
cầu.
+ Xây dựng đội ngủ cán bộ lớp và bồi dưỡng các phần tử tích cực: Do
tác động của những yêu cầu, trong tập thể học sinh diễn ra sự phân hóa về khả
năng đáp ứng yêu cầu của học sinh, từ đó xuất hiện những phần tử tích cực. Đó
là những học sinh tự giác, quyết tâm thực hiện tốt những yêu cầu do giáo viên
chủ nhiệm đặt ra. Giáo viên chủ nhiệm cần kịp thời phát hiện, lựa chọn một cách
chính xác những phần tử tích cực và bồi dưỡng thành lực lượng nòng cốt, cử các
qua việc chấp hành những qui định chung, là thói quen quan tâm và tôn trọng
của các thành viên đối với các vấn đề tập thể. Kỷ luật không phải là sự cưỡng
bức mà chính là kết quả của quá trình giáo dục ý thức ở học sinh, là kết quả của
những cố gắng của tập thể. Tập thể có kỷ luật là môi trường rèn luyện, phát
triển tốt cho các cá nhân. Giáo viên chủ nhiệm cần phải ý thức sâu sắc giá trị của
kỷ luật và phải xem đó là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng tập
thể và giáo dục học sinh nói chung: Xây dựng nội quy lớp rõ ràng các hình thức
xử phạt học sinh vi phạm như: Đi chậm, vắng học, nghỉ học vô lý do, bỏ giờ, bỏ
tiết, không học bài cũ, tác phong mang mặc, ….
+ Xây dựng dư luận lành mạnh, tiến bộ trong tập thể: Dư luận tập thể
phản ánh những quan niệm, nhận định, đánh giá của tập thể về các vấn đề có
liên quan đến sự phát triển của tập thể và cá nhân học sinh. Nó thể hiện ý thức
tập thể, phong cách đạo đức và không khí tinh thần của tập thể. Vì vậy, việc hình
thành dư luận tập thể lành mạnh, tiến bộ là điều kiện quan trọng để củng cố và
phát triển tập thể, làm cho tập thể thật sự trở thành phương tiện giáo dục có hiệu
quả.
Trong quá trình xây dựng tập thể, giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm hình
thành dư luận tập thể về các vấn đề như: Tinh thần, thái độ học tập tích cực, tự
giác; Ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng của học sinh; Đấu tranh với các hành vi sai
trái: bỏ học, quay cóp, thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm, chia rẻ, mất đoàn kết,
bao che khuyết điểm,…Sẵn sàng ủng hộ, bảo vệ cái đúng. Bên cạnh đó, giáo
viên chủ nhiệm cần kịp thời phát hiện và ngăn chặn dư luận không lành mạnh,
nhất là các dư luận liên quan đến tâm lý, tình cảm, hành vi, cách ứng xử của các
em nữ có biểu hiện không lành mạnh, bất thường, …tạo cho các em chỗ dựa
vững chắc, ổn định tâm lý, tin tưởng vào tập thể và giáo viên chủ nhiệm để yên
tâm đến lớp, đến trường.
2.3.5 Tư vấn tâm lý cho học sinh nữ lớp chủ nhiệm
Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế-xã hội ngày càng sâu sắc, đa
dạng và phức tạp, đời sống tâm lý học sinh nữ cấp trung học phổ thông đang có
những biến động to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo ngại. Các em thường gặp
học không xin phép, bỏ tiết. Và nghiêm trọng hơn, như vi phạm kiểm tra, vô lễ
với giáo viên,… Với những học sinh cá biệt, việc nghỉ học, bỏ tiết là chuyện
thường ngày, nhưng với những học sinh vốn ngoan ngoãn, chăm chỉ thì một biểu
hiện nhỏ nhất cũng là điều cần lưu ý. Ví dụ Em Chuyền là học sinh giỏi của lớp,
em chưa một lần đi chậm hay nghỉ học, một hôm em đi học chậm khi được hỏi
trước lớp về lý do đi chậm, em đã khóc và im lặng. Tôi gặp riêng em hỏi han,
em tâm sự: Thời gian gần đây bố mẹ em hay cãi nhau. Bố em thường xuyên
uống rượu say chửi bới mẹ con em, mẹ em vì buồn phiền nên đã có người đàn
ông khác, sáng nay bố khóa xe đạp lại, em phải đi bộ đến trường, nên bị chậm
cô ạ. Em phải làm sao đây cô? Chắc em không thể đi học được nữa cô ạ. Tôi đã
an ủi, phân tích cho em hiểu, động viên em cố gắng vượt qua hoàn cảnh khó
khăn, đến lớp học tập vì một ngày mai tươi sáng hơn.
Tuy nhiên, không phải lúc nào GVCN cũng có thể ngăn chặn được những
trở ngại về tâm lý của học sinh. Việc trực tiếp tư vấn tâm lý cho các em là một
trong những hoạt động mà có lẽ tất cả GVCN đều trải qua. Tùy vào từng đối
tượng học sinh, tùy vào mức độ của vấn đề, tùy vào nội dung vấn đề mà có cách
giải quyết khác nhau, nhưng nhìn chung, GVCN thường tiếp xúc với 2 đối
tượng: học sinh cần tư vấn và các đối tượng có liên quan.
Với học sinh cần tư vấn, GVCN cần thật nhẹ nhàng, kiên nhẫn, biết lắng
nghe và biết thấu hiểu. Khi thầy cô lắng nghe và thể hiện sự thấu hiểu, các em sẽ
dễ dàng bày tỏ những điều đang chất chứa trong lòng. Tuy nhiên, việc cần làm
15
của GVCN trong công tác tư vấn không phải là chỉ ra cho các em vấn đề nằm ở
đâu và giải quyết vấn đề thay cho các em, mà là tạo điều kiện để học sinh tự nói
ra vấn đề, tự nhìn nhận, đánh giá vấn đề, tự giải quyết vấn đề, nếu như vấn đề
nằm trong khả năng của các em. Với việc lựa chọn nghề nghiệp của các em
trong tương lai, GVCN không nên cho học sinh biết là em thích hợp với nghề gì,
hiểu để nắm bắt được năng lực, sở trường của học sinh. Việc làm này tưởng như
không liên quan đến hoạt động tư vấn tâm lý, nhưng thật ra lại hỗ trợ đắc lực
cho việc củng cố, kích thích ở học sinh lòng tự tin, giúp các em đủ niềm tin để
đưa ra những quyết định đúng đắn. Nếu thấy các em cần giúp đỡ, hãy giúp đỡ
thật khéo léo, tế nhị; hãy chủ động gần gũi trò chuyện với các học sinh có vấn đề
nếu xét thấy các em chưa đủ mạnh dạn tìm đến với mình. Khi học sinh thật sự
cần được tư vấn, có một nguyên tắc vàng mà GVCN phải thuộc lòng: "Luôn
16
luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu". Ngoài ra, muốn cho hoạt động tư vấn tâm
lý đạt hiệu quả cao, người GVCN cần biết phối hợp các lực lượng giáo dục,
tranh thủ sự giúp sức từ nhiều phía để tạo nên nguồn lực hỗ trợ cho học sinh mọi
nơi, mọi lúc. GVCN có thể tham khảo ý kiến với những người có kinh nghiệm
về vấn đề mà học sinh gặp phải, nhưng tuyệt đối không được biến học sinh của
mình thành trò cười hoặc tâm điểm chú ý của mọi người. Điều đó có nghĩa là,
phải tuân thủ nguyên tắc bảo mật thông tin cho học sinh. Vi phạm nguyên tắc
này, về lâu dài, GVCN sẽ tự đánh mất lòng tin mà học sinh dành cho mình.
Nhìn chung thanh niên mới lớn là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc
đời con người. Đây là thời kì lứa tuổi phát triển một cách hài hòa, cân đối, là
thời kì có sự biến đổi lớn trong toàn bộ nhân cách để các em sẵn sàng bước vào
cuộc sống tự lập. Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan
của cuộc sống sẽ làm nảy sinh ở lứa tuổi học sinh THPT những khó khăn về tâm
lý, tình cảm của lứa tuổi, vướng mắc trong học tập, hướng nghiệp,… cần được
người lớn quan tâm, chia sẻ. Thực hiện tốt công tác tư vấn tâm lý cho học sinh,
GVCN đã đóng góp một phần công sức không nhỏ vào sự nghiệp trồng người.
2.3.6. Phối hợp với gia đình, giáo viên bộ môn, các tổ chức đoàn thể trong
và ngoài nhà trường để giáo duc, giúp đỡ học sinh nữ.
2.3.5.1 Phối hợp với phụ huynh học sinh.
Trong quá trình chủ nhiệm lớp, tôi thường lên kế hoạch kết hợp với ban
đại diện cha mẹ học sinh, đến thăm gia đình học sinh, để hiểu rõ hơn hoàn cảnh,
điều kiện gia đình học sinh, tạo mối quan hệ thân tình, gần gủi để tìm biện pháp
kết hợp cùng giáo dục.
2.3.5.2.Phối hợp với giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu và các tổ chức đoàn thể
trong nhà trường và ngoài xã hội.
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa các tổ chức đoàn thể nhà trường,
giữa giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiêm. Với tư cách sư phạm,
giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh lớp chủ nhiệm tất cả
các yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường không phải bằng mệnh lệnh mà
bằng sự thuyết phục, cảm hoá, bằng sự gương mẫu của người giáo viên chủ
nhiệm để mục tiêu giáo dục được học sinh chấp nhận một cách tự nguyện, tự
giác. Với kinh nghiệm và uy tín của mình, giáo viên chủ nhiệm có khả năng biến
những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành
động của tập thể và cá nhân mỗi học sinh trong lớp. Mặt khác, giáo viên chủ
nhiệm là người tập hợp ý kiến của học sinh lớp chủ nhiệm phản ánh với ban
giám hiệu, với các tổ chức trong nhà trường và các giáo viên bộ môn làm cho
các thông tin truyền tải mang tính khách quan trung thực, giải toả được những
băn khoăn, vướng mắc của các em, tạo được hứng thú trong học tập cho các em.
Giáo viên chủ nhiệm kết hợp giáo viên bộ môn để nắm được hành vi, thái
độ, kết quả học tập của các em để từ đó có biện pháp tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ,
giáo dục kịp thời.
Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với tổ chức Đoàn Thanh Niên, (đặc biệt là
ban nữ sinh) tổ chức các sân chơi, các câu lạc bộ, các buổi hoạt động ngoại
khóa, tuyên truyền về sức khỏe sinh sản, tình bạn tình yêu chân chính, luật hôn
nhân gia đình, tư vấn hướng nghiệp, thành lập tổ tư vấn tâm lý,...tạo cho các em
được học tập, vui chơi, trang bị thêm những kiến thức, được giáo dục kỹ năng
sống, được tư vấn giải đáp thắc mắc khi các em gặp khó khăn trong học tập,
cuộc sống, rào cản về giới, giúp các em có định hướng, động cơ học tập đúng
đắn để từ đó các em hiểu giá trị bản thân, tích cực đến lớp, đến trường.
28
2
0
Học kì II
3
30
0
0
Cả năm
3
30
0
0
HẠNH KIỂM (học sinh)
TỐT
KHÁ
TB
YẾU
33
0
0
0
33
0
0
0
33
0
0
xuyên cập nhật để cả gia đình và nhà trường cùng quản lí, giáo dục các em được
tốt hơn. Hội phụ huynh lớp cũng thường xuyên thăm hỏi, động viên các em
nhiều hơn, hầu hết các em nữ trong lớp đã ổn định tâm lý, biết cách giải bầy chia
sẻ với bạn bè, giáo viên để tìm biện pháp khắc phục khi gặp khó khăn, đặc biệt
các em đã thay đổi nhận thức, tìm được mục tiêu của việc học tập. Trước đây
các em chưa biết học xong cấp 3 để làm gì, nhiều em không đủ tự tin để đăng kí
đi học một ngành hoặc một nghề nào thì giờ đây hầu hết các em học sinh trong
lớp đã có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, nhiều em làm hồ sơ đăng kí dự thi
THPT Quốc gia để xét và vào các trường đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề,…
3. KẾT LUẬN.
3.1. Kết luận
Công tác chủ nhiệm rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi người giáo viên chủ
nhiệm phải bỏ nhiều công sức và thời gian. Để làm tốt vai trò của mình, giáo
viên chủ nhiệm cần biết đặt tình thương, trách nhiệm để giải quyết các tình
huống của lớp chủ nhiệm trên cơ sở nề nếp, kỷ cương của nhà trường, biết phối
hợp chặt chẽ giữa ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, trong
việc tổ chức giáo dục học sinh, hoạt động giáo viên chủ nhiệm rất đặc thù và đầy
sáng tạo, phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Độ tuổi, mức độ trưởng thành của học sinh.
- Hoạt động của ban cán sự lớp.
-Phong cách làm việc của các giáo viên bộ môn.
- Điều kiện cụ thể của trường, lớp, gia đình học sinh, và các tổ chức xã
hội có liên quan.
Do vậy, không thể có một khuôn mẫu nhất định cho hoạt động của giáo
viên chủ nhiệm. Công tác chủ nhiệm là một bộ phận quan trọng trong nhà
trường, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải hết sức sáng tạo, có tinh thần trách
nhiệm cao, mới gánh vác được nhiệm vụ này có hiệu quả.
Trên đây là một số biện pháp giáo dục, tác động đến nữ sinh lớp chủ
nhiệm mà tôi đã vận dụng có hiệu quả trong công tác chủ nhiệm trong năm qua
ở lớp 12A1. Tôi mạnh dạn viết lên một số kinh nghiệm của mình và đưa ra đây
dân tộc thiểu số trong trường THPT -Nguyễn Thị Hương.
2. Kỹ năng công tác giáo viên chủ nhiệm- NXB Lao Động.
3. Giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông trung học- Vương Gia Lâm
(biên dịch Đặng Văn Hảo)- NXB Văn hóa thông tin.
4. Sức khỏe giới tính tuổi mới trưởng thành - Thanh Giang - NXB Quân
Đội Nhân Dân.
5. Tư vấn tâm lý học đường - Nguyễn Thị Oanh - NXB trẻ.
21