Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
LỜI MỞ ĐẦU:
Bước sang thiên nhiên kỷ mới, nền kinh tế nước ta có những chuyển biến vững
chắc trên con đường hội nhập nền kinh tế thế giới. Mà việc chúng ta là thành viên của tổ
chức thương mại thế giới( WTO) thể hiện sự đánh giá cao và những tình cảm nồng hậu
mà bạn bè quốc tế dành cho nước Việt nam ta. Đặc biệt, Đây là sự ghi nhận về những
thành quả to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công cuộc đổi mới toàn diện về kinh tế -
xã hội và tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” cũng như những đóng góp của chúng ta trong xu thế hợp
tác và phát triển trên thế giới.
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Trong giai đoạn hội nhập hiện nay khi những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu
to lớn của khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguồn lực
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được vài trò chiến lược của KHCN,
Đảng ta ngay từ đại hội đảng IX đã khẳng định: “Cùng với giáo dục và đào tạo, đầu tư
cho phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế
xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội.”. Cũng từ nhận thức đó, trong những năm qua, chi ngân sách nhà nước cho
KH - CN không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, Chi Ngân sách
cho đầu tư phát triển KH – CN vẫn gặp một số những khó khăn nhất định trong quá trình
trển khai như các thủ tục hành chính, việc thẩm định chi tiêu nhiều khi còn chưa thực sự
hợp lý; chưa có được những tiêu chí cụ thể đánh giá về tính hợp lý hiệu quả… Vì vậy
việc chọn đề tài: Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa
học công nghệ của Việt Nam” là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu và làm rõ quan điểm, vai trò của
chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ đối với sự phát triển
kinh tế xã hội đất nước. Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để xem xét, đánh giá qui trình
1
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
quản lý, sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công
nghệ của nước ta hiện nay từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi ngân
Hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Khoa học: khoa học theo cách hiểu
thông thường là một hình thái ý thức xã hội, tư duy và nó sẽ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp khi được đem vào áp dụng trong sản xuất và cuộc sống của con người. còn theo
định nghĩa của luật Khoa học và Công nghệ được quốc hội thông qua vào ngày 9-6-2000
thì Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự
nhiên xã hội và tư duy. khoa học ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của con người với
tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống và được thể hiện trước hết trong sản suất. Như vậy về
bản chất Khoa học là sự khám phá các hiện tượng, các thuộc tính vốn tồn tại một cách
khách quan. Sự khám phá này sẽ làm thay đổi nhận thức của con người, tạo điều kiện
nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn. như vậy khoa học đứng mình nó chỉ là những tri
thức không thể trực tiếp áp dụng vào thực tiễn mà chỉ có thể phổ biến rộng rãi,nâng cao
nhận thưc của con người.
Phân loại khoa học cũng có nhiều cách khác nhau, ở đây trong nội dung đề tài
đưa ra 2 cách phân loại sau:
- Phân loại theo đối tượng nghiên cứu thì Khoa học gồm có Khoa học tự nhiên và
Khoa học xã hội. Trong đó, Khoa học tự nhiên: nghiên cứu các sự vật hiện tượng quá
trình trong tự nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục tự
nhiên và cải tạo nó. Còn Khoa học Xã hội nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy
3
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
luật vận động, phát triển của xã hội để làm cơ sở để thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển
nhân tố con người.
- Phân loại theo phương thức tổ chức và mục tiêu nghiên cứu Khoa học thì khoa
học bao gồm khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Trong đó Khoa học cơ bản: xác
định quy luật, phương thức và phương pháp để triển khai khoa học ứng dụng. Còn Khoa
học ứng dụng: đưa ra phương pháp để ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến
các đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
b- Khái niệm chung về Công nghệ.
Cũng như khoa học, Công nghệ cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau: theo D.L.
Spencer cho rằng công nghệ là sách giáo khoa trình bày cách thức kết hợp các yếu tố đầu
Thành phần trang thiết bị máy móc được coi là xương sống, cốt lõi của quá trình hoạt
động, nhưng nó lại do con người lắp đặt và vận hành. Thành phần con người được coi là
yếu tố chìa khoá của hoạt động, nhưng con người lại thực hiện theo các hướng dẫn do
phần thông tin cung cấp. Thành phần thông tin là cơ sở hướng dẫn người lao động vận
hành các máy móc, thiết bị và đưa ra các quyết định. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ
liên kết các thành phần trên, động viên người lao động năng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất.
c-
M
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Khoa học được nói đến là việc tìm kiếm các quy luật điều chỉnh hiện tượng tự
nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào đến khả năng áp dụng trên giác độ
kinh tế. Về bản chất khoa học chính là sự tìm kiếm chân lý. Trong khi đó, công nghệ lại
5
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
có mục đích áp dụng trực tiếp các nguyên tắc và quy luật khoa học vào cuộc sống của
con người hay vào một quá trình sản xuất. Vì vậy Chúng ta có thể hiểu đơn giản là Khoa
học tập trung vào việc giải thích tại sao có hiện tượng, còn công nghệ cho ta biết cách áp
dụng các điều chúng ta biết tại sao dể áp dụng vào thực tế như thế nào.khoa học cho ta
kiến thức còn công nghệ giúp tạo ra của cải vật chất. phát triển khoa học tạo ra những
thông tin mang tính tiềm năng được sử dụng để sáng tạo công nghệ. giữa chúng có mối
liên hệ mật thiết. “khoa học của hôm nay là công nghệ của ngày mai”. Rõ ràng, tri thức
dựa trên cơ sở khoa học đang thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ và chất xám chính là nguồn
tạo ra công nghệ.
d- Hoạt động Khoa học - Công nghệ.
Sau khi nghiên cứu hiểu rõ mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ, Câu hỏi đạt
ra cho chúng ta là hoạt động Khoa học Công nghệ là gì? Ta có thế định nghĩa hoạt động
Khoa học Công nghệ bao gồm: nghiên cứu Khoa học, nghiên cứu và phát triển Công
nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật. Hợp lý hoá sản xuất và các hoạt
động khác nhằm phát triển Khoa học Công nghệ.
không biết trước có phát hiện được những ứng dụng hiệu quả hay không. Hơn nữa, sản
phẩm Khoa học Công nghệ có tính chất hàng hoá công cộng không thuần thuý và việc
phổ biến sản phẩm đó đem lại lợi ích cho xã hội nhưng người sáng tạo ra nó lại khó thu
lại được chi phí bỏ ra hay nói cách khác lợi nhuận thu được từ việc tạo ra sản phẩm
KHCN rất thấp so với lợi ích xã hội thu được.
7
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
Như vậy, để hoạt động Khoa học Công nghệ được phát triển và tạo ra những sản
phẩm KHCN có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhà nước cần phải có sự hướng dẫn, điều
chỉnh để đưa ra những chính sách hợp lý.
1.1.3. Vai trò của Khoa học Công nghệ với sự phát triển Kinh tế Xã hội.
Một trong những đặc điểm quan trọng của thời đại ngày nay là sự phát triển năng
động của khoa học công nghệ hiện đại và ảnh hưởng to của nó tới các mặt đời sống kinh
tế xã hội loài người đặc biệt là đối với lĩnh vực kinh tế. Càng ngày vai trò của công nghệ
đối với sự phát triển kinh tế xã hội càng quan trọng và được cộng đồng thế giới công
nhận, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như đất nước ta. Kinh tế học đã chính
thức xem công nghệ như là một nhân tố sản xuất như vốn, lao động trong mô hình hàm
sản xuất tổng quát Cobb – douglas:
Y = F (Xi)
Trong đó Y là giá trị đầu ra của nền kinh tế và Xi
là giá trị những biến số đầu vào.
có liên quan đến tổng cung. Thông thường và cũng với ý nghĩa cổ điển, nói đến giá trị
các biến số đầu vào tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ
yếu là: vốn (K), lao động (L), tài nguyên,đất đai (R) và công nghệ kỹ thuật (K). Hàn sản
xuất tổng quát được mô tả như dưới đây:
Y = F(K,L,R,T)
(1) Vốn (K): là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế. Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên quan trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá
nguyên được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào khác trong quá
trình sử dụng. Nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyên trong sử
dụng cũng có một ý nghĩa tương đương như việc tạo ra một giá trị gia tăng so với chi phí
9
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
đầu vào khác để tạo ra nó. Trong nền kinh tế hiện đại người ta đã tìm cách thay thế để
khắc phục mức độ khan hiếm của tài nguyên và đất đai trong quá trình tăng trưởng kinh
tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân và mức tăng của nó không phụ thuộc nhiều vào dung
lượng tài nguyên thiên nhiên và đất đai. Tuy vậy tài nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn là
nhân tố không thể thiếu được của nhiều quá trình sản xuất, nhất là các nước đang phát
triển.
(4) Công nghệ kỹ thuật (T) được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh
đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại. Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy
đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức tức là nắm bắt kiến thức
khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy
trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên
cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. yếu
tố công nghệ hiểu theo nghĩa toàn diện như thế đã được K. Marx xem như là " chiếc đũa
thần tăng thêm sự giầu có của cải xã hội". còn Solow thì cho rằng " tất cả các tăng
trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật", Kuznets
hay Samuelson đều khẳng định: công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình
tăng trưởng kinh tế bền vững.
Đứng trên góc độ quan điểm hàm sản xuất, các mô hình tăng trưởng hiện đại
thường không nói đến nhân tố tài nguyên đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng
trưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là yếu tố cố định còn tài nguyên thì có xu hướng
giảm dần trong quá trình khai thác. Mặt khác, những yếu tố tài nguyên và đất đai đang
được sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất( K ). Yếu tố công nghệ kỹ
thuật trong hàm sản xuất truyền thống hiện nay cũng được mở rộng ra theo nghĩa là các
yếu tố còn lại ngoài vốn và lao động tác động đến tăng trưởng kinh tế, gọi là năng suất
các nhân tố tổng hợp (TFP- total factor producctivity). Năng suất nhân tố tổng hợp là: (i)
- Năng lực cạnh tranh công nghệ của nền kinh tế nói riêng và năng lực cạnh tranh
tăng trưởng nói chung.
Như vậy, phân tích trên cho thấy rằng KHCN có ảnh hưởng và tác động đến mọi
hoạt động Kinh tế - Xã hội. chính KHCN là chìa khoá của sự phát triển. Bởi vậy, quốc
gia nào nhận thức rõ được vai trò của KHCN và có chính sách đầu tư đúng đắn để thúc
đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển Công nghệ; quốc gia đó sẽ đạt được một nền kinh tế
- Xã hội tăng trưởng cao và ổn định, bền vững. Nhận thức rõ vai trò của KHCN trong sự
nghiệp phát triển kinh tế -Xã hội, ngay trong nghị quyết của Bộ Chính trị về khoa học
công nghệ trong sự nghiệp đổi mới - tháng 3/1991 đã nhấn mạnh “ Khoa học và Công
nghệ là một động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển
Kinh tế - Xã hội theo định hướng XHCN”. Điều này lại một lần nữa được khẳng định
trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - Xã hội 10 năm 2001 - 2010 của đảng ta
trong Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX: “ Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn
lực con người, năng lực Khoa học và Công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng
lên.”. Đồng thời, Luật khoa học công nghệ cũng xác định rõ: “Khoa học - Công nghệ là
quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp cây dựng và bảo vệ tổ quốc,
là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển nhanh và bền
vững đất nước”.
1.2. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ.
1.2.1 Tổng quan về chi ngân sách Nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm chi ngân sách Nhà nước
12
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
Về mặt pháp lý, chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi tiêu do chính phủ
hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích.
Chi ngân sách là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với
sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhau như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỷ
giá hối đoái...
Chi ngân sách có quy mô lớn, phức tạp, có tác động mạnh mẽ đến môi trường tài
chính vĩ mô, đến tổng cung, tổng cầu về vốn tiền tệ
Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó
được xem xét trên tầm vĩ mô và dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng… mà các khoản chi Ngân sách đảm nhận. Tuy vậy, trong đầu tư cũng
phải chú ý tới hiệu quả kinh tế, nhất là các khoản nợ vay để đầu tư.
1.2.1.3 Vai trò của chi ngân sách Nhà nước
Thông qua vai trò của Nhà nước, chi ngân sách có vị trí rất quan trọng, được thể
hiện thông qua các lĩnh vực như ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và
tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá công cộng, chống ô nhiễm môi
trường, phát triển giáo dục và nâng cao phúc lợi xã hội, định hướng cạnh tranh một cách
có hiệu quả…
Chi ngân sách được thể hiện thông qua các vai trò sau:
Thứ nhất, chi NSNN đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Nhà nước
trong việc củng cố quốc phòng và việc sản xuất, tiêu dùng các hàng hoá công cộng.
14
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Hải Anh – CH150423
NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt
động của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến xã, phường. Nguồn NSNN là nguồn duy
nhất phục vụ cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước từ các cơ quan quyền lực, cơ quan
hành chính Nhà nước đến các cơ quan tư pháp. Ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối
kinh phí hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Kinh
phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm, ngân sách nhà nước hỗ
trợ trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ.
-Thứ hai, Nhà nước thực hiện việc phân bổ các nguồn tài chính quốc gia, định
hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế.
Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính sách tài chính có tác dụng kíchcầu
và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhập
quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu dùng.
Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính phủ làm ngược lại. Để cân
bằng lại những biện pháp tài chính này, Nhà nước tạo ra những biện pháp cân bằng như
thuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. Chính sách tài chính được điều hành một
cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng
cách kiểm soát việc cung ứng tiền. Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và
lạm phát thấp, Nhà nước đã tăng cung ứng tiền, dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giá đồng
tiền), nhờ đó ngân hàng mới có nhiều điều kiện cho vay và chi tiêu cho tiêu dùng được
tăng lên. Điều đó có nghĩa là kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành lớn nhất và ổn
định nhất của tổng cầu. Lãi suất thấp, đồng thời khuyến khích đầu tư, các chủ doanh
16