Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách về tín dụng đầu tư phát triển cho khu vực nông nghiệp nông thôn Việt Nam - Pdf 44

Lời Cam Đoan
Tôi xin cam đoan những nội dung trong chuyên đề này do chính tôi thực
hiện thu thập và ngiên cứu, không sao chép từ tài liệu khác; các số liệu sử
dụng trong chuyên đề này là sát thực và được phép công bố.
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Thảo
Danh mục chữ viết tắt
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
NHPTVN : Ngân hàng Phát trỉên Việt Nam
ĐTPT : Đầu tư phát triển
UBND : Uỷ ban nhân dân
NSNN : Ngân sách nhà nước
HTPT : Hỗ trợ phát triển
HTLSSĐT : Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
HTLS : Hỗ trợ lãi suất
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
NN-NT : Nông nghiệp- nông thôn
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TCTC : Tổ chức tài chính
TCTD : Tổ chức tín dụng
CP : Chính phủ
KT-XH : Kinh tế xã hội
XĐGN : Xoá đói giảm nghèo
2
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cần thiết của đề tài:
Đầu tư phát triển là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động

chỉnh và hoàn thiện hơn trước yêu cầu của đổi mới.Từ đó đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu,phân tích một cách toàn diện dựa trên cơ sở cơ chế chính sách tín
dụng ưu đãi và thực trạng công tác tín dụng đầu tư phát triển tại các Quỹ
HTPT và NHPT để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tín
3
dụng ĐTPT của Nhà Nước trong thời gian tới.
Ngoài ra đề tài này còn quan tâm đến các chủ trương chính sách thu hút
đầu tư của các thành phần, các khu vực kinh tế và nông nghiệp, nông
thôn.Chính sách thu hút đầu tư rất đa dạng song có thể tập trung chủ yếu vào
hai nhóm sau:
_Nhóm thứ nhất bao gồm các hình thức, dự án và biện pháp đầu tư do
chính Nhà nước chủ động triển khai
_Nhóm thứ hai bao gồm các nhà đầu tư ngoài nhà nước .
Đề tài này đề cập và nghiên cứu kĩ hơn đến nhóm chính sách thứ
nhất, bên cạnh đó cũng có quan tâm đến nhóm chính sách thứ hai.
Qua nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác tín dụng ĐTPT
của Nhà Nước ở các Quỹ HTPT, và Ngân hàng phát triển ,được sự giúp đỡ
của cán bộ phòng Thị Trường Vốn,Vụ Tài Chính Ngân Hàng,Bộ Tài Chính
và thầy giáo hướng dẫn Bùi Đức Tuân,em đã mạnh dạn chọn đề tài:”Đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách về tín dụng đầu
tư phát triển cho khu vực nông nghiệp nông thôn Việt Nam”
Phạm vi: số liệu hoạt động và các văn bản pháp quy của Các Quỹ
HTPT, NHPT Việt Nam và các tổ chức liên quan
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích tổng
hợp,so sánh,có kết hợp các mô hình thống kê đầu tư
Kết cấu:Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài nghiên cứu được chia
thành các chưong sau:
Chương I: TDĐTPT và vai trò của TDĐTPT đối với khu vực NN-NT
Chương II:Thực trạng cơ chế chính sách về TDĐTPT của nhà nước cho
khu vực NN-NT VN

Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời hay có thời hạn

Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phân chia
thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo những tiêu thức phân loại khác nhau.
a..Dựa vào mục đích của tín dụng-Theo tiêu thức này tín dụng ngân
hàng có thể phân chia thành các loại sau:

Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.

Cho vay tiêu dùng cá nhân.

Cho vay bất động sản.

Cho vay nông nghiệp.
5

Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
b.Dựa vào thời hạn tín dụng –Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân
chia thành các loại sau:

Cho vay ngắn hạn:Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm.Mục
đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản
lưu động.

Cho vay trung hạn:Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm.Mục
đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.

Cho vay dài hạn:Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm .Mục đích của
loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.

nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi.Theo sách giáo
trình tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng -tiến sĩ Nguyễn Minh
Kiều,giảng viên Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh và chuơng trình giảng dạy
kinh tế Fulbright (NXB Tài Chính, năm 2008) thì một bảng mô tả qui trình
tín dụng có thể tóm tắt như sau:
Bảng 1.1:Bảng tóm tắt qui trình tín dụng
6
Các giai đoạn
của quy trình
Nguồn và nơi cung
cấp thông tin
Nhiệm vụ của ngân
hàng ở mỗi giai
đoạn
Kết quả của mỗi
giai đoạn
(1) (2) (3) (4)
Lập hồ sơ đề
nghị cấp tín
dụng
_Khách hàng đi vay
cung cấp thông tin
_Tiếp xúc,phổ biến
và hướng dẫn khách
hàng lập hồ sơ vay
vốn
_Hoàn thành bộ hồ
sơ để chuyển sang
giai đoạn sau
Phân tích tín

vay dựa vào kết quả
phân tích.
_Quyết định cho
vay hoặc tuỳ theo
kết quả thẩm định.
_Tiến hành các thủ
tục pháp lý như ký
hiệp đồng tín
dụng,hợp đồng
công chứng ,các
loại hợp đồng khác.
Giải ngân _Quyết dịnh cho
vay và các hợp đồng
liên quan.
_Các chứng từ làm
cơ sở giải ngân.
_Thẩm định các
chứng từ theo các
điều kiện của hợp
đồng tín dụng trước
khi phát tiền vay.
_Chuyển tiền vào
tài khoản tiền gửi
của khách hàng
hoặc chuyển trả
cho nhà cung cấp
theo yêu cầu của
khách hàng
Giám sát và
thanh lý tín

vay vốn về mặt hành chính.
 Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan
trong hoạt động tín dụng.
1.1.2.Những vấn đề chung về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
1.1.2.1. Sự cần thiết của tín dụng Nhà nước
a. Khái niệm tín dụng Nhà nước
Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng, mà trong đó Nhà nước là
người đi vay để đảm bảo các khoản chi tiêu của Ngân sách Nhà nước
(NSNN), đồng thời là người cho vay để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của mình trong quản lý kinh tế - xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại.
Tín dụng đầu tư (TDĐT) là hình thức của tín dụng Nhà nước.Tín
dụng đầu tư phát triển là một nội dung chi đầu tư phát triển của ngân sách
nhà nước với mục đích hỗ trợ vốn đối với “các dự án đầu tư phát triển của
các thành phần kinh tế thuộc một số ngành,lĩnh vực,chương trình kinh tế lớn
của nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư”;có tác động
trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT), thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững ,nhằm tăng cường sản xuất,bảo đảm phát triển cân đối giữa các
ngành,vùng trong cả nước.
b. Sự cần thiết và vai trò của tín dụng Nhà nước
 Sự cần thiết của tín dụng Nhà nước:
Nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, tạo cơ hội
cho mọi người sáng tạo, thị trường năng động hơn song nó cũng chứa đựng
nhiều khuyết tật, đó là việc đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, vấn đề
“hàng hoá công” sẽ không được quan tâm giải quyết. Vì vậy, để đảm bảo
hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định cần phải có sự can
thiệp của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế.
Nhà nước thường sử dụng các công cụ tài chính như thuế, phí, chi
NSNN… để thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế.Ngoài ra, Nhà nước còn
sử dụng chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ cho các doanh nghiệp (DN)
trong các lĩnh vực trọng yếu, then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực

nông thôn
_Ngoài ra, tín dụng nhà nước có tác dụng tích cực trong việc kích thích
đầu tư của các thành phần kinh tế khác trong giai đoạn kinh tế trì trệ, góp
phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế cao trong những năm vừa qua
c.Phân biệt tín dụng Nhà nước với các hình thức tín dụng khác
So với hình thức tín dụng khác (tín dụng thương mại, tín dụng ngân
hàng, tín dụng quốc tế) tín dụng Nhà nước cũng hoạt động theo nguyên tắc
vay - trả. Tuy nhiên,với bản chất riêng, tín dụng Nhà nước có những điểm
khác biệt sau:
- Các loại tín dụng khác dựa trên cơ sở thỏa thuận, theo cơ chế thị
trường, mang tính tự nguyện và mang tính lợi ích kinh tế, còn tín dụng Nhà
nước vừa mang tính lợi ích kinh tế, vừa mang tính cưỡng chế, tính chính trị,
xã hội. Tính lợi ích kinh tế thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền vay, thể hiện
gián tiếp qua việc hưởng thụ các tiện nghi công cộng, có thêm việc làm do
9
đầu tư tín dụng Nhà nước mang lại ; Tính cưỡng chế thể hiện ở việc Nhà
nước quy định mức huy động theo nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể
trong nước ; Tính chính trị, xã hội thể hiện ở lòng tin của dân chúng vào
Chính phủ, thể hiện ở trách nhiệm và sự quan tâm của Chính phủ đối với dân
chúng.
- Việc huy động vốn và sử dụng vốn của tín dụng Nhà nước thường có
sự kết hợp giữa các nguyên tắc tín dụng và các chính sách tài chính của Nhà
nước, đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của một thị trường tài chính lành
mạnh.
- Tín dụng đầu tư của Nhà nước gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô và
vấn đề quản lý hành chính theo chủ trương của Nhà nước, tập trung tài trợ
cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết, có tác
động đến tăng trưởng kinh tế.
Hiện tại, hoạt động tín dụng Nhà nước do Ngân hàng phát triển (NHPT)
đảm nhận. Đây là một tổ chức tài chính Nhà nước thực hiện việc tài trợ

vay ;thời hạn thường là trung và dài hạn,lãi suất thấp.
Tuy nhiên tín dụng nhà nước cũng có những điểm khác biệt so với tín
dụng ngân hàng:
+ Chủ thể trong quan hệ tín dụng nhà nước chính là Nhà nước.Trong tín
dụng nhà nước,vốn tiền tệ huy động được dưới hình thức công trái (Trái
phiếu Chính phủ ) thuộc quyền sử dụng của các tổ chức chính quyền Nhà
nước,chúng được chuyển thành nguồn vốn tài chính bổ sung của các tổ chức
này.Tín dụng nhà nước gắn liền với hoạt động kiến trúc thượng tầng chính
trị và sự vận động của vốn Ngân sách,biểu hiện một bộ phận của quan hệ tài
chính Nhà nước.Mặt khác việc huy động vốn thông qua vốn tín dụng Nhà
nước không mang tính chất thường xuyên như vốn tín dụng Ngân hàng.Nó
chỉ xuất hiện dựa trên yêu cầu xử lí vấn đề bội chi ngân sách nhà nước và
mở rộng đầu tư.
+ Một mặt động viên nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của dân cư, các
doanh nghiệp ,tổ chức để hình thành nguồn tài chính bổ sung của Nhà
nước ,mặt khác quan hệ tín dụng nhà nước là quan hệ tài chính gắn liền với
quá trình nhà nước quản lí sử dụng vốn vay và lợi tức tiền vay.Toàn bộ
nguồn vốn huy động được dưới hình thưc tín dụng nhà nước chủ yếu để cho
vay ưu đãi,ưu tiên cho cấc dự án và công trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở
hạ tầng KT-XH hoặc sử dụng cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh.
* Ý nghĩa của tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Xét trên nhiều phương diện ,tín dụng nhà nước không chỉ là biện pháp
huy động nguồn vốn nhàn rỗi bổ sung cho nguồn vốn tài chính nhà nước mà
còn là công cụ tài chính quan trọng để nhà nước thực hiện điều tiết và kiểm
soát vĩ mô.Vai trò điều tiết và kiểm soát vĩ mô của tín dụng nhà nước được
biểu hiện trên khía cạnh chủ yếu sau:
+ Tín dụng Nhà nước là đòn bẩy kinh tế quan trọng để Nhà nước điều
tiêt tỷ lệ tích luỹ và tiêu dùng.Tín dụng Nhà nước có thể biến nguồn vốn
nhàn rỗi đổi chiều từ khả năng đi vào tiêu dùng chuyển thành khả năng làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status