Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KÔNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TẠI TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60.85.01.03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Hùng
Thái Nguyên, năm 2014
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo đang công tác
tại Khoa Tài nguyên và Môi trường - Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, Trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở TN&MT tỉnh Vĩnh Phúc,
Phòng TN&MT các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Kông Trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
2.3. Yêu cầu 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
NGHIÊN CỨU 40
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 40
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 40
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 40
2.2. Đối tượng nghiên cứu 40
2.3. Nội dung nghiên cứu 40
2.4. Phương pháp nghiên cứu 41
2.4.1. Phương pháp điều tra cơ bản 41
2.4.2. Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích số liệu điều tra 42
2.4.3. Phương pháp đánh giá, đối chiếu, so sánh, diễn giải 42
2.4.4. Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài
42
2.4.5. Phương pháp tổng hợp, quy nạp 42
2.4.6. Phương pháp chuyên gia 42
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội ảnh hưởng tới đề tài
nghiên cứu 43
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 43
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 47
3.1.3. Dân số, lao động 50
3.2. Đánh giá thực trạng về tình hình VPHC trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh
Vĩnh Phúc 52
3.2.1. Đánh giá thực trạng VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình cá
nhân theo đơn vị hành chính cấp huyện 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
3.2.2. Đánh giá thực trạng VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá
nhân theo hình thức vi phạm 55
VPHC
: Vi phạm hành chính
TNMT
: Tài nguyên và môi trường
UBND
: Uỷ ban nhân dân
SDĐ
: Sử dụng đất
TP
: Thành phố
TX
: Thị xã
STT
: Số thứ tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001- 2010 48
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001- 2010 49
Bảng 3.3: Thống kê các trường hợp VPHC của hộ gia đình, cá nhân trong
việc SDĐ theo đơn vị hành chính từ 2003 đến nay 52
Bảng 3.4: Thống kê các trường hợp VPHC của hộ gia đình, cá nhân trong
việc SDĐ theo vùng từ năm 2003 đến nay 53
Bảng 3.5: Thống kê các trường hợp VPHC trong việc SDĐ của hộ gia
đình, cá nhân theo hình thức vi phạm từ năm 2003 đến nay 55
Bảng 3.6: Thống kê kết quả xử lý VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc
biệt trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trường sống; là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [28]. Đất đai là nguồn tài
nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích và số lượng; cố định về vị trí địa lý và
không thể di dời được; đây chính là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự khác biệt
về giá trị giữa các diện tích đất có vị trí địa lý khác nhau với các tài sản khác.
Dưới góc độ chính trị pháp lý, đất đai là yếu tố cơ bản nhất của chủ quyền
lãnh thổ quốc gia [17].
Chính sách đất đai luôn được coi là một trong những chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước. Hiến pháp năm 1980 đã xác lập chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai. Chế độ này được xác lập, duy trì, củng cố hoàn thiện qua các Luật
Đất đai (LĐĐ) năm 1987, LĐĐ năm 1993 và LĐĐ năm 2003. Đồng thời, Nhà
nước ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan
hệ pháp luật đất đai nhằm quản lý chặt chẽ, khai thác tiềm năng của đất đai
một cách hợp lý và sử dụng có hiệu quả, triệt để tiết kiệm đất, ngăn ngừa và
xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai [17].
Thực tế nhiều năm qua cho thấy tình trạng vi phạm trong quản lý và
SDĐ đai của các đối tượng xảy ra nhiều và phổ biến ở nhiều cấp, nhiều
ngành; điều này thể hiện số lượng đơn khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai
hàng năm chiếm tỷ lệ cao (trên 80% tổng lượng đơn thư hàng năm của tỉnh
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xử lý VPHC trong
SDĐ của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Yêu cầu
- Nắm vững các quy định của pháp luật về xác định và xử lý VPHC
trong việc SDĐ;
- Các nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập trên địa bàn nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
phải phản ánh đúng thực tế, đánh giá đẩy đủ, trung thực, khách quan, khoa
học, đảm bảo lô gíc và hệ thống. Số liệu phải được điều tra thu thập từ 2
nguồn là thứ cấp và sơ cấp;
- Giải pháp đề xuất phải đảm bảo khoa học, đúng với chính sách pháp
luật của nhà nước, phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xử lý VPHC và pháp luật xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam;
- Tạo lập cơ sở khoa học trong việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia xây dựng pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai;
- Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nói chung và xử lý
VPHC về đất đai nói riêng tại tỉnh Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; [20]
- Luật Đất đai năm 2003; [22]
- Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 đã được sửa đổi năm 2007 và năm
2008; [34],[35],[36]
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [6]
- Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về thi hành Luật Đất đai; [7]
- Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm
2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC
năm 2008; [8]
- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [9]
- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [2]
1.2. Khái quát về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.2.1. Khái niệm VPHC trong lĩnh vực đất đai
1.2.1.1. Khái niệm VPHC
Ở một số nước trên thế giới, VPHC thường được hiểu chung là “các
hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các
chế tài hành chính” [14].
Ở Việt Nam, định nghĩa VPHC lần đầu tiên được nêu tại Điều 1, Pháp
lệnh xử phạt VPHC ngày 30/11/1989 như sau:
“VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[15]
Địa chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04-CP ngày 10/01/1997 của
Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai: “VPHC trong lĩnh vực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
quản lý, SDĐ đai là những hành vi làm trái với quy định về quản lý, SDĐ đai
nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự” [27]. Khái niệm này
mới chỉ phản ánh được mặt khách quan của vi phạm, mà không đề cập đến
mặt chủ quan và chủ thể của VPHC.
Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi là Nghị định
số 182/2004/NĐ-CP) đã sửa lại khái niệm trên như sau:
“VPHC trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi
cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về
đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính” [8].
Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2009 về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi là Nghị định số
105/2009/NĐ-CP) đã sửa đổi, bổ sung thêm chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai:
“VPHC trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi
cố ý hoặc vô ý của người SDĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt
động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà
chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật”[9].
1.2.2. Phân loại VPHC trong lĩnh vực đất đai
Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi VPHC, vào khách thể
và chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai, chúng ta có thể phân loại VPHC về
đất đai thành các nhóm như sau:
a) Căn cứ dấu hiệu khách quan là hành vi và tính chất, mức độ nguy
d) Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan là yếu tố lỗi của VPHC trong lĩnh vực
đất đai, có thể phân loại hành vi vi phạm do lỗi cố ý, hành vi vi phạm do lỗi
vô ý. Ví dụ: khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy định, VPHC
trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý
của người SDĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật [9].
1.2.3. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy định tổng số có 17 hành vi vi phạm
và bị xử phạt, trong đó có 14 hành vi VPHC trong sử dụng đất và 03 hành vi
VPHC trong hoạt động dịch vụ về đất đai. So với Nghị định số 182/2004/NĐ-
CP, có một số hành vi bị loại bỏ và một số hành vi được bổ sung, cụ thể:
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP loại bỏ 02 hành vi:
- Bỏ hành vi "chậm thực hiện bồi thường và chậm nộp tiền sử dụng đất,
tiền thuê đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho
thuê đất cho phép" [8]. Việc bỏ hành vi này vì việc chậm thực hiện bồi
thường là hành vi vi phạm của cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thực
hiện việc bồi thường, không phải là hành vi của người có đất bị thu hồi; do đó
không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
- Bỏ hành vi "chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép” [8]. Việc
bỏ hành vi này vì đã được xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính.
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP bổ sung 03 hành vi:
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 103 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP;
- Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc
ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất [9].
- Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cho phép hoặc không được chủ sử dụng đất cho phép hoặc việc
sử dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn
tạm giao, mượn đất mà không trả lại [9].
Ba là, huỷ hoại đất (Điều 10). Hành vi này không được Nghị định số
105/2009/NĐ-CP chính thức định nghĩa. Tuy nhiên căn cứ vào quy định tại
Điều 10 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, chúng ta có thể hiểu hủy hoại đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
là hành vi làm suy giảm chất lượng đất hoặc làm biến dạng địa hình hoặc gây
ô nhiễm đất dẫn đến hậu quả làm cho đất giảm hoặc mất khả năng sử dụng
theo mục đích sử dụng đã được xác định.
Bốn là, gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác (Điều 11).
Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP định nghĩa gây cản trở cho
việc sử dụng đất của người khác là hành vi đưa vật liệu xây dựng, chất thải,
chất độc hại hay các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc lên thửa đất
của mình hoặc đào bới, xây tường, làm hàng rào và các hành vi khác mà hành
vi này gây cản trở, làm giảm khả năng sử dụng đất của người khác hoặc gây
thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác [9].
Năm là, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng
cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất
đai. Nghị định số 105/2009/NĐ-CP không có giải thích về hành vi này, nhưng
chúng ta có thể hiểu là người sử dụng đất khi thực hiện các quyền của người sử
dụng đất đã không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
Sáu là, tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại,
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP thì Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đã quy
định thêm các hành vi không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng
ký biến động quyền sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết
hạn sử dụng đất mà vẫn đang sử dụng đất.
- Đối với hành vi không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, nội dung
này trùng với nhiều nội dung khác đã được quy định trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP.
- Đối với hành vi không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất, nội
dung của nó trùng với quy định về sử dụng đất không đúng mục đích. Bởi vì,
nếu người dân đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của
pháp luật tức là họ đã sử dụng đất đúng mục đích và ngược lại nếu họ không
đăng ký mà cứ sử dụng thì là sử dụng đất không đúng mục đích. Trong trường
hợp này, cơ quan có thẩm quyền có khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
điều luật để xử phạt. Quy định không rõ ràng này dễ dẫn đến tình trạng tùy
tiện trong việc áp dụng pháp luật và phát sinh các tiêu cực trong công tác xử
lý vi phạm.
Chín là, hành vi gây cản trở trong việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Trước đây hành vi này được
Điều 18 của Nghị định số 182/2004/NĐ-CP quy định là “Cố ý gây cản trở
cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất” [8]. Các dạng cụ thể của hành vi
được quy định rõ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 16 của Nghị định số
105/2009/NĐ-CP về cơ bản vẫn giữ nguyên như Điều 18 của Nghị định số
182/2004/NĐ-CP chỉ bổ sung thêm cụm từ “bồi thường, giải phóng mặt
bằng”, bao gồm: hành vi không có mặt tại địa điểm để bàn giao đất theo yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không có lý do chính đáng; hành
vi ngăn cản cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành
giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không đúng quy định; việc chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất không đúng thực tế và gây ra những hậu quả phức tạp.
Tuy nhiên, Nghị định 105/2009/NĐ-CP lại bỏ đi cụm từ “mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Điều này dẫn đến khó khăn cho các cơ
quan có thẩm quyền trong việc áp dụng luật. Bởi vì, Bộ luật Hình sự năm
1999 có một điều quy định về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức (Điều 267) [23]. Như vậy, sẽ khó có cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xử
lý VPHC khi phát hiện hành vi phạm sẽ chuyển cho cơ quan điều tra truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Mười ba là, hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo các quy định của
pháp luật về đất đai. Đây là hành vi mới được quy định trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP. Hành vi này được hiểu là người sử dụng đất có các hành
vi: không sử dụng đất trồng cây hàng năm quá thời hạn mười hai (12) tháng
liền; không sử dụng đất trồng cây lâu năm quá thời hạn mười tám (18) tháng
liền; không sử dụng đất trồng rừng quá thời hạn hai mươi bốn (24) tháng liền;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
không sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư
quá thời hạn mười hai (12) tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai
bốn (24) tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao
đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
giao đất, cho thuê đất đó cho phép.
Mười bốn là, hành vi chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài
liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về
đất đai. Đây cũng là hành vi mới được quy định trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 3 của Nghị định số 105/2009/NĐ-
định nghĩa:
“Là hành vi cung cấp các số liệu, tài liệu về đất đai gồm: số hiệu, kích
thước, hình thể, diện tích, vị trí, người sử dụng thửa đất, nguồn gốc, mục
đích, thời hạn sử dụng đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài chính
về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện; Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất; quyền và những hạn chế về quyền của người sử dụng đất, biến động
trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan không đúng
với quy định của pháp luật về thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu đất
đai”[9].
1.3. Khái quát pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai hiện hành
1.3.1. Khái quát xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai
Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm pháp
luật đất đai mà người vi phạm sẽ bị xử lý bằng một trong bốn hình thức là:
- Thứ nhất, xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật đất đai;
- Thứ hai, xử lý vi phạm bằng hình thức kỷ luật theo pháp luật về cán bộ,
công chức;
- Thứ ba, xử lý vi phạm theo pháp luật dân sự;
- Thứ tư là xử lý vi phạm theo pháp luật hình sự.