PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 27

1 | P a g e
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG
VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHTM
1.1.1Khái niệm NHTM
Ngân hàng được xem là một ngành dịch vụ có từ lâu dài trên thế giới, khi nền
sản xuất phát triển chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, đã
tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế, theo đó hệ thống ngân hàng đã
được hình thành. Hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế hàng hoá
một mặt phục vụ cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế, mặt khác cũng chính là
do mục đích sinh lời của Ngân hàng cho nên ngân hàng đã không ngừng hoàn
thiện và phát triển.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế, ngân hàng
có thể được định nghĩa qua nhiều khái niệm khác nhau, tuỳ thuộc vào các chức
năng, dịch vụ, vai trò mà chúng thực hiện qua nền kinh tế. Vấn đề được đặt ra là
các yếu tố này ngày càng thay đổi và không ngừng hoàn thiện, hiện nay có rất
nhiều các tổ chức tài chính như: các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, bưu
điện….đều có khuynh hướng kinh doanh như một ngân hàng, từ đó có rất nhiều
quan điểm khác nhau về ngân hàng. Xu hướng hiện nay người ta quan niệm về
NHTM đó là Ngân hàng thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cấp
tín dụng, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Dù được xem xét dưới nhiều định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại có thể
2 | P a g e
nói “NHTM là thuật ngữ chỉ các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
thoán và thực hiện nhiều chức năng chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh
nào đó trong nền kinh tế”.
1.1.2 Vai trò của NTHM
Trong nền kinh tế thị trường ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, là bộ máy
tuần hoàn của cả nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ
cao nếu hệ thống ngân hàng mạnh. Như vậy đòi hỏi ngân hàng phải phát triển

Song chức năng thu hút tiền gửi và đặc biệt là thu hút tiền gửi không kỳ hạn luôn
là chức năng đặc trưng của các ngân hàng. Trong hầu hết hệ thống tài chính
dường như chỉ có các ngân hàng mới được thực hiện việc mở các tài khoản tiền
gửi không kỳ hạn và thực hiện các dịch vụ thanh toán bằng tiền gửi cho khách
hàng.
Các cá nhân có các khoản tiền giành giụm mà chưa sử dụng, các doanh nghiệp
có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi có thể gửi vào ngân hàng dưới hình thức mở các
4 | P a g e
tài khoản như: tiền gửi thanh toán, tài khoản tiết kiệm…Mục đích gửi tiền có thể
là khác nhau nhưng tựu chung lại là để an toàn và hưởng lãi suất đối với các
khoản tiền gửi, hay hưởng một số dịch vụ khác…
1.1.3.2 NHTM cấp tín dụng cho các tác nhân trong nền kinh tế
Có thể nói tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của các NHTM, đặc biệt là các
ngân hàng truyền thống và là chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng hiện
đại ngày nay. Nhờ thế mạnh huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ
các cá nhân, các tổ chức kinh tế qua việc nhận tiền gửi hay tiền vay, các ngân
hàng sử dụng số tiền ấy để cho vay các cá nhân, các tổ chức kinh tế cần vốn để
đầu tư các nhu cầu như: mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định,
đầu tư nhu cầu vốn lưu động, nhu cầu tiêu dùng…và đa dạng các nhu cầu khác.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì các hình thức cấp tín dụng của ngân
hàng ngày càng phát triển muôn hình muôn vẻ: tín dụng thấu chi, tín dụng trung
dài hạn, tín dụng chiết khấu, tín dụng thuê mua…Vốn tín dụng của các ngân hàng
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình tái sản
xuất trong ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại…góp phần đẩy mạnh đầu
tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư.
1.1.3.3 NHTM cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng
Chức năng này xuất phát từ chính chức năng đầu tiên của ngân hàng là nhận
tiền gửi. Các cá nhân, tổ chức kinh tế trên cơ sở mở các tài khoản tiền gửi thanh
toán hay các tài khoản tiền gửi phục vụ giao dịch khi có nhu cầu thanh toán có thể
uỷ quyền cho Ngân hàng thực hiện thay mình… Theo quan điểm luật pháp ở hầu

doanh thu một cách đáng kể, tăng hiệu quả của công việc sử dụng đồng vốn của
Ngân hàng.
Mỗi chức năng tạo ra cho NHTM một ưu thế nhất định trong hoạt động kinh
doanh của nó, tuy nhiên như ta đã biết hoạt động của ngân hàng luôn đi kèm với
những rủi ro cho nên song song với việc thực hiện các chức năng đó NHTM luôn
phải tìm cách để hạn chế những nhược điểm của nó để thu lại hiệu quả kinh tế cao
nhất cho Ngân hàng mình.
1.1.4 Những đặc thù hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.4.1 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro
Là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động của các
NHTM hàm chứa nhiều rủi ro, cụ thể là:
- Rủi ro tín dụng: rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi
ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường
hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi cho khoản vay hoặc là việc
thanh toán gốc và lãi không đúng hạn. Trong thực tế, việc khách hàng không trả
được nợ có thể xảy ra bất cứ lúc nào và với bất cứ ai vì rất nhiều nguyên nhân
khác nhau. Do vậy, rủi ro tín dụng là một rủi ro cố hữu mà bất cứ ngân hàng nào
cũng phải đối mặt
7 | P a g e
- Rủi ro lãi suất: rủi ro lãi suất là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh
chịu khi lãi suất thị trường có sự biến động. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất là
ngân hàng không có sự cân xứng giữa kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ hay sự
mất cân xứng giữa khối lượng tài sản có nhạy cảm với lãi suất và tài sản nợ nhạy
cảm với lãi suất. Có hai loại rủi ro lãi suất là rủi ro tái tài trợ tài sản nợ và tái đầu
tư tài sản có.
- Rủi ro thanh khoản: rủi ro thanh khoản là nguy cơ mất khả năng chi trả của
ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền. Đối với các tổ chức tài chính nói
chung, các NHTM nói tiêng thì có rủi ro thanh khoản là xảy ra thường xuyên và
nghiêm trọng hơn cả. Bởi rủi ro thanh khoản có tính chất lan truyền, nếu người
gửi tiền nhận thấy ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản thì sẽ đồng loạt rút tiền ra

vốn huy động
Vốn huy động là nguồn vốn dài hạn và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn
vốn của Ngân hàng. Đặc điểm của nguồn vốn này là ngân hàng không có quyền sở
hữu và đáp ứng những điều kiện đã thoả thuận với khách hàng mà ngân hàng
9 | P a g e
được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định để cho vay hoặc đầu tư vào
lĩnh vực khác.
1.1.4.4 Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh mang tính hệ thống cao và
phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước
Tình hình phát hành, lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến
tổng thể nền kinh tế, hơn nữa đặc điểm của loại hình kinh doanh ngân hàng mang
tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác.Do đó,
một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý Nhà
nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của hệ
thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư.
Mặt khác, để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như để
có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng, luôn đòi hỏi phải duy trì tính
ràng buộc về mặt kỹ thuật và về mặt tổ chức, có thể cho các ngân hàng tự thiết lập
hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước.
Tính hệ thống không chỉ đơn thuần là do yêu cầu có sự thống nhất về kỹ thuật
nghiệp vụ trên phạm vi ngày càng rộng mà nó còn được bổ sung bởi nhu cầu phải
hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngân hàng về thanh khoản vốn khả dụng, về chia sẻ rủi ro
để đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống và nền kinh tế.
1.2 VỐN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA HUY ĐỘNG VỐN
1.2.1 Vốn của NHTM
1.2.1.1Vốn tự có (VTC)
VTC của NHTM là toàn bộ những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được,
10 | P a g e
thuộc sở hữu của ngân hàng hoặc được quyền sử dụng như vốn chủ sở hữu hay
những khoản vốn được duy trì lâu dài và thường xuyên tại các ngân hàng mà ngân

Bản chất của VHĐ là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Nguồn vốn này
không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng ngân hàng được quyền sử dụng
trong thời gian huy động và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn
hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn. VHĐ đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, là nguồn gốc kinh doanh của ngân hàng. Song
nguồn vốn này rất dễ bị biến động nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số
vốn này vào kinh doanh mà phải tuân thủ các qui định về dự trữ bắt buộc để đảm
bảo khả năng thanh toán.
Nghiệp vụ huy động vốn của những ngân hàng tiêng lẻ nói chung là tương tự
nhau trên toàn thế giới. Nhưng môi trường hoạt động của các NHTM ở các nước
khác nhau là khác biệt. Với điều kiện về kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn
phát triển, các NHTM đã đưa ra các hình thức huy động vốn sau đây:
a) Tiền gửi của tổ chức kinh tế và cá nhân
12 | P a g e
Tiền gửi ngân hàng bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn
 Tiền gửi không kỳ hạn:là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể rút ra sử
dụng bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng. Tiền
gửi không kỳ hạn bao gồm các loại sau:
- Tiền gửi thanh toán: đó là khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết sử dụng để
tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi
phí khác.
Loại tiền gửi này được hưởng lãi suất thấp hoặc không được hưởng lãi, vì
khách hàng có thể rút vốn ra bất kỳ lúc nào phục vụ cho việc chi trả qua các hình
thức như Séc, Uỷ nhiệm chi… chính vì vậy đây là nguồn vốn có tính chất ổn định
thấp, ngân hàng không chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này, chi phí quản
lý tài khoản, chi phí nghiệp vụ ngân quỹ phục vụ cho việc thu chi cao. Tuy nhiên,
đối với ngân hàng thì đây lại là nguồn vốn có chi phí huy động (tính bằng lãi suất)
thấp. Càng huy động được nhiều khách hàng mở tài khoản tiền gửi loại này thì
tổng số dư tiền gửi tại ngân hàng cao, dịch vụ ngân hàng phát triển và nguồn vốn
(tính theo kết số dư) lại là ổn định.

vay hỗ trợ đặc biệt; vay kỳ hạn…Vay NHNN là một cách tốt nhất để bổ sung dự
trữ thanh toán. Mỗi hình thức tín dụng nêu trên mang một mức lãi suất khác nhau,
trong đó lãi suất áp dụng với tín dụng dài hạn mở rộng nói chung cao hơn cả; vay
thanh toán bù trừ và vay qua cửa sổ chiết khấu mang tính chất giúp đỡ đối với
NHTM đang có yêu cầu tạm thời về vốn.
NHTM cũng có thể vay thương mại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
với chi phí có thể chấp nhận được để thoả mãn các nhu cầu tín dụn của khách
hàng mình hoặc thực hiện các dự án đầu tư mà ngân hàng muốn. Đồng thời đơn vị
ngân hàng có thể vay các tổ chức tín dụng trong nước trên thị trường liên ngân
hàng qua đêm hoặc vài ngày để tài trợ cho nhu cầu vốn tạm thời.
d) Phát hành các giấy tờ có giá
Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, đi vay, các NHTM còn phát hành chứng
chỉ tiền gửi và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và phát hành các giấy tờ có giá khác
điển hình là việc phát hành Euro Dollar. Thực chất là ngân hàng huy động vốn
tiền tệ bằng cách phát hành chứng từ có giá. Trong đó chứng chỉ tiền gửi là phiếu
nợ ngắn hạn với mệnh giá qui định, trái phiếu là giấy nợ trung và dài hạn. Phương
thức phát hành Euro Dollar là hình thức phát hành phiếu nợ để thu hút vốn ở nước
ngoài, nó có đặc điểm là chỉ huy động vốn bằng đô la và khi trả lãi, vốn gốc cũng
bằng đô la. Đối với loại này ngân hàng sử dụng để thu hút vốn ngắn hạn (3 tháng).
Ở các trung tâm tài chính, loại phiếu nợ này có được chấp nhận như là đô la.
Quyền phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở một số
ngân hàng đặc biệt như ngân hàng ngoại thương, ngân hàng xuất nhập khẩu… Các
15 | P a g e
ngân hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước và nước ngoài,
còn các ngân hàng khác thì chỉ được phát hành ở nước ngoài. Tuy nhiên đây là
loại hình huy động vốn lãi suất cao, vì vậy nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi
ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ.
Khi ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác, có thể xảy ra 3
trường hợp:
- Phát hành trái phiếu ngang giá (phát hành bằng mệnh giá): Là phát hành trái

đây là mảng kinh doanh chủ yếu mang lại lợi ích cho ngân hàng. Vốn như một
tấm đệm giúp ngân hàng chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang trải những thua
lỗ về tài chính và nghiệp vụ.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng lớn sẽ tạo ra uy tín lớn cho ngân hàng, tạo
niềm tin cho công chúng và đảm bảo đối với chủ nợ về sức mạnh tài chính của
ngân hàng, giúp ngân hàng có thể mở rộng các hình thức kinh doanh và tăng khả
17 | P a g e
năng cạnh tranh trên thị trường. Nếu nguồn vốn huy động của ngân hàng càng lớn
sẽ chứng minh rằng quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân
hàng hiện đại. Khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện thuận lợi đối với ngân
hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui
mô, khôi lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cấp tín dụng…
Nguồn vốn huy động có vai trò rất quan trọng, nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn vốn và nó quyết định đến tất cả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chính vì thế các NHTM cần phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn để đạt
được hiệu quả huy động cao nhất.
Như vậy, công tác huy động vốn cũng có ý nghĩa quan trọng, nó không những
giúp mở rộng được công tác cho vay, tăng cường vốn cho nền kinh tế mà còn
mang đến cho ngân hàng nhiều lợi nhuân. Do đó các ngân hàng cần phát huy công
tác huy động vốn.
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN HUY ĐỘNG VỐN
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán huy động vốn
Với bản chất, chức năng của mình thì ở bất cứ nền sản xuất nào kế toán cũng
là công cụ quan trọng để ghi chép, phản ánh, đo lường thông tin và kiểm tra. Vai
trò của kế toán không chỉ phát huy đối với doanh nghiệp mà nó còn phát huy vai
trò to lớn trong nền kinh tế. Là bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của nền
kinh tế quốc dân, kế toán ngân hàng cũng phát huy đầy đủ vai trò của kế toán nói
chung. Trong đó kế toán nghiệp vụ huy động vốn đóng vai trò hết sức quan trọng.
18 | P a g e
Trước hết kế toán nghiệp vụ huy động vốn phản ánh được chính xác loại vốn

 Các tài khoản tiền gửi, tiền vay
 40 Các khoản nợ chính phủ và ngân hàng nhà nước
 41 Các khoản nợ các tổ chức tín dụng khác
 42 Tiền gửi của khách hàng
421/422 Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng đồng Việt Nam/ngoại tệ.
4211/4221 Tiền gửi không kỳ hạn
4212/4222 Tiền gửi có kỳ hạn
4214/4224 Tiền gửi vốn chuyên dùng
423/424 Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam/ngoại tệ
4231/4241 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
4232/4242 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
20 | P a g e
4238/4248 Tiền gửi tiết kiệm khác
425/426 Tiền gửi của khách hàng nước ngoài bằng đồng Việt Nam/ngoại tệ
 Tài khoản 43 Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá
431/434 Mệnh giá giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam/bằng ngoại tệ
432/435 Chiết khấu giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam/bằng ngoại tệ
433/436 Phụ trội giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam/bằng ngoại tệ
 Tài khoản 49 Lãi và phí phải trả
491: lãi phải trả cho tiền gửi
492: lãi phải trả về phát hành giấy tờ có giá
493: lãi phải trả cho tiền vay
 Tài khoản 388 Chi phí chờ phân bổ
 Tài khoản 80 Chi phí hoạt động tín dụng
801: trả lãi tiền gửi
802: trả lãi tiền vay
803: trả lãi phát hành giấy tờ có giá
809: chi phí khác
1.3.2.2 Chứng từ sử dụng
Nhóm chứng từ sử dụng trong nghiệp vụ huy động vốn khá phong phú, bao

TKTG trong tháng
X Lãi suất ngày
Hạch toán:
Nợ TK Chi trả lãi TG (801)
Có TK Tiền gửi thanh toán/KH (4211)
- Tất toán và đóng tài khoản
Việc tất toán tài khoản khi khách hàng có yêu cầu trong trường hợp giải thể, sáp
nhập, chia tách; hoặc nếu tài khoản hết số dư và trong 6 tháng không có nghiệp vụ
nào phát sinh thì ngân hàng sẽ tất toán tài khoản của khách hàng.
Khi tất toán tài khoản, kế toán phải kiểm tra đối chiếu khớp đúng số liệu với
khách hàng, chuyển số dư còn lại vào tài khoản khác theo yêu cầu của khách hàng
và thu hồi số séc khách hàng chưa sử dụng, chuyển hồ sơ tài khoản của khách
hàng sang tập hồ sơ lưu trữ (những tài khoản đã tất toán).
1.3.3.2 Kế toán tiền gửi tiết kiệm
a) Kế toán tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Khi gửi tiền:
Nợ TK 1011 hoặc TK thích hợp
Có TK 4231/KH
- Khi rút tiền:
Nợ TK 4231/KH
Có TK 1011
- Khoá sổ, tất toán TK tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Trường hợp khách hàng rút hết tiền trong sổ, tức là xin tất toán sổ, kế toán phải
23 | P a g e
thu lại sổ và lưu cả sổ cùng phiếu lưu đã tất toán vào nơi lưu trữ hồ sơ gốc.
Khi khách hàng muốn giao dịch lại, phải lập sổ và phiếu lưu mới
- Tính lãi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Cách tính lãi tương tự như tiền gửi không kỳ hạn, tức là cũng tính theo phương
pháp tích số và lãi được nhập vào gốc hàng tháng. Tuy nhiên, tính lãi tiền gửi tiết
kiệm và hạch toán lãi có thể thực hiện theo 2 thời điểm: được thực hiện theo đúng

+ Nếu khách hàng đến lĩnh lãi và gốc vào cuối kỳ hạn, về nguyên tăc sẽ làm thủ
tục tất toán sổ luôn cho khách hàng.
- Trường hợp khách hàng đến rút tiền trước hạn:
+ Thoái chi tiền lãi cộng dồn dự trả theo lãi suất có kỳ hạn cho thời gian gửi thực
tế (số tiền đã trích vào tài khoản này)
+ Tính trả lãi theo mức lãi suất hợp lý cho thời gian gửi thực tế
c)Kế toán tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn loại lãi trả trước:
- Khi gửi tiền: Ngân hàng thực hiện tính và trả luôn lãi của cả kỳ hạn cho khách
hàng, tuy nhiên số lãi đó phải được ghi nhận vào TK388- Chí phí chờ phân bổ dần
25 | P a g e
theo định kỳ kế toán:
Nợ TK 1011, thích hợp
Nợ TK 388
Có TK 4232/KH
-Hàng tháng: thực hiện phân bổ lãi trả trước vào chi phí
Nợ TK 801
Có TK 388
- Đáo hạn: ngân hàng trả cho khách hàng số tiền đúng bằng số gốc danh nghĩa mà
khách hàng gửi
Nợ TK 4232/KH
Có TK 1011, thích hợp
- Trường hợp khách hàng đến rút tiền trước hạn:
+ Thoái chi tiền lãi trả trước đã phân bổ vào chi phí theo lãi suất có kỳ hạn cho
thời gian gửi thực tế
+ Tính trả lãi theo mức lãi suất hợp lý cho thời gian gửi thực tế trên số tiền gửi
thực tế
1.3.3.3 Kế toán nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
a) Kế toán nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá theo phương thức trả lãi sau
- Khi phát hành: Tuỳ từng trường hợp để hạch toán vào TK thích hợp
+Nếu phát hành ngang giá: Số tiền thực tế thu về = Mệnh giá phát hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status