1 | P a g e
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, DNVVN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển và tận dụng được các nguồn lực như lao
động, nguồn tiền mặt nhà rỗi trong dân cư.
Các DNVVN được đánh giá là bộ phận năng động, họat động có
hiệu quả của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ lợi thế quy mô nhỏ gọn
nên việc chuyển hướng kinh doanh trong các DNVVN dễ dàng hơn trong
các doanh nghiệp lớn. Các DNVVN hoạt động trên hầu hết mọi địa bàn,
mọi ngành nghề của nền kinh tế. Đây là bộ phận quan trọng trong quá
trình sản xuất, lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ. Đặc biệt quan
trọng trong phát triển kinh tế dân doanh của nước ta trong quá trình
CNH-HĐH đất nước.
Trong quá trình phát triển hiện nay, DNVVN còn gặp không ít khó
khăn. Khó khăn lớn nhất hiện nay của thành phần kinh tế này là thiếu vốn
đầu tư sản xuất kinh doanh nên không có nhiều cơ hội mở rộng sản xuất
cũng như có chiến lược kinh doanh dài hạn. Nguồn vốn huy động hiện
nay của các DNVVN từ vay vốn ngân hàng đang gặp khó khăn mà đây
lại là nguồn vốn chính giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động của mình.
DNVVN có thể vay vốn trên thị trường phi tài chính, tuy nhiên lãi suất
vay tại các tổ chức này thường rất cao.
Không chỉ các DNVVN muốn vay vốn ngân hàng để mở rộng sản
Đặng Thị Mai Chang Lớp: NHD - K8
2 | P a g e
xuất kinh doanh mà các ngân hàng thương mại cũng muốn mở rộng quy
tín dụng của ngân hàng để phát triển hoạt động kinh doanh. Với số lượng
lớn các DNVVN như hiện nay là thị trường khách hàng tiềm năng cho
ngân hàng phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp hơn với nhu cầu của các
DNVVN. Xuất phát từ thực tiễn đó, qua thời gian thực tập tại NHCT chi
nhánh Hoàn Kiếm - là ngân hàng chủ yếu tài trợ các doanh nghiệp trong
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DNVVN
1.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của DNVVN
1.1.1.Khái niệm về DNVVN:
Theo điều 3 NĐ90/2001/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày
23/11/2001 thì DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí
4 | P a g e
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí kinh doanh không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động hàng năm không quá 300 người. Căn cứ
vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành ,địa phương trong quá trình
thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng
đồng thời cả 2 tiêu chí hoặc 1 trong 2 tiêu chí nói trên.
Còn theo NHCT Việt Nam thì định nghĩa DNVVN là các doanh
nghiẹp có dưới 500 lao động, vốn cố định dưới 10 tỷ, vốn lưu động dưới
8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng. Sự xác định này
nhằm phân loại đối tượng cho vay vốn và số vốn cho vay đối với các
doanh nghiệp.
1.1.2.Đặc điểm của DNVVN:
Mỗi tổ chức kinh tế có những cách định nghĩa về DNVVN khác
nhau. Tuy nhiên theo cách định nghĩa nào thì DNVVN có những đặc
điểm nổi bật sau:
a) Điểm mạnh của DNVVN:
- Quy mô nhỏ:
DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động,
mô hình quản lí đơn giản, chi phí quản lí, chi phí đào tạo không lớn và
luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh,
đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy
nhiên với quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt rất phù hợp
5 | P a g e
cho phát triển dân doanh. DNVVN là phương thức phù hợp và hữu hiệu
để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế.
- Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp:
Nguồn vốn chủ yếu của các DNVVN thường là vốn tự có hoặc vốn
vay trên thị trường phi tài chính. Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay
vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này được giải
thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính
của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu
của ngân hàng. Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản
xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khó
khăn cho mở rộng thị trường.
- Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính.
Khu vực này thường bị thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị
7 | P a g e
trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin
về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như cho xuất khẩu và
đặcbiệt là chưa tiếp cận được công nghệ thông tin trong quản lí doanh
nghiệp. Điều này cũng xuất phát tư chính đặc điểm hoạt động của doanh
nghiệp, thường không có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực công nghệ
thông tin vì các DNVVN thường chỉ chú ý vào các hoạt động tác nghiệp,
giành rất ít thời gian cho các hoạt động cải tiến và chiến lược. Điều này
cản trở họ tiếp cận các công nghệ mới nhất. Thứ 2 là DNVVN thường
không biết các nguồn thông tin mà họ nên tham khảo. Điều này khiến họ
tụt hậu về công nghệ. Thứ 3, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ
đòi hỏi thay đổi nhiều về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm. Nó làm
thay đổi từ bên trong tổ chức. Việc doanh nghiệp tụt hậu về công nghệ do
hạn chế về tổ chức và tần nhìn chiến lược thích đáng.
Do thiếu thông tin, năng lực tài chính chưa đảm bảo minh bạch là trở
ngại lớn cho các DNVVN khi tham gia thị trường tài chính. Họ chưa đủ
lớn để phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khoán.
-Khả năng tiếp cận thị trường kém:
Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường trong và ngoài
22,07%, lợi nhuận chiếm 11,78% và nộp ngân sách nhà nước 17,46%.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò tích cực với sụ phát triển
kinh tế địa phương, khai thác được tiềm năng thế mạnh của từng vùng.
Với lợi thế của mình, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể len lỏi đến những
thị trường nhỏ lẻ và phát huy được khả năng tận dụng mọi nguồn lực cho
phát triển kinh tế.
- Thu hút và huy động các nguồn lực trong xã hội trong đầu tư, phát
triển dựa vào ưu thế của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ban đầu khởi
nghiệp với số vốn nhỏ nhưng có khả năng thu hồi vốn nhanh, thường huy
động được nguồn vốn tự có hay vay mượn bạn bè, người thân, làm tăng
vốn nhờ nguồn tiết kiệm trong dân cư.
Ngoài ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tận dụng các nguồn
lực tại chỗ như lao động, nguyên vật liệu…thúc đẩy phát triển trên địa
phương, tạo ra lượng sản phẩm với giá thành tương đối rẻ hơn do giá
thành đầu vào rẻ.
-Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làm tăng tỉ
10 | P a g e
trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ. Giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu
từ nông nghiệp và sản xuất nhỏ lên nền sản xuất công nghiệp hoá với
những đổi mới trang thiết bị công nghệ mới cũng như trình độ lao động
được nâng cao. Đồng thời hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
góp phần làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả kinh tế cao. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một vai trò quan trọng trong lưu thông
hàng hoá, bổ sung cho doanh nghiệp lớn, là mạng lưới tiêu thụ hàng hoá
cho các doanh nghiệp lớn.
-Làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế.
Sự ra đời của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm tăng tính cạnh
tranh cho nền kinh tế. Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động
trong các ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh
12 | P a g e
c. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin
Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng. Vì quan hệ tín
dụng xảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả tiền vay
và sử dụng vốn vay hiệu quả. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng
của ngân hàng thì ngoài lòng tin,ngân hàng còn yêu cầu tài sản đảm bảo
hay bảo lãnhcủa bên thứ ba.
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn
Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào thoả thuận giữa ngân
hàng và khách hàng. Để xác định thời gian vay ngân hàng căn cứ tính hợp
lý giữa thời hạn đi vay và thời hạn cho vay vốn để giảm thiểu rủi ro thanh
khoản. Còn khách hàng xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất kinh
doanh, thời điểm hình thành nguồn thu của mình.
- Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả cả gốc và lãi
Hoàn trả là một thuộc tính vốn có của tín dụng. Vì vốn cho vay của
ngân hàng là vốn huy động của những ngườu tạm thời thừa vốn nên sau
một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt
khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như:
khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí văn
phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho
ngân hàng một khoản lãi.
13 | P a g e
d. Phân loại tín dụng:
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm. Tín
dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu
động của các doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một đến năm
năm. Loại tín dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và
* Căn cứ vào mức độ đảm bảo.
- Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc
ngưòi bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay.
- Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản
hoặc người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay.
1.2.2. Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN
15 | P a g e
a. Cho vay ngắn hạn:
- Cho vay từng lần: là phương thức cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu
tín dụng của từng đối tượng vay cụ thể, như cho vay để mua nguyên vật
liệu đối với các doanh nghiệp sản xuất,cho vay dự trữ hàng hoá để bán
đối với các doanh nghiệp thương mại Đây là loại cho vay có kì hạn nợ
cụ thể gắn liền với chu kì ngân quỹ của doanh nghiệp. Thường áp dụng
với những doanh nghiệp vay vốn không thường xuyên với ngân hàng,
những doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay để đáp
ứng toàn bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức đã cam kết.
Hạn mức tín dụng là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng có thể
cung cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định. Ngân hàng
xác định hạn mức tín dụng trên cơ sở phân tích toàn diện các mặt hoạt
động của doanh nghiệp và doanh nghiệp được sử dụng một cách chủ
động tiền vay trong hạn mức thoả thuận đó.
* Chiết khấu: là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách
hàng chuyển nhượng các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán cho ngân
hàng để nhận lấy một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức chiết khấu
và hoa hồng phí ( nếu có). Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ít rủi ro,
khả năng thu hồi nợ là khá chắc chắn. Tuy nhiên có thể phát sinh các giáy
tờ có giá giả mạo,vì vậy các ngân hàng phải có các biện pháp để hạn chế
16 | P a g e
loại rủi ro này.
tờ trong hồ sơ được lập trong giăi đoạn này phụ thựôc vào nhiều yếu tố
như khách hàng đã thiết lập quan hệ hay khách hàng lần đầu quan hệ, loại
hay kĩ thuật cấp tín dụng… Tuỳ vào từng đối tượng khách hàng mà ngân
hàng sẽ xem xét theo loại nào, có đảm bảo hay tín chấp…
Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng còn phụ thuộc vào quy mô nhu cầu vốn
tín dụng của khách hàng. Yêu cầu thông tin từ hồ sơ tín dụng sẽ tăng lên
khi quy mô tín dụng sẽ đựơc cấp lớn.
Ở giai đoạn này nhiệm vụ chủ yếu của nhân viên tín dụng là tiếp
xúc, thông báo điều kiện cấp tín dụng đối với từng khách hàng cụ thể với
những mục đích sử dụng vốn đã định.
Giai đoạn 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của
18 | P a g e
khách hàng về sử dụng vốn tín dụng cũng như khả năng hoàn trả vốn vay
ngân hàng.
+ Mục tiêu của phân tích tín dụng là hạn chế tình trạng thông tin
không cân xứng giữa thông tin khách hàng đưa ra với thực tế tại doanh
nghiệp, tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
và tiên lượng khả năng kiểm soát của ngân hàng về các loại rủi ro đó
cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế. Mặt khác phân tích
tín dụng cho ngân hàng kiểm tra tính chính xác của các thông tin do
khách hàng cung cấp từ đó nhận định đúng về thái độ của khách hàng.
+ Nôi dung phân tích tín dụng: bao gồm 2 lĩnh vực
Phân tích phi tài chính: phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan
đến tài chính của khách hàng một cách trực tiếp.
Phân tích tài chính: phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo về
tài chính trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng các
trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng.
Trong quá trình phân tích tài chính, ngân hàng cũng sẽ xác định thời
hạn cho vay hợp lí. Thời hạn cho vay đựơc coi là khoảng thời gian từ lần
dụng đúng mục đích hay không. Kiểm soát mức độ rủi ro tín dụng phát
sinh trong quá trình sử dụng vốn tín dụng theo dõi thực hiện các điều
khoản cụ thể đã thoả thuận.
c. Hợp đồng, kịp thời phát hiện những vi phạm để ứng xử thích hợp.
Theo dõi và ghi nhận việc thực hiện quy trình tín dụng của các bộ phận,
cá nhân có liên quan tại ngân hàng.
Đến hạn thu nợ gốc cộng lãi vay: trường hợp khách hàng không trả
được nợ thì ngân hàng sẽ xem xét cơ cấu lại nợ cho khách hàng nếu có lí
do hợp lí, nếu không thì chuyển nợ quá hạn,phân vào nhóm nợ thích hợp.
1.2.4. Đặc điêm tín dụng ngân hàng với DNVVN
- Các khoản cho vay đối với DNVVN thường nhỏ
Do các DNVVN có quy mô cũng như nguồn vốn không lớn, vì vậy,
trong khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp thưòng đầu tư vào các dự
án có quy mô phù hợp với khả năng, đó là những dự án có mức đầu tư
vừa phải nên món vay ngân hàng của doanh nghiệp thường nhỏ. Vì vậy
ngân hàng sẽ luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra như chi phí quản lí, chi phí
tim kiếm thông tin về doanh nghiệp, các chi phí khác… và lãi thu được từ
khoản vay đó có bù đắp được chi phí và sinh lời cho ngân hàng hay
21 | P a g e
không.
- Loại hình cho vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn
Theo Thời báo doanh nhân: tỷ lệ cho vay ngắn hạn các DNVVN tại
các NHTM là 73.05%, cho vay dài hạn chỉ chiếm 26.95%. Do các doanh
nghiệp thường có nhu cầu vay vốn tạm thời cao, đáp ứng cho nhu cầu tài
trợ vốn lưu động như mua nguyên vật liệu… có khả năng quay vòng vốn
nhanh. Các khoản vay dài hạn của DNVVN thường phát sinh khi mở
doanh nghiệp hoặc mua máy móc thiết bị hoặc tài trợ nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên. Tuy nhiên, các khoản vay dài hạn khi doanh nghiệp
mới thành lập chứa đựng nhiều rủi ro, thường các DNVVN không đủ tài
sản bảo đảm khi vay vốn mua thiết bị, máy móc. Vì vậy doanh số cho vay
ngân hàng do trình độ quản lí cũng như trình độ lập báo cáo tài chính của
doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Tín dụng DNVVN luôn có sự hỗ trợ phi
23 | P a g e
tài chính từ phía ngân hàng như : ngân hàng thường xuyên giới thiệu cho
doanh nghiệp tham gia các buổi thuyết trình kinh nghiệm quản trị kinh
doanh, điều hành doanh nghiệp và các buổi tư vấn chuyên sâu về việc lựa
chọn sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để giúp các doanh nghiệp có thể sử
dụng các sản phẩm của ngân hàng hiệu quả nhất.
1.3. Quan điểm và sự cần thiết mở rộng hoạt động tín dụng với
DNVN
1.3.1.Quan điểm mở rộng tín dụng và chỉ tiêu đo lường mức độ
mở rộng tín dụng.
a. Khái niệm về mở rộng tín dụng
Mở rộng tín dụng là việc làm tăng lên về doanh số, dư nợ, đa dạng
hoá các sản phẩm dịch vụ và tăng lên về số lượng khách hàng cũng như
đối tượng khách hàng. Đồng thời đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng.
+ Mở rộng tín dụng là đáp ứng được tối đa nhu cầu hợp lí của khách
hàng trong phạm vi năng lực của ngân hàng. Bất cứ ngân hàng nếu nguồn
lực đảm bảo về nhân sự, tài chính, quản tri…thì việc càng mở rộng tín
dụng có khả thi càng mang lại được nhiều lợi ích cho ngân hàng.
Việc xác định các dự án vay vốn khả thi là rất quan trọng. Nó đòi
hỏi ngân hàng phải đánh giá chính xác được nhiều vốn, tính khả thi của
dự án đó tránh việc dự án khả thi không được ngân hàng chấp nhận hoặc
dự án không khả thi thì lại được ngân hàng chấp nhận. Cả hai trường hợp
24 | P a g e
đó đều gây bất lợi cho ngân hàng.
+ Mở rộng tín dụng là đáp ứng được nhiều hơn nữa nhu cầu vay vốn
hợp lí của nhiều đối tượng khách hàng.
Ngân hàng sẽ cho vay với nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhiều
ngành nghề khác nhau. Điều này sẽ giúp ngân hàng sẽ phân tán được rủi
bảo chất lượng các khoản vay hiện tại cũng như các khoản vay trong
tương lai giúp ngân hàng phát triển bền vững và kinh doanh có hiệu quả.
Vì vậy, song song mục tiêu mở rộng tín dụng ngân hàng luôn phải
thực hiện giám sát, đảm bảo chất lượng cho từng khoản vay. Đạt được
những yêu cầu về chất lượng tín dụng thì mục tiêu mở rộng tín dụng của
ngân hàng mới có tác dụng, ngược lại , mở rộng tín dụng tràn lan có thể
gây nợ xấu gia tăng, gây tổn thất cho chính ngân hàng và nền kinh tế.
- Mở rộng tín dụng phải đảm bảo năng lực quản trị điều hành