Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TICH CỰC Ở MÔN VẬT LÝ THCS”
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh đề tài
Đầu thế kỷ XXI, nền giáo dục của loài người có những bước tiến lớn với nhiều
thành tựu mọi mặt. Hầu hết các quốc gia nhận thức sự cần thiết và cấp bách phải
đầu tư cho giáo dục. Quốc gia nào không đầu tư cho giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu
nghiêm trọng trong tương lai. Luật giáo dục 2005 của nước ta đã khẳng định:
“ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài” (điều 9).
Việt Nam đang trên đà hội nhập khu vực và quốc tế đầy khởi sắc, thu nhập xã
hội đang tăng lên, nhất thiết phải có những con người toàn diện. Để đạt được mục
tiêu của giáo dục, đòi hỏi người dạy và người học phải “đổi mới phương pháp”.
II. Lí do chọn đề tài
-Mục tiêu đào tạo, nghị quyết nhấn mạnh là đào tạo ra những con người lao
động, tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt
ra, tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống.
-Vật lý học là một trong những môn khoa học về tự nhiên, nhiệm vụ chủ yếu
của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìm nguyên nhân, khám phá ra các định
luật vật lý phục vụ lợi ích của con người.
-Vật lý là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật. Những thành tựu của vật lý và kỹ
thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt.
-Trong đổi mới phương pháp giáo dục, để có hiệu quả thì người GV phải
thường xuyên nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu tiên tiến, những kinh nghiệm
và phương pháp dạy học theo hướng đổi mới.
Với những lý do cơ bản vừa nêu, chúng ta thấy rằng cần phải áp dụng:
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
2. Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của đất nước hiện nay: phải đào
tạo ra thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ đất nước, có trình độ văn hóa cơ
bản, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, những con người có trí tuệ và
năng lực, sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt.
Từ nhiệm vụ dạy học cơ bản của nhà trường phổ thông là:
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
+ Trang bị cho HS những tri thức khoa học cơ bản, tinh giản, hiện đại và hệ
thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực, một môn khoa học,
+ Trang bị cho HS phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu khoa học.
Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ sáng tạo ở HS.
+ Hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp của người lao động, của người Việt Nam.
Một số phương pháp dạy học tích cực
- Một số không ít GV đổi mới phương pháp dạy học còn rất chậm, nó tùy thuộc
vào năng lực, kỹ năng của mỗi người.
- Cũng không ít GV chưa thật sự đầu tư, nghiên cứu để tìm một phương pháp
dạy học phù hợp ở các bài môn vật lý THCS.
Về học sinh:
- Số HS tích cực tham gia xây dựng bài chỉ là số HS khá giỏi nhưng tỉ lệ HS khá
giỏi ở mỗi lớp khoảng 20% - 30%.
- Phần đông HS đại trà có thói quen học tập thụ động.
III. Một số biện pháp thực hiện
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp
thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực
đạt tới mục đích dạy học. Phương pháp dạy học phải phù hợp với người học, phù
hợp với đặc điểm nhận thức và khả năng của họ.
Trong xu thế đổi mới của lý luận dạy học, người ta rất chú trọng đến đổi mới
phương pháp dạy học. Vậy đổi mới phương pháp dạy học là gì?
Đổi mới phương pháp dạy học là đưa phương pháp dạy học mới vào nhà trường
trên cơ sở phát huy tính tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao
hiệu quả giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói chung.
Như vậy, muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy, nhưng có khi thói
quen học tập của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy. Có trường hợp HS đòi
hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng GV chưa đáp ứng được. Nhưng cũng có
trường hợp GV hăng hái áp dụng phương pháp tích cực nhưng thất bại vì HS chưa
thích ứng, vẫn quen với phương pháp học thụ động. Trong đổi mới phương pháp,
phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp của hoạt động dạy với hoạt động
học thì mới thành công.
Từ những năm đổi mới phương pháp dạy học đến nay, tôi luôn đầu tư, nghiên
cứu và áp dụng các phương pháp tích cực trong dạy học. Sau đây tôi xin giới thiệu
Các nhóm nhận dụng cụ và bảng thí nghiệm để ghi kết quả.
HS: Đại diện 2 nhóm lên trình bày thí nghiệm 2.
Ý kiến của các nhóm khác, nếu có ý kiến thắc mắc của nhóm khác, Gv để đại
diện nhóm giải đáp thắc mắc của bạn.
GV: Sau khi nhận xét, cho HS chọn phương án của nhóm nào?
-Thí nghiệm 3 (tiến trình giống thí nghiệm 2)
Thông thường, HS nêu điều kiện của thí nghiệm thế này:
-Thí nghiệm 2: là diện tích mặt thoáng và nhiệt độ của chất lỏng như nhau thì
đều hiểu là diện tích mặt thoáng và nhiệt độ của chất lỏng ở 2 đĩa bằng nhau, không
có vấn đề gì.
- Thí nghiệm 3: là gió và nhiệt độ của chất lỏng như nhau. Với yếu tố nhiệt độ
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
thì như thí nghiệm 2, còn yếu tố gió như nhau: nếu có HS thắc mắc là “không cần
điều kiện gió như nhau” GV nên cho đại diện nhóm giải đáp thắc mắc của bạn,
nhưng GV có thể gợi ý.
GV: Gió của 2 đĩa khác nhau vẫn được kia mà?
Đại diện nhóm: không được
GV: Gió như nhau hoặc không có gió được không?
Đại diện nhóm: Gió 2 đĩa như nhau hoặc không cần gió vẫn được
GV: gió như nhau có nghĩa là gió trên mặt 2 đĩa cồn như nhau, có hoặc không.
Vậy ở bài dạy này, tôi đã tổ chức được sự trao đổi, kể cả tranh luận, giữa thầy
và cả lớp, giữa HS và HS, thông qua đó mà đạt được mục đích dạy học.
2. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
kéo vật lên theo phương thẳng đứng trong 2 trường hợp: dùng 1 dây và dùng 2 dây
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề: Cách tiến hành thí nghiệm, dụng cụ thí
nghiệm và các bước tiến hành
- Thực hiện kế hoạch.
c. Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá: là cho HS trả lời C1: Hãy so sánh lực kéo
vậtlên với trọng lượng của vật.
- Phát biểu kết luận.
Phương pháp dạy học này có thể áp dụng ở nhiều bài học khác như ví dụ điển
hình tôi vừa nêu ở trên. Vì phương pháp dạy học nêu vấn đề có nhiều ưu điểm, nó
phát huy được tính tích cực, chủ động của HS, phát triển tư duy sáng tạo, hình
thành khả năng tự học, tự nghiên cứu cho Hs khi phải giải quyết những vấn đề.
Giúp HS học được những điều cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp sau này.
Thực hiện dạy học nêu và giải quyết vấn đề là việc làm khó, nó đòi hỏi sự chuẩn
bị công phu và cố gắng không ngừng của GV. Vì thế, mỗi GV, tùy điều kiện của
mình có thể áp dụng các mức độ dạy học nêu vấn đề cho phù hợp.
3. Phương pháp thảo luận
Để thực hiện phương pháp thảo luận GV cần có một số kỹ năng:
a.Lựa chọn vấn đề
- Chuẩn bị trước vấn đề.
- Đặt vấn đề rõ ràng, ngắn gọn, súc tích, chỉ một vấn đề.
- Nêu vấn đề thiết thực mà HS mong muốn được biết.
- Nêu vấn đề mang tính thách thức, kích thích tư duy HS
b.Tổ chức thảo luận
-Làm việc chung cả lớp.
7
Sáng kiến kinh nghiệm
cho nên mực nước cho biết thể tích tổng cộng của cả nước và vật.
GV: Từ sự phân tích trên em hãy suy ra những động tác phải làm để có thể dùng
bình chia độ mà đo được thể tích vật không thấm nước.
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
HS: Thảo luận nhóm rồi trình bày chung cho cả lớp nghe và thảo luận.
Nếu HS chưa nghĩ ra thì GV gợi ý thêm: Làm thế nào đo được thể tích của riêng
phần nước trong bình có vật?
HS: Lấy vật ra. Từ đó HS có thể đưa ra 2 cách đo khác nhau.
Cách 1
- Bỏ vật vào bình chia độ.
- Đổ nước vào bình cho đến khi ngập vật. Đo thể tích của nước và vật: V1.
- Lấy vật ra. Đo thể tích của nước còn lại trong bình: V2
- Tính thể tích của vật: V = V1 – V2
GV: Trình tự cách 1 có gì khó khăn, bất lợi, khắc phục thế nào?
HS: Thảo luận nêu: Lấy vật ra khó, một ít nước dính vào vật.
GV: Làm thế nào để tránh phải lấy vật ra khỏi bình? HS: Đưa ra cách 2
Cách 2
- Đổ nước vào bình có thể tích ước lượng lớn hơn thể tích vật. Đo thể tích nước:V1.
- Bỏ vật chìm trong nước. Đo thể tích tổng cộng: V2.
- Tính thể tích vật: V = V2 – V1
HS thảo luận: Làm theo cách 2 phải thêm động tác nào so với cách 1? Cách nào
thuận tiện hơn, dễ làm đúng hơn?
2.Đo bằng bình tràn
GV: cho HS thảo luận trước lớp. Rút ra kết luận về cách đo thể tích của vật rắn
không thấm nước? Trả lời C3
4. Phương pháp dạy học bằng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp nghiên cứu tình huống
thực, là cách thức đưa một phần của thực tế vào bài học. Phương pháp dạy học
bằng tình huống có những ưu, khuyết điểm sau:
Ưu điểm:
Lôi cuốn HS tham gia vào bài học.
Nâng cao các kỹ năng giải quyết vấn đề.
Áp dụng lý thuyết vào giải quyết các tình huống.
Giúp HS nhận thức được các vấn đề trong thực tiễn có thể được giải quyết
bằng nhiều biện pháp khác.
Nhược điểm:
Khó khăn đối với GV trong việc lựa chọn và xây dựng được những tình
huống phù hợp với bài học.
GV: lưu ý HS phân biệt tên gọi hai lực; trọng lượng của vật cần nâng F1 và lực
nâng vật F2.
2.Tìm hiểu xem đòn bẫy giúp con người làm việc dễ dàng hơn như thế nào?
GV: Ở trên ta đã dự đoán: Dùng đòn bẫy có thể chỉ cần một lực nhỏ để nâng
một vật có trọng lượng lớn. Ta làm thí nghiệm để xem dự đoán đúng không?
Bố trí thí nghiệm
-Trên hình 15.4 SGK: vẽ một đòn bẫy. Hãy chỉ ra điểm tựa của đòn bẫy và hai
lực tác dụng.
-HS: chỉ ra trên hình: Trục quay O; hai lực đặt ở O 1 và O2. Ở O1 đặt trọng lượng
vật; O2 đặt lực nâng của tay.
GV: Để nguyên vị trí đặt trọng lượng O 1, thay đổi vị trí đặt lực nâng O2
. Thực hiện đo F2 ở các vị trí O2 khác nhau. Điền kết quả đo vào bảng.
-HS: Thực hiện phép đo và ghi kết quả vào bảng số liệu.
GV: Phân tích kết quả đo, tìm ra cách đặt lực ở vị trí nào thì có lợi hơn?
-HS thảo luận nhóm rút ra kết luận: khi làm việc với đòn bẫy: Nếu OO2 > OO1
11
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
thì F2 < F1. Hoàn chỉnh câu C3 xem như kết luận.
3. Vận dụng:
GV: Yêu cầu HS làm việc cá nhân C4, C5, C6. Trả lời rồi thảo luận chung.
GV: Chú ý: Trong các bài tập vận dụng, đòn bẫy không phải chỉ dùng để nâng
vật nặng lên như đặt ra ở đầu bài. GV phân tích cho HS thấy, tùy theo mục đích sử
dụng mà lực tác dụng có thể nhỏ hơn lực cản. Nêu ra câu hỏi phụ: Trong trường
hợp cái mái chèo và cái kéo cắt giấy (hình 15.5 SGK) ta có được lợi về lực không?
- Phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho HS.
- Bồi dưỡng được phương pháp tự học.
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
Về phía người học (học sinh)
- Có sự chú ý trong học tập. Hăng hái tham gia vào hoạt động học tập.
- Luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Ghi nhớ tốt những điều đã học.
- Hiểu bài – trình bày lại bài theo ngôn ngữ của riêng mình.
- Đọc thêm, làm thêm bài tập ngoài sự qui đĩnh của GV.
- Tốc độ học tập nhanh. Hứng thú trong học tập.
- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó và sáng tạo trong học tập.
Hiệu quả của đề tài sẽ đưa đến chất lượng giảng dạy trong những năm gần đây
như sau:
- Năm học 2008 – 2009: Giỏi: 25,3%; Khá: 38,9%; Tb: 32,3%; Yếu: 3,5%
- Năm học 2009 – 2010: Giỏi: 33,8%; Khá: 36,7%; Tb: 26,2%; Yếu: 3,3%
- Năm học 2010 – 2011: Giỏi:27,5%; Khá: 57,7%; Tb: 13,8%; Yếu: 1%
PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm
Qua những năm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý THCS,
bản thân rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:
- Tăng tính chủ động của HS trong học tập, cho HS thảo luận, đặt ra các câu
hỏi, các vấn đề để HS suy nghĩ và tự đi đến kết luận.
- Giảm nhồi nhét kiến thức, tăng cường vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Tăng cường công tác thực tế.
- Xây dựng cho HS phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức.
- Phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp của hoạt động dạy với hoạt
động học thì mới thành công.
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số phương pháp dạy học tích cực
MỤC LỤC
A.Phần mở đầu
Trang
I.Bối cảnh lịch sử
1
II.Lý do chọn đề tài
1
III.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1
IV.Mục đích nghiên cứu
2
V.Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
2
IV.Kiến nghị
13
Mục lục
15