Tăng cường giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nông thôn mới - Pdf 45

MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài luận văn.....................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn..............................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn......................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.....................................................5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn........................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn..............................................................5
7. Kết cấu của luận văn..............................................................................................5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN...........................................................................................................7
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN........................7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nông thôn.................................................7
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển nông thôn..................................12
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển nông thôn.....................................................17
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN............................20
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển nông thôn................20
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn......................................22
1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước về phát triển nông thôn....................................30
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.............................................................................................33
1.3.1. Điều kiện tự nhiên.........................................................................................33
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội..............................................................................34
1.3.3. Điều kiện về nguồn nhân lực.........................................................................34
1.3.4. Điều kiện về xu thế hội nhập.........................................................................35
Tiểu kết chương 1....................................................................................................37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG,.......................................................................37
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH XIÊNG KHOẢNG......................................37
2.2. THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở
TỈNH XIÊNG KHOẢNG........................................................................................38
2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng

thì việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải diễn ra có những đặc
điểm đặc thù. Với các chính sách mới trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới, thi hành Luật Đất đai, phát triển kinh tế trang trại, … tạo ra nền tảng cho
kinh tế nông nghiệp và nông thôn có nhiều chuyển biến lớn, góp phần làm cho
kinh tế đất nước dần đi vào ổn định. Trên thực thế, phát triển nông nghiệp có
liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có
đạt được sự tăng trưởng cao cũng chưa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế
nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng
nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công được.
Nước là quốc gia với sản xuất nông nghiệp chủ yếu, diện tích khoảng
26 nghìn km2, trong đó nông thôn chiếm phần lớn. Do đó, Đảng nhân dân
cách mạng đã đặt vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định quá trình
phát triển. Một khi chưa tạo ra được chuyển biến của khu vực kinh tế này thì
không thể có được sự phát triển bền vững. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà
nước đã chủ trương phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các
vùng chuyên canh, cơ cấu cây trồng hợp lý, đa dạng hóa các sản phẩm hàng
hóa về số lượng và tốt về chất lượng. Hiện nay, nông thôn có nhiều thay đổi,

1


chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống của nhân dân ở nông thôn được nâng
cao... Tuy nhiên, nông thôn vẫn trong tình trạng tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ
lẻ, cuộc sống còn lạc hậu, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng
gia tăng, tình trạng phát triển nông thôn thiếu quy hoạch, môi trường ô nhiễm,
hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hâu, yếu kém,... đang là những vấn đề đặt ra đối
với sự phát triển của khu vực nông thôn ở giai đoạn hiện nay.

Phan Đại Đoàn: “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số

vấn đề và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản 1996. Đề cập
vấn đề nông thôn nhưng tác giả tiếp cận theo góc độ quản lý xã hội ở nông
thôn, trên cơ sở các vấn đề về xã hội ở nông thôn, tác giả luận văn cũng đã đề
xuất một số giải pháp để quản lý.
-

Phạm Kim Giao:“Quản lý nhà nước về nông thôn”, Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia, xuất bản năm 2008. Cũng đề cập vấn đề quản lý nông thôn nhưng
tác giả đi theo hướng quản lý nhà nước.
-

Nguyễn Văn Thụ: “Biến đổi xã hội nông thôn dưới tác động đô thị hóa

và tích tụ ruộng đất”, Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 2009. Tác giả đánh giá sự
tác động của đô thị hóa đối với vấn đề xã hội ở nông thôn. Như vậy cũng đề
cập vấn đề nông thôn, tác giả tiếp cận theo hướng những thay đổi về xã hội ở
nông thôn do đô thị hóa.
-

Đỗ Đức Viên: “Quy hoạch xây dựng và phát triển điểm dân cư nông

thôn”, Nxb Xây dựng, năm 1997. Nhằm xây dựng nông thôn mới, tác giả đề
cập vấn đề quy hoạch việc xây dựng và phát triển các điểm dân cư.
-

Luận văn của Phôm Ma với đề tài “Nền kinh tế hàng hóa nông nghiệp


+ Làm rõ hệ thống lý luận về quản lý nhà nước về phát triển nông thôn.
+ Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh
Xiêng Khoảng.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước
về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Là toàn bộ nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển
nông thôn trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng giai đoạn 2011 - 2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
nghiên cứu vấn đề.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích đánh giá,
phương pháp so sánh số liệu, phương pháp chuyên gia để làm rõ các vấn đề
cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận về
quản lý nhà nước trong công tác phát triển nông thôn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho
việc giảng dạy, nghiên cứu trong các cơ sở giảng dạy về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực phát triển nông thôn ở các cơ sở giảng dạy công chức .
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn cung cấp cho các nhà

phong phú, đa dạng.
Nông thôn là một khái niệm của xã hội học, nó là một tổng thể, một hệ
thống xã hội trên một địa bàn tự nhiên nhất định. Nông thôn không chỉ là nơi
sản xuất nông nghiệp với những điều kiện tự nhiên của nó, mà còn là khu vực
dân cư, nơi có các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các điều kiện sinh
hoạt, phong tục tập quán, tâm lý xã hội.
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Nông thôn là khu vực
dân cư tập chung chủ yếu làm nghề nông” [42, 652].
Theo cuốn sách nghiên cứu xã hội học của Chung Á và Nguyễn Đình
Tấn: “Nông thôn là một khu vực lãnh thổ cư dân chủ yếu của những người
làm nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp
và dân cư sống ở nông thôn” [28, 182].
C.Mác và Ăng Ghen cho rằng: “Sự phân công lớn nhất của lao động vật
chất và tinh thần là sự tách rời thành thị và nông thôn. Sự đối lập giữa thành

7


thị và nông thôn xuất hiện với bước quá độ từ thời đại dã man lên thời đại văn
minh” [29, 53].
Thật ra, nông thôn không phải là một phạm trù vĩnh cửu, nó chỉ xuất
hiện khi xã hội chia thành hai địa bàn cư trú dân cư gắn liền với sự phân công
lao động lớn nhất của xã hội, mà đặc điểm của nó có số lượng dân cư ít, nền
kinh tế lạc hậu, mức sống của nhân dân tương đối thấp. Quy luật chi phối sự
phát triển của xã hội nông thôn nói chung đã được hình thành trong những
năm gần đây. Từ thế kỷ XIX, nhiều quan sát có hệ thống về nguồn gốc lịch sử
và sự chuyển đổi của xã hội nông thôn đã được chú trọng, đời sống xã hội ở
nông thôn dịch chuyển và phát triển trong môi trường nông thôn, nó có những
đặc điểm riêng biệt so với đời sống xã hội đô thị. Một sự phác họa cơ bản
những điểm chính của sự tương phản giữa môi trường nông thôn và đô thị sẽ


Trong cùng một đất nước và ở một giai đoạn phát triển như nhau mật

độ thường thấp hơn so với cộng đồng đô thị;
-

So với dân cư đô thị, những cộng đồng ở nông thôn thuần nhất hơn về

các đặc điểm chủng tộc và tâm lý;
-

Sự khác biệt và phân tầng xã hội ở nông thôn ít hơn ở đô thị;

-

Mức độ tương tác đối với mỗi người thấp hơn, phạm vi tác động hẹp

hơn, có sự ưu trội của những mối quan hệ bền chắc tương đối và tính cá biệt.
Có mối quan hệ tương đối đơn giản và chân thành, tự nhiên;
-

Người nông thôn sống nghèo khổ, thiếu thốn về điều kiện vật chất,

nhưng họ lại giàu về mặt tình cảm, bao dung, đạo đức, nhân ái.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của khu vực nông thôn, những đặc
điểm này dựa trên sự nghiên cứu, tìm hiểu thực tế ở một số nơi trong cả nước
cũng như ở nông thôn một số nước lân cận như Việt Nam, Thái Lan, Trung
Quốc,… Tuy nhiên, những đặc điểm này chỉ mang tính tương đối, bởi khu
vực nông thôn hiện nay đang có rất nhiều biến động và có sự thay đổi từng
ngày theo hướng không ngừng phát triển, đi lên trong quá trình công nghiệp

người dân được ăn no, mặc ấm, các điều kiện cơ bản về vật chất được bảo
đảm thì khi đó mới có động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực khác.
Hai là, nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động cho sự phát triển của
công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa một mặt tạo ra
nhu cầu rất lớn về lao động, mặt khác lực lượng lao động được giải phóng

10


trong nông nghiệp ngày càng nhiều. Số lao động được giải phóng này lại
chuyển dịch vào công nghiệp và thành phố. Đây là xu hướng có tính quy luật
của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thị
trường lao động trong nông nghiệp là rất lớn, đặc biệt là lại tập trung phần lớn
ở nông thôn, do đó đây là nguồn cung cấp lao động vô cùng phong phú cho
các ngành công nghiệp và các khu đô thị lớn nếu biết tổ chức khai thác và đào
tạo hợp lý.
Ba là, những nước có lợi thế về đất đai, thời tiết, khí hậu như ở nước
thì nông nghiệp giữ vị trí khá quan trọng trong việc sản xuất và xuất khẩu sản
phẩm trên thị trường thế giới, mang lại nguồn ngoại tệ cùng để tích lũy phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo tích lũy ban đầu
đầu tư trở lại cho phát triển kinh tế xã hội.
Bốn là, nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của
công nghiệp. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao
gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, chủ yếu dựa vào thị trường trong
nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu
trong nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản xuất ở khu vực
công nghiệp. Vì vậy, phát triển mạnh nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân
cư nông thôn, từ đó tăng sức mua của khu vực nông thôn là điều kiện hết sức
quan trọng làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm công nghiệp, tạo thuận lợi
cho công nghiệp phát triển nhanh, ổn định và bền vững.

trọng đối với đời sống xã hội và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển nông thôn
1.1.2.1. Khái niệm phát triển nông thôn
Từ khá sớm nhiều nước trên thế giới đã xác định tầm quan trọng của
kinh tế nông thôn bao gồm cả hoạt động nông nghiệp và các hoạt động phi

12


nông nghiệp rất đa dạng tại nông thôn. Nhưng hoạt động phi nông nghiệp này
từ các ngành, nghề thủ công nghiệp, công nghiệp vừa và nhỏ đến các loại hình
dịch vụ kinh tế, khoa học công nghệ, công nghiệp và văn hóa xã hội, cung ứng
đầu vào cho nông nghiệp, giúp nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả sản
xuất nông nghiệp, chế biến nâng cao giá trị của nông sản, tìm kiếm và mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp. Kinh tế nông thôn tạo
thêm việc làm ngay tại địa bàn dân cư, nâng cao đời sống của nông dân và tạo
nên sự giàu có và thay đổi bộ mặt của nông thôn nhờ sự gắn kết giữa nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, gắn kết giữa nông thôn với thành thị, tạo ra
quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, không dồn dân vào thành phố, thực hiện
phân công lao động mới, phân bố lại sản xuất, quy hoạch kinh tế, xã hội, tổ
chức đời sống dân chủ, công bằng văn minh.
Sự phát triển nông thôn còn bao hàm khía cạnh chính trị - kinh tế, văn
hóa - xã hội, trật tự an ninh. Việc giải quyết đồng bộ các vấn đề trên chính là
đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hiện đại của cộng đồng và mỗi cá nhân
trong xu thế phát triển hiện nay. Từ mấy thập kỷ qua, các quốc gia tập chung
vào hợp tác và cạnh tranh kinh tế, khi vấn đề trung tâm của loài người là phát
triển. Khi xóa đói giảm nghèo được đặt thành một trong những ưu tiên hàng
đầu của các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế, ở khắp nơi người ta chuyển
từ chiến lược nông nghiệp sang chiến lược phát triển nông thôn toàn diện.
Điều đó cho thấy nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thuần túy thì nông thôn không

có sẵn (thường chiếm từ 50% lao động trở lên), trồng trọt và chăn nuôi là hai
ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực
phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình.
Thứ ba, chính trị ở nông thôn: ngoài hệ thống chính quyền huyện, bản
do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức

14


sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các
thành viên bằng tục lệ hay quy ước.
Thứ tư, văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ,
hội… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống,
kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá nông thôn đã
bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng
chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển.
1.1.2.3. Vai trò của phát triển nông thôn
Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho
tiêu dùng của cả xã hội; là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu
vực thành thị hiện đại. Nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai,
khoáng sản, động thực vật, rừng, biển nên sự phát triển bền vững nông thôn
có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác, sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn đảm bảo cho sự
phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Việc phát triển nông thôn có
những vai trò sau đây:
Một là, phát triển nông thôn đảm bảo cho quá trình sản xuất, cung cấp
lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu gia dụng khác cho đời sống con
người. Nông nghiệp luôn luôn đóng một vai trò quan trọng vì nó là ngành tạo
ra lương thực, thực phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu hàng đầu của con người là
nhu cầu ăn uống; Nông nghiệp là bộ phận cấu thành chủ yếu của kinh tế nông

thái, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch và phòng chống, ngăn ngừa thiên tai.
Nông thôn bao gồm những khu vực rộng lớn, tài nguyên của đất nước chiếm
tuyệt đại bộ phận như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển, nguồn

16


nước... Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp lý các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng.
Năm là, góp phần ổn định chính trị xã hội, an ninh trật tự được giữ
vững. Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm cho các hoạt động ở nông thôn trở
nên sôi động hơn. Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng
hướng có hiệu quả. Công nghiệp gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp tại chỗ. Vấn
đề đô thị hoá sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị hoá nông thôn. Vấn
đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều trên địa bàn
nông thôn. Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời sống vật chất
và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế
và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém
phát triển.
Sáu là, sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự
phát triển văn hoá ở nông thôn. Nông thôn trước đây vốn là vùng có kinh tế,
văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục. Nhưng, đây
cũng là nơi có truyền thống văn hóa cộng đồng còn sâu đậm... Vì thế, phát
triển kinh tế nông thôn sẽ tạo điều kiện để vừa giữ gìn, bảo tồn và phát huy
truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp, vừa bài trừ những văn hóa lạc hậu để tổ
chức tốt hơn đời sống văn hóa và tinh thần cho người dân khu vực nông thôn.
Như vậy việc phát triển nông thôn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy,
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, ở nông thôn nói riêng.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển nông thôn
Muốn đánh giá sự phát triển của một vùng hay một quốc gia, người ta

Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh. Đường

mương dẫn nước phải được kiên cố hoá.
-

Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện. Tỷ lệ hộ sử

dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn.
Hai là, tiêu chí về cơ sở vật chất, bao gồm các nội dung:
-

Tỷ lệ trường học các cấp: mần non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở

có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia.
-

Nhà văn hoá và khu thể thao cụm bản đáp ứng được quy định của Bộ

18


Văn hóa
-

Mỗi cụm bản phải có ít nhất 01 chợ. Chợ được xây dựng theo quy định

của Bộ Xây dựng.
-

Mỗi cụm bản phải có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, kết nối


50%.
-

Y tế cụm bản đạt chuẩn Bộ Y tế.

-

Huyện có từ 70% số bản trở lên đạt tiêu chuẩn bản văn hoá theo quy

định của Bộ Văn hóa.
-

Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia.
Năm là, tiêu chí về môi trường, gồm các nội dung:

-

Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường.

-

Không có hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát

triển môi trường xanh - sạch - đẹp.
-

Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch.

19

phòng, ban chuyên môn Ủy ban nhân dân. Ví dụ: Chính phủ thống nhất quản
lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu chương trình, nội dung kế hoạch
giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử
và hệ thống văn bằng, học hàm, học vị. các hình thức giáo dục khác, thực hiện
phổ cấp giáo dục tiểu học, xóa nạn mù chữ,…
-

Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng:

20


+ Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền bằng bộ
máy nhà nước (công quyền) để điều chỉnh các quá trình - xã hội và hành vi
của công nhân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội
nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những
mục tiêu đã định.
+ Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà
nước;
+ Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội và hành vi hoạt động
của con người;
+ Quản lý nhà nước (quản lý hành chính nhà nước) là hoạt động hành
chính của các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để
quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp;
Qua đó, có thể hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa bao quát là nói chức
năng tổng thể bộ máy nhà nước với tư các là một tổ chức quyền lực và mang
tính pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn xã hội bằng các hoạt
động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mặc dù có nhiều giải thich khác nhau
về quản lý Nhà nước nhưng thực chất về nội dung chúng đều có những điểm

nước đã định hướng mà mục tiêu chung nhất cho mọi thời kỳ là không ngừng
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho người dân nông thôn, giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn
Nội dung quản lý nhà nước (QLNN) được cụ thể hóa thông qua các
mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quan hành chính
nhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn hệ thống hành chính nhà nước. Các
cơ quan nhà nước với quyền hạn, thẩm quyền xác định với cơ cấu tổ chức và

22


đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp trong
hoạt động trên các lĩnh vực và các mặt sau đây:
1.2.2.1. Ban hành văn bản quản lý nhà nước về phát triển nông thôn
Văn bản QLNN là hệ thống các văn bản pháp lý được ban hành theo
trình tự, thủ tục chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật. Hiện nay công tác
ban hành văn bản được các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị có chức
năng quản lý nhà nước thực hiện, phối hợp chặt chẽ, đảm bảo tính khoa học,
hợp lý và hiệu quả. Ở nước vấn đề ban hành văn bản được tiến hành theo
Luật ban hành văn bản, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương
thực hiện theo phân cấp và theo lĩnh vực quản lý. Việc quản lý nhà nước về
phát triển nông thôn là tổng hợp các loại văn bản khác nhau, nhưng nhìn
chung, cơ bản có hai loại hình văn bản như sau:
Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của quá trình xây
dựng pháp luật, một hình thức lãnh đạo của Nhà nước với xã hội nhằm biến ý
chí của nhân dân thành luật. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ
quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức,
trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật hoặc quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status