Nghiên cứu giải pháp quản lý nhà nước trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên - Pdf 14


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
––––––––––––––––––––––––– ĐÀO MINH SƠN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
TRONG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
- năm 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

Tác giả luận văn
ĐÀO MINH SƠN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục sơ đồ viii
1
1. Sự cần thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5. Cấu trúc, nội dung của luận văn 4
Chƣơng 1:
TRONG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 5
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.1. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 8
1.1.3. Sự cần thiết hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 9

2.2. Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 43
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu 43
2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu 44
2.2.4. Phương pháp chuyên gia 44
Chƣơng 3:
45
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 45
3.1.2. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
3.1.3. Đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển của kinh tế của tỉnh
Thái Nguyên 51
3.1.4. Những khó khăn, tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 53
3.1.4.1. Về vốn 53
3.1.4.2. Về cơ chế cấp tín dụng 54
3.1.4.3. Về cơ chế bảo đảm tiền vay 54
3.1.4.4. Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất 55
3.1.4.5. Về vấn đề đất đai và mặt bằng sản xuất 55
3.1.4.6. Về khả năng cạnh tranh, trình độ của đội ngũ quản lý và lực lượng lao động 56
3.1.4.7. Nguồn thông tin 57
3.2. Thực trạng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên 57
3.2.1. Hỗ trợ tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa 57
3.2.2. Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất và địa điểm kinh doanh cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa 63
3.2.3. Hỗ trợ công tác đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật 66
3.2.4. Hỗ trợ vận tải và hỗ trợ vận tải hàng hóa xuất khẩu 66

4.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu trong đổi mới quản lý nhà nước trong phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên 88
4.1.1. Chủ trương, chính sách của Tỉnh trong việc phát triển DNNVV 88
nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 89
4.2.1. Cơ chế, chính sách ưu đãi từ phía Nhà nước 89
4.2.2. Cơ chế, chính sách ưu đãi từ phía tỉnh Thái Nguyên 90
4.2.2.1. Hỗ trợ về nguồn vốn 90
4.2.2.2. Mở cửa các kênh thông tin 92
4.2.2.3. Hỗ trợ chính sách thuế 93
4.2.2.4. Hỗ trợ về đất đai, địa điểm, đầu tư cơ sở hạ tầng 93
4.2.2.5. Tăng cường xuất khẩu của các DN vừa và nhỏ 94
4.2. Kiến nghị 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Ban QLKKT Ban Quản lý các khu kinh tế
Bộ KHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
CIEM Viện Quản lý kinh tế Trung ương
CNH-HĐN Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
HKD Hộ kinh doanh
HTX Hợp tác xã


Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kim cương của M. Porter trong phân tích và đánh giá lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp 23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1

1. Sự cần thiết của đề tài
Từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000), tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thành lập doanh nghiệp, đã dẫn đến số lượng doanh nghiệp đăng ký thành
lập mới hàng năm tăng lên nhanh chóng, góp phần tăng thêm năng lực sản xuất, đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm thu hút nhiều lao động của địa
phương; Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp mà trong đó chủ yếu là các
DNNVV đã được Chính phủ thừa nhận là một động lực của tăng trưởng kinh tế và
được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển. Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính phủ coi “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng
trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước” (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày
30/6/2009 và được chỉ đạo thông qua Nghị quyết số 22/NQ-CP, ngày 05/5/2010
của Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày
30/6/ 2009). Tháng 3/2002, hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương
Khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 14 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết quan trọng này
đã khẳng định khu vực kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
quốc dân và mọi thành phần kinh tế phải được đối xử bình đẳng.
Quán triệt và thực hiện chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và

giảm; tiến độ triển khai các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh chậm, kéo
dài, thủ tục hành chính và quản lý của nhà nước còn chưa đồng bộ đã ảnh hưởng
đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu đề ra
nói chung và tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp nói riêng.
Nhận thức được tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ các DNNVV của
nhà nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh trong thời
gian tới, phù hợp với chương trình học tập, tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải
pháp quản lý nhà nước trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái
Nguyên” nhằm đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn
2009-2012 để tổng kết những mặt đã làm tốt, những mặt còn hạn chế, rút ra những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
bài học kinh nghiệm, và đề xuất ra một số giải pháp chính sách nhằm vận dụng vào
trong việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện các chính sách quản lý phát
triển DNNVV tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới đạt hiệu quả cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước trong phát triển
nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định công tác quản lý nhà nước trong phát triển DNNVV tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2009-2012
+ Đánh giá về những mặt được và những mặt còn tồn tại của các chính sách
quản lý nhà nước trong phát triển DNNVV tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2012.
+ Đưa ra khuyến nghị về các chính sách quản lý nhà nước trong phát triển
DNNVV tỉnh Thái Nguyên thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu, đánh giá một số chính sách

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG PHÁT
TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh
doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp:
siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Như vậy, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn những điểm khác
biệt nhất định giữa các nước nhưng có thể hiểu doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế
được thành lập hợp pháp, có tên riêng, có địa điểm sản xuất kinh doanh ổn định,
hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận. Để thuận tiện cho
việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường sử dụng tiêu thức
quy mô để phân loại doanh nghiệp. Theo tiêu thức này các doanh nghiệp được chia
thành ba loại: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên,
do có nhiều đặc điểm giống nhau giữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ nên
để đơn giản hoá, nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thường gộp chung
hai loại hình doanh nghiệp này thành doanh nghiệp nhỏ và vừa (tại Việt Nam, các
văn bản chính thức của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thống nhất cách gọi là
doanh nghiệp nhỏ và vừa).
Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để xác định DNNVV là vốn (hoặc tài
sản), lao động và doanh thu. Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ theo điều kiện, trình độ
phát triển cũng như các chính sách đối với DNNVV của mình mà có thể chỉ dùng
một, hai hoặc cả ba chỉ tiêu trên. Ngoài ra, tuỳ từng lĩnh vực kinh doanh mà một số
nước còn có những quy định khác nhau cho các tiêu chí. Chúng ta có thể tham khảo
tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nước trong Bảng 1.1.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


<20 triệu CAD
(19.828.000U SD)
Indonesia
< 100
< 0, 6 tỷ rupi
(63.906 U SD)
< 2 tỷ rupi
(213.020 U SD)
Mexico
< 250
< 7 triệu USD

Thái Lan
< 100
< 20 triệu Baht
(654.599 U SD)

Hàn Quốc
< 300 (ngành chế tạo,
khai khoáng)
< 200 (ngành xây dựng)
< 20 (ngành dịch vụ) Nguồn: [44]
DNNVV ở Việt Nam là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí

Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công
nghiệp và
xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống

1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động
sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất
và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do
sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp,
công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, Vì vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa
có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật - sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế -
xã hội, khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau:
DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát
triển. Có thể nhận thấy DNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính dễ khởi sự. Luật Doanh nghiệp hiện nay không qui định mức
vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư tối thiểu, số lao động tối thiểu bắt buộc khi đăng ký
doanh nghiệp. Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng
các DNNVV đăng ký mới gia tăng nhanh chóng. Trong một chừng mực nhất định,
khi việc thực thi các qui định về phá sản và giải thể doanh nghiệp chưa thuận lợi
nên một số DNNVV thay vì rút lui khỏi thị trường một cách chính thức thì chọn
phương án đơn giản là ngừng hoạt động. Cũng chính vì lý do đó nên việc thống kê
số lượng các DNNVV đang hoạt động trên thị trường gặp nhiều khó khăn và khó
đưa ra con số chính xác.
Thứ hai là tính linh hoạt cao. Đây là đặc điểm gắn liền với các DNNVV. Do
qui mô không lớn nên đầu tư của các DNNVV vào các dây chuyền và máy móc
công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận
thấy một ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức các
DNNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn. Một số
DNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến hành các
biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng qui mô để trở thành các doanh nghiệp lớn. Tuy
nhiên nhiều chủ DNNVV bằng lòng với qui mô của doanh nghiệp mình và thể hiện
tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí trên thương trường. Nếu như các doanh
nghiệp lớn chuyên kinh doanh một số sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định thì khi gặp
suy thoái hoặc các tác động bất lợi từ bên ngoài thì sẽ rất khó xoay xở.

DNNVV đã đóng góp khoảng 12% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của cả nước.
Ngoài ra, DNNVV Việt Nam còn tham gia phân phối sản phẩm cho nhiều ngành
kinh tế, thu hút nhiều lao động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
nông lâm nghiệp,…Việc mở rộng và phát triển các DNNVV sẽ góp phần không nhỏ
trong việc làm tăng GDP.
Thứ hai, thu hút vốn và các nguồn lực sẵn có trong dân cư. Vốn đầu tư là
một yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và
phối hợp các yếu tố khác trong kinh doanh như lao động, công nghệ và quản lý …
để tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DN
đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy
động được. Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa
thực sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp
dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động được vốn
để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành
lập DN. Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để
phát triển kinh tế.
Thứ ba, giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn. Trong quá trình
kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn kinh doanh một cách hiệu
quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN lớn, cung cấp những bán thành phẩm
hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường
mà DN lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm của DN lớn. Bên cạnh đó,
khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng cung cấp số lượng các
sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế. Nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa,
các DNNVV có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những mặt hàng này
sang các mặt hàng khác, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân cư. Chính sự phát triển
đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và làm giảm bớt

Đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn và sử dụng nhiều lao động. Do đó,
DNNVV ở tất cả các nước có thể tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn người
lao động. Ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển, DNNVV là nơi tạo
ra nhiều việc làm nhất. Khi các DNNVV phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội tăng việc
làm, thu hút lao động và giảm tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần
giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư kể cả người thất
nghiệp, phụ nữ và người tàn tật. Với tính chất kinh doanh nhỏ, chi phí để tạo ra một
chỗ làm việc thấp, các DNNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp và ổn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn
của dân.
Thứ bảy, nâng cao thu nhập của dân cư góp phần xóa đói giảm nghèo, thực
hiện công bằng xã hội. Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của một nền
sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp. Thu nhập của dân cư nông thôn
chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông. Việc phát triển các DNNVV ở thành
thị cũng như ở nông thôn là một trong những biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh
thu nhập của các tầng lớp dân cư. Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động
ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhờ đó mà thu nhập của dân cư được đa
dạng hóa và nâng cao. Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức
sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách
về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế.
Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ góp phần
giúp phát triển các ngành sản xuất truyền thống ở địa phương.
Thứ tám, tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh. Ngoài các vai trò
như đã nói ở trên, các DNNVV còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng kinh
doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với cơ chế

Thực tế này cũng đúng đối với các DNNVV khi mà khả năng và điều kiện
tiếp cận các nguồn vốn trên thi trường tài chính, tín dụng của họ bị hạn chế và gặp
rất nhiều khó khăn như: Không đủ tài sản thế chấp; Không đủ độ tin cậy và rủi ro
cao; Các lô hàng và các món vay thường nhỏ lẻ, không thường xuyên, thủ tục ít chặt
chẽ nên các ngân hàng và các tổ chức tín dụng thường không muốn cho vay vì hiệu
quả cho vay thấp.
Mức lãi suất cho vay còn qua cao so với mức lợi nhuận có thể thu được từ
kinh doanh: Số lượng vốn được vay ít; Thời hạn được vay quá ngắn không phù hợp
với chu kỳ kinh doanh sản phẩm; Hình thức và pháp lý tín dụng nghèo nàn, đơn
điệu, hiệu quả pháp lý thấp…
Hai là, DNNVV thường khó khăn, lúng túng và chịu chi phí cao trong tác
nghiệp các nghiệp vụ kinh doanh cụ thể, đặc biệt là trong các khâu bảo quản, giao
nhận, và vận tải hàng hoá. Đặc điểm cơ bản của DNNVV là đội ngũ nhân lực yếu,
trình độ chuyên môn hóa thấp, thiếu các cán bộ nghiệp vụ giỏi, nhất là cán bộ có
nghiệp vụ về thị trường, đồng thời các cơ sở vật chất kỹ thuật của phần lớn các DN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

14
này là nghèo nàn lạc hậu, thiếu các trang thiết bị cần thiết như kho tàng, phương
tiện vận tải, phương tiện thông tin … nên khi thực hiện một lô hàng, đặc biệt các
loại hàng nông sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ khó bảo quản, rễ bị xuống cấp, gặp
rất nhiều khó khăn và lúng túng trong các khâu đóng gói, in mã hiệu, tập kết hàng
hóa, khai báo và làm thủ tục hải quan. Thời gian tác nghiệp các công đoạn này kéo
dài, chi phí cao, gây chậm trễ cho quá trình KD, thậm chí nhiều khi không bảo đảm
được thời gian giao hàng dễ bị người mua từ chối hàng hoặc giảm giá, gây nhiều
thiệt hại cho DN. Một hạn chế rất lớn xuất phát xuất phát từ đặc thù phổ biến của
các lô hàng mà DNNVV kinh doanh nhỏ lẻ và manh mún nên rất khó khăn trong
việc thuê phương tiện để vận chuyển và phải chịu giá cước cao. Ngoài cước phí cao
còn phải chịu rất nhiều loại lệ phí và chi phí khác làm cho giá thành hàng hóa bị đội

cung cấp DV trong nước còn kém phát triển … nên các DNNVV thường rất bị động
trong KD.
Năm là, hạn chế về nhân lực và lao động được đào tạo. Nguồn nhân lực là
một yếu tố nội lực quan trọng hàng đầu của mọi loại hình DN vì năng suất, chất
lượng lao động và hiệu quả của quá trình quản lý sẽ quyết định thành bại của DN
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thực tế thì DNNVV nơi tạo việc làm cho
những người lần đầu tiên (thường là những người chưa được đào tạo, chưa có nghề
gì) tham gia thị trường lao động. Họ được DNNVV nhận vào làm, được học nghề
để có thể đảm nhận công việc, nhưng khi có nghề rồi họ thường hướng tới những
nơi có triển vọng tốt hơn. DNNVV lại thường không có khả năng để tiếp nhận
những lao động lành nghề hay các chuyên gia đã được đào tạo. Tình trạng lao động
không được đào tạo và tay nghề thấp là phổ biến ở các DNNVV. Có thể nói rằng sự
hạn chế về nhân lực và lao động được đào tạo của DNNVV có thể dẫn đến những
hậu quả sau: Năng suất và chất lượng lao động kém; Chi phí lớn, giá thành cao; Khả
năng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ của thời đại vào sản xuất
kinh doanh hạn chế; Quá trình tác nghiệp các nghiệp vụ KD kéo dài, chậm trễ và
nhiều sai sót, chi phí rủi ro cao; Quá trình quản lý hiệu quả thấp dẫn đến hàng hóa
thiếu sức cạnh tranh; Thiếu khả năng cập nhật các nguồn thông tin về giá cả hàng
hóa, về khách hàng, bạn hàng và đối tác cạnh tranh trên thị trường; Hạn chế về khả
năng ứng xử và đối phó kịp thời với những biến động trên thị trường, với những
quy định và rào cản thương mại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status