Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác quản lý lao động nước ngoài trong các khu công nghiệp bắc ninh, giai đoạn 2016 2020 - Pdf 45

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

NGUYỄN BÌNH DƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP BẮC NINH GIAI
ĐOẠN 2016 - 2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNHTRỊ

HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP BẮC NINH
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Người thực hiện: NGUYỄN BÌNH DƯƠNG
Lớp: B14-15
Chức vụ: Phó Chánh Thanh tra
Đơn vị công tác: Ban quản lý các KCN Bắc Ninh

HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016


Ninh
Bộ Luật Lao động năm 2012
Doanh nghiệp

BLLĐ
DN
FDI
GKSK
GPLĐ
GTSXCN
KCN
LĐNN
LLTP
NNN
UBND

Tên tiếng Việt
Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc

Foreign Direct
Investment

Đầu tư nước ngoài
Giấy khám sức khỏe
Giấy phép lao động
Giá trị sản xuất công nghiệp
Khu công nghiệp
Lao động nước ngoài
Lý lịch tư pháp
Người nước ngoài

2. Kết luận.................................................................................................51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................54


1

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế,
những năm vừa qua hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lao động giữa
Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển.
Mỗi năm, Việt Nam đã đưa hàng chục nghàn lao động trong nước ra nước
ngoài làm việc, cùng với đó chúng ta cũng tiếp nhận số lượng đông đảo lao
động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam. Sự có mặt của lao động nước
ngoài tại Việt Nam là một thực tế mang tính tất yếu khách quan trong quá
trình hội nhập quốc tế.
Bắc Ninh nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay
Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh. Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quan trọng chạy qua,
nối liền tỉnh với các Trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc,
Việt Nam.Với vị trí địa lý thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế
Nội Bài (40 km), gần cảng nước sâu Cái Lân (90 km) 1, chính quyền tỉnh Bắc
Ninh đã xác định hình thành các Khu công nghiệp tập trung để phát triển công
nghiệp là mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh.
Tính đến hết năm 2015, Bắc Ninh có 15 khu công nghiệp tập trung
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổng diện tích đất quy hoạch 6.847 ha.
Trong đó có 09 KCN đi vào hoạt động, Ban quản lý các KCN đã cấp 899
Giấy chứng nhận đầu tư (trong nước là 334, FDI là 565) với tổng vốn đầu tư
đạt 12 tỷ USD (trong nước 1,4 tỷ USD, FDI là 10,6 tỷ USD). Đã có 537
doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh (trong đó có trên 350

lao động, tạm trú quá thời hạn thị thực, không khai báo tạm trú… dẫn đến
khó khăn trong quản lý lao động nước ngoài, ảnh hưởng đến mục tiêu của
địa phương khi thu hút và sử dụng lao động nước ngoài, ảnh hưởng đến
công tác đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn xã hội.

2

Ban quản lý các KCN Bắc Ninh (2014).


3

Từ thực tiễn công tác tại Ban quản lý các KCN Bắc Ninh, tác giả lựa
chọn, nghiên cứu xây dựng đề án “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về công tác quản lý lao động nước ngoài trong các khu công nghiệp Bắc
Ninh, giai đoạn 2016-2020” làm đề án tốt nghiệp. Đề tài này nghiên cứu
những bất cập trong những quy định về cấp giấy phép lao động cho người
nước ngoài làm việc trong các KCN Bắc Ninh; nêu thực trạng công tác
quản lý nhà nước đối với người nước ngoài theo chức năng nhiệm vụ được
phân cấp, ủy quyền; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại
địa phương để thực hiện toàn diện nội dung quản lý nhà nước đối với người
nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp Bắc Ninh.
2. Mục tiêu của đề án
2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Ban quản lý các KCN Bắc
Ninh đối với lao động nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp trong các
KCN Bắc Ninh trong thời gian tới nhằm tạo lập tốt môi trường đầu tư đồng
thời đảm bảo hiệu quả của công tác quản lý lao động nước ngoài trong các
KCN góp phần phục vụ công tác đối ngoại, tiếp tục thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, đạt mục tiêu đề ra khi thu hút lao động nước ngoài, duy trì



5

B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Khái niệm người nước ngoài
Mặc dù khái niệm "người nước ngoài" (NNN) ở các nước trên thế
giới được quy định có sự khác nhau, nhưng đều có điểm chung là người đó
không phải là công dân của nước đó và mang quốc tịch nước khác hoặc
không có quốc tịch.
Đối với các nước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Hàn Quốc, ... trong
Luật xuất nhập cảnh không nêu khái niệm về NNN nhưng tại các văn bản
pháp luật về quốc tịch lại quy định NNN là những người không có quốc tịch
của nước họ.
Trong thực tế, công tác quản lý NNN còn xuất hiện hai trường hợp:
người không có quốc tịch và người có từ hai quốc tịch trở lên (người đa quốc
tịch). Hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận người không có quốc tịch
là NNN và trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với họ
được áp dụng như NNN. Một số ít nước tuy không khẳng định người không
có quốc tịch là NNN nhưng trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư
trú cũng sử dụng các quy định đối với NNN để điều chỉnh đối tượng này.
Nhìn chung, pháp luật quốc tịch ở các nước trên thế giới hiện nay có
hai xu hướng: áp dụng nguyên tắc một quốc tịch như CHLB Đức, Séc, Lào ...;
áp dụng nguyên tắc đa quốc tịch như Hoa Kỳ, Anh, Cộng hòa Pháp, Úc...
Người có một quốc tịch chỉ được cấp một hộ chiếu của nước mang
quốc tịch, khi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại nước mà họ không phải là công
dân thì áp dụng quy định quản lý là NNN.
Người đa quốc tịch sẽ được cấp nhiều hộ chiếu của các quốc gia mà

Một là, làm giảm thu nhập yếu tố thuần (NX) trong tổng thu nhập quốc
gia (GNI). Người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc họ có thu nhập
và được chuyển về nước phần thu nhập còn lại. Chính điều này làm giảm thu


8

nhập yếu tố thuần trong tổng thu nhập quốc gia; kết quả là làm giảm tổng thu
nhập quốc gia.
Hai là, du nhập lối sống và văn hoá ngoại lai không phù hợp với thuần
phong, mỹ tục của người Việt, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức, văn hoá
truyền thống. Một số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc, họ mang
theo văn hoá của dân tộc và đất nước họ. Cùng với những yếu tố văn minh,
hiện đại; đồng thời họ cũng mang theo lối sống, văn hoá độc hại không phù
hợp với thuần phong, mỹ tục và bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Ba là, công tác đảm ảo an ninh chính trị, an toàn xã hội. Một số đối
tượng vào Việt Nam không vì mục đích làm việc mà có thể có mục đích khác
như chống phá nhà nước, gián điệp kinh tế, trốn tránh truy nã, gây mất an
ninh trật tự….
1.1.3. Nội dung quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, do các
cơ quan Nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã
hội và hành vi hoạt động của con người. QLNN ra đời cùng với sự xuất hiện
của Nhà nước, là một yêu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia. QLNN là
sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế,
pháp luật, quy tắc, về tổ chức và cán bộ của bộ máy có trách nhiệm quản lý
công việc hằng ngày của Nhà nước do tất cả các cơ quan Nhà nước (lập pháp,
hành pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân tiến hành bằng các văn bản quy
phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà
nước đã giao cho trong việc tổ chức, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi

6. Hợp tác quốc tế về lao động.
Lao động nước ngoài khi vào làm việc tại Việt Nam phải chấp hành đầy
đủ các quy định về pháp luật lao động tại Việt Nam, vì vậy, điều 235 của Bộ
Luật lao động cũng là nội dung QLNN đối với lao động nước ngoài


10

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Chính phủ là cơ quan hành pháp,
thực hiện chức năng QLNN bằng pháp luật (Điều 7 - Luật số 32/2001/QH10
Luật của Quốc hội về tổ chức Chính phủ); Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan
của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công
tác trong phạm vi cả nước (Điều 22 - Luật số 32/2001/QH10 Luật của Quốc
hội về tổ chức Chính phủ); Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan
của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực lao động trong phạm
vi cả nước (Điều 1 - Nghị định số 106/2012/NĐ-CP của Chính phủ). Theo
phân tích trên thì Bộ LĐ TB&XH là cơ quan trực tiếp làm công tác QLNN về
lao động nước ngoài, có trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành khác (Bộ
Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao…) để đạt hiệu quả trong công tác quản
lý NNN. 06 nội dung về quản lý lao động nước ngoài trình bày trên có thể do
Bộ trực tiếp thực hiện hoặc phân cấp, ủy quyền cho các cơ quan ở địa phương
thực hiện.
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về công tác quản lý
lao động nước ngoài gồm:
- Nâng cao các mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực do NNN mang lại.
- Kiểm soát lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, không chấp
nhận lao động giản đơn, lao động phổ thông.
- Khuyến khích lao động nước ngoài chuyển giao công nghệ, kỹ năng
bằng việc đào tạo người Việt Nam thay thế.
- Người nước ngoài thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của

những tác động tiêu cực nhưng những tác động tích cực như tạo cơ hội lớn
hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên tiến của nhân loại, gia tăng mức độ đan xen
lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở thành bộ phận hữu cơ của khu vực và
thế giới.
Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành tương đối đồng bộ và kịp
thời các quy định về quản lý lao động nước ngoài. Điều này một mặt đã tạo ra


12

hành lang pháp lý phục vụ công tác quản lý và là công cụ hữu hiệu trong tổ
chức thực hiện nhằm thu hút lao động nước ngoài có chuyên môn kỹ thuật,
đồng thời bảo vệ được vị trí việc làm mà lao động Việt Nam có thể đáp ứng.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
QLNN về lao động nước ngoài tại địa phương cần sự phối hợp của
nhiều cơ quan như Sở Lao động TB&XH, Ban quản lý các KCN, Sở Tư
pháp, Công an tỉnh... nên trong hệ thống văn bản luật có nhiều văn bản quy
phạm pháp luật có nhiều văn bản quy định như:
- Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam, ngày
16/6/2014;
- Pháp lệnh số 24/2000 về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại
Việt Nam, ngày 28/4/2000;
- Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh số 24/2000 về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại
Việt Nam; Luật xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/6/2012;
Liên quan trực tiếp đến các nhiệm vụ của Ban quản lý các KCN Bắc
Ninh hiện tại có các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Bộ Luật lao động Việt Nam năm 2012;
- Nghị định 102/NĐ-CP ngày 5/9/2013 của Chính phủ Quy định chi
tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm

trục xuất người lao động nước ngoài không có GPLĐ. Theo đó, Nghị định xác
định vị trí công việc được sử dụng người lao động nước ngoài. Hằng năm,
người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử
dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao
động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với Chủ tịch UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở
chính. Trong quá trình thực hiện nếu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động


14

nước ngoài, người sử dụng lao động phải báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có văn bản chấp thuận cho từng người sử dụng lao
động về việc sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc.
Nghị định quy định các trường hợp người lao động nước ngoài không
thuộc diện cấp GPLĐ; quy định về cấp GPLĐ; cấp lại GPLĐ; thu hồi GPLĐ;
trục xuất người lao động nước ngoài.
Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng dẫn một số quy định về lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam. Theo đó, trước ít nhất 30 ngày kể từ ngày dự kiến tuyển lao động
nước ngoài, người sử dụng lao động nước ngoài phải báo cáo giải trình nhu cầu
sử dụng lao động nước ngoài, bao gồm: Vị trí công việc, số lượng, trình độ
chuyên môn, kinh nghiệm, mức lương, thời gian làm việc tới Sở LĐ TB&XH
nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính. Thông tư cũng quy định trách
nhiệm của chủ tịch UBND cấp tỉnh trong việc chỉ đạo các cơ quan chức năng
tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm
theo quy định của pháp luật về việc tuyển và quản lý lao động nước ngoài làm
việc trên địa bàn.
Quyết định số 60/2008/QĐ-UBND của UBND tỉnh ngày 09/05/2008 của
UBND tỉnh Bắc Ninh v/v quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

sinh hoạt chung.
- Nguyên nhân của những tồn tại trên trước hết do ý thức chấp hành
pháp luật của đơn vị sử dụng lao động, ý thức chấp hành pháp luật của NNN,
những kẽ hở của pháp luật. Đặc biệt là những quy định của pháp luật Việt
Nam, còn tồn tại những quy định chưa hợp lý, ngoài việc không đạt hiệu quả
QLNN mà còn ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của địa phương (tỉnh Bắc
Ninh) nói riêng và môi trường đầu tư quốc gia nói chung.
- Ban quản lý các KCN Bắc Ninh sau khi thực triển khai pháp luật về
quản lý lao động nước ngoài đã có nhiều cố gắng trong công tác cấp GPLĐ cho


16

NNN, quản lý lao động nước ngoài thực hiện pháp luật lao động Việt Nam. Tuy
nhiên, vẫn còn những bất cập trong công tác phân cấp, ủy quyền của Bộ Lao
động TB&XH trong lĩnh vực quản lý lao động nước ngoài cho các cơ quan
quản lý nhà nước ở địa phương (Ban quản lý các KCN không có chức năng
thanh tra NNN); công tác phối hợp giữa các cơ quan (Sở LĐ TB&XH, Công an
tỉnh, Ban quản lý các KCN…) chưa đạt được hiệu quả cao; có những bất cập
trong quy định về cấp GPLĐ cho NNN gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và môi trường đầu tư của địa phương.
Từ thực tiễn vấn đề NNN vào làm việc tại Việt Nam nói chung và Bắc
Ninh nói riêng đòi hỏi cơ quan QLNN phải có những nhiệm vụ, giải pháp cụ
thể để giải quyết tình trạng trên.
2. Nội dung thực hiện đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích hơn 800km2, dân số khoảng 1 triệu người
nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội trong tam giác tăng trưởng kinh tế
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có các đường giao thông lớn quan trọng
chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hoá của

Với bối cảnh thuận lợi về vị trí địa lý cũng như có chính sách thu hút vốn
FDI tốt, Bắc Ninh đã thu hút và tạo lập được hệ thống các doanh nghiệp FDI
mạnh trong lĩnh vực điện, điện tử. Thuận lợi trong công tác quản lý lao động
nước ngoài là ngành, lĩnh vực điện, điện tử đang là xu hướng phát triển chung
của thế giới, tỉnh có thể tận dụng công nghệ, kinh nghiệm mà người nước ngoài
làm việc trong các KCN truyền lại cho lao động địa phương để hình thành nguồn
nhân lực chất lượng cho cho địa phương. Khó khăn là tỉnh phụ thuộc nhiều vào
dòng vốn FDI, nếu người nước ngoài khó khăn trong việc xin cấp GPLĐ sẽ ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng
đến nền kinh tế và môi trường đầu tư của địa phương.


18

2.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về công tác quản lý lao
động nước ngoài hoạt động trong các doanh nghiệp KCN trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh
2.2.1. Tổng quan về lao động nước ngoài trong các KCN
Với lợi thế quốc gia là nguồn nhân lực giá rẻ, lợi thế địa phương là gần
thủ đô Hà Nội, thuận lợi về giao thông, gần sân bay, cảng biển cùng với chính
sách thu hút đầu tư tốt, rrong những năm qua, Bắc Ninh đã là địa phương thu
hút vốn đầu tư nước ngoài đứng trong tốp đầu cả nước, đặc biệt có các dự án
lớn mang thương hiệu toàn cầu như SamSung (Hàn Quốc), Canon (Nhật
Bản), Nokia (Phần Lan), ABB (Thụy Điển) ... Cùng với các dự án FDI đi vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của các
doanh nghiệp ngày càng tăng.
Bảng 1: Số lượng lao động nước ngoài qua các năm

Năm
NNN (người)

19

nhận kinh nghiệm đã từng đảm nhiệm vị trí quản lý, giám đốc điều hành;
chuyên gia thì phải có bằng đại học trở lên và có kinh nghiệm trên 05 năm
làm trong lĩnh vực được đào tạo; lao động phổ thông thì phải có kinh nghiệm
từ 03 năm trở lên và bằng đào tạo ít nhất 01 năm. Sở dĩ có những yêu cầu
chuyên môn về vị trí công việc vì chúng ta không khuyến khích lao động phổ
thông vào làm việc. Trong số 2.507 NNN làm việc trong các KCN Bắc Ninh
thì có 1.563 NNN là nhà quản lý, 493 NNN là giám đốc điều hành, 275 NNN
là chuyên gia và 181 NNN là lao động kỹ thuật
Nhìn chung, NNN vào làm việc trong các KCN Bắc Ninh hầu hết là do
nhu cầu sử dụng lao động là NNN của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp
nước ngoài sang Việt Nam đầu tư rất khó có thể giao những vị trí quan trọng
như giám đốc điều hành hay nhà quản lý cho người Việt nên đa phần các
doanh nghiệp cử người của họ từ công ty mẹ (công ty nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam) sang để điều hành, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Hoặc là
những chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm và chuyên môn sâu chuyên biệt
cho hệ thống máy móc vận hành dây truyền sản xuất của doanh nghiệp nước
ngoài. Đặc biệt, doanh nghiệp nước ngoài họ rất sợ lộ bí mật công nghệ kinh
doanh nên họ chỉ sử dụng những chuyên gia là người của công ty họ. Còn đối
tượng lao động kỹ thuật, là do công ty mẹ cử sang để đào tạo cho lao động
phổ thông là người Việt Nam.
Từ những lý giải trên, ta thấy vị trí của NNN trong các doanh nghiệp
nước ngoài hoạt động trong các KCN Bắc Ninh là những vị trí quan trọng, ít
có khả năng thay thế. Tuy nhiên, những quy định mới về điều kiện cấp GPLĐ
cho NNN đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong KCN có nhu cầu sử
dụng lao động nước ngoài, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và nền kinh tế của
tỉnh Bắc Ninh.


người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status