ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
TIỂU LUẬN
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG
ĐỜI SỐNG VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
CHO BẢN THÂN.
Người thực hiện
: NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Lớp
: CAO HỌC K34
Nghành
: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÝ
Người hướng dẫn
: TS. PHẠM HUY THÀNH
Đà Nẵng 2017
CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ TRIẾT HỌC
1.Triết học là gì?
1.1. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học
1.1.1. Khái niệm "Triết học"
1.1.2. Nguồn gốc của triết học
1.1.3. Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua
các giai đoạn lịch sử
1.2. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
2. Vấn đề cơ bản của triết học. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
2.1. Vấn đề cơ bản của triết học
2.2. Các trường phái triết học
2.2.1. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
2.2.2. Thuyết không thể biết
3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
3.1. Phương pháp siêu hình
3.2. Phương pháp biện chứng
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO BẢN THÂN.
1. Trong cuộc sống
2. Trong học tập
KẾT LUẬN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ TRIẾT HỌC
1.Triết học là gì?
1.1. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học
1.1.1. Khái niệm "Triết học"
Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ thứ
+ Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình
muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần
giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự
vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? ... trả lời các câu
hỏi ấy chính là triết học.
+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu
tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu
tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý
luận.
- Nguồn gốc xã hội:
Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động
trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập
nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên
cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình
tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội
nhất định.
Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia
chúng chỉ có tính chất tương đối.
1.1.3. Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai
đoạn lịch sử
* Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây
là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là
khoa học của mọi khoa học.
* Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao
trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần
học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội
dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.
tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng
của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu
những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan
hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung
quanh
1.2. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về
bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó.
Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ;
song tri thức mà con người đạt được luôn luôn là có hạn. Quá trình tìm hiểu về
quan hệ giữa con người với thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhất
định, trong đó có sự hoà quyện thống nhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức và
niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giớiquan, song nó chỉ
gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của
con người.
Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa
vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nưười dưới dạng hệ thống các quy
luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế
giới. Với ý nghĩa đó, triết học được xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là
hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người
trong thế giới đó.
2. Vấn đề cơ bản của triết học. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
2.1. Vấn đề cơ bản của triết học
Ngay từ thời cổ đại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con ng¬ời
với thế giới bên ngoài. Triết học ra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nh¬ng ở tầm
khái quát cao hơn là mốiquan hệ giữa tw duy và tồn tại. Theo Ăngghen: "Vấn đề
cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa
xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa
một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế
giới vật chất.
Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm
và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư
duy triết học. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các
giai cấp đối lập trong xã hội.
c. Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận(duy vật hoặc duy tâm) giải
thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các
nhà triết học nhị nguyên luận. Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh
thần để giải thích mọi hiện tượng của thế giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra
từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần. Họ
muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nhưng cuối cùng
họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự
nó, không phụ thuộc vào vật chất.
2.2.2. Thuyết không thể biết
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số các
nhà triết học( cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới
của con người, nhưng với những cách lý giải trái ngược nhau. Chủ nghĩa duy vật
xuất phát từ chỗ coi vật chất có trước, ý thức có sau và là sự phản ánh thế giới
vật chất đã thừa nhận con người có thể nhận thức đươc thế giới khách quan và
các quy luật của nó. Còn chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước và quyết
định vật chất nên nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới, mà chỉ là sự tự
nhận thức, tự ý thức về bản thân ý thức. Họ phủ nhận thế giới khách quan là
nguồn gốc của nhận thức.
Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi
là thuyết không thể biết. Họ cho rằng, con người không thể hiểu được đối tượng
hoặc nếu có hiểu thì chỉ là hình thức bên ngoài; bởi vì tính xác thực của các hình
càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với
những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học
sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát
khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không
đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng
trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết
luận sai lầm về triết học.
Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi
cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động
thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri
thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri
thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người.
Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó
mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm
mang tính giáo điều.
Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta
cần tránh cả hai thái cực sai lầm:
+ Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những
biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông
rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;
+ Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một
cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà
không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị
vấp váp, thất bại.
Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng
và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết
quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung,
vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật
chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương
pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết họcđồng thời là một
nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp.
Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin giúp chúng ta từng bước xây
dựng và hình thành thế giới quan khoa học, có phương pháp tiếp thu một cách
hiệu quả lý luận mới, những thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, có
niềm tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, có cơ sở khoa học chống
lại tư tưởng lạc hậu, phản động.
Hiểu và nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi người có điều kiện hiểu rõ
mục đích, con đường, lực lượng, cách thức bước đi của sự nghiệp giải phóng
con người, không sa vào tình trạng mò mẫm, mất phương hướng, chủ quan, duy
ý chí. Có cách nhìn xa trông rộng, chủ động sáng tạo trong công việc, khắc phục
chủ nghĩa giáo điều, máy móc, tư tưởng nôn nóng đốt cháy giai đoạn và các sai
lầm khác.
Học tập các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin giúp học sinh trung cấp
chuyên nghiệp có động cơ học tập đúng đắn, thái độ nghiêm túc trong rèn luyện
đạo đức công dân, ý thức nghề nghiệp của người lao động tương lai. Để đạt
được mục đích đó người học cần chú ý liên hệ từng nguyên lý, có ý thức trách
nhiệm trong học tập, rèn luyện, từng bước vận dụng vào đời sống, xây dựng tập
thể, góp phần lớn nhất vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO BẢN THÂN.
Đối với sinh viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử
dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị
của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng
,tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp chơi thân, nhưng hiện nay
anh ta đã sửa đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người không như xưa ,
chúng ta cần nhìn nhận anh ta khác đi , có thể cư xử khác trước, có thể giao
tiếp , kết bạn với anh ta.
Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng
ta cần xem xét chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có
cách giải quyết, xử lý tốt . Khi ta học kém đi , điểm số giảm cần tìm nguyên
nhân do đâu khiến ta như vậy. Do lười học, không hiểu bài, không làm bài tập
hay không có thời gian học. Nếu tìm được nguyên nhân cụ thể, chủ yếu , thì sẽ
tìm được cách giải quyết đúng đắn.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:Trong
học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới có
kết quả cao hơn. Việc vận dụng quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong học
tập sẽ giúp định hướng học tập sâu hơn và cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch
sử cụ thể là thế giới quan của mỗi con người.
Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc
học một cách cụ thể, toàn diện, phù hợp với từng thời điểm :
- Học tập là suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng
da, bằng mũi, bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì
để làm, học để tồn tại, học để chung sống với con người, với vạn vật, với muôn
loài...
- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người.
- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ và sâu sắc thì phải
tốn nhiều thời gian, kiên trì, kiên nhẫn. ví dụ như người trồng lúa: học biết các
giống lúa, loại nào phù hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện và cách
chăm bón đúng cách để đạt năng suất, khi phát hiện có sâu rầy phải giải quyết
thế nào...
- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn. Người xưa
Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn ở các trường
phổ thông đã khiến các sinh viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học
nào trước mùa thi. Đa số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được
học vào việc gì ngoài việc để... thi đỗ đại học
Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” không đi đôi với “hành” là có nhiều
học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào
cuộc sống, nhiều thủ khoa sau khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi:
“Không biết việc chọn trường chọn ngành của mình đã đúng hay chưa?”. Nhất
là khi xã hội đang cần những người có tay nghề cao phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá thì việc “Học đi đôi với hành” càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thôi thì chưa đủ, chúng ta cần phải
rèn luyện cả về phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có
đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Tài và
đức là những phẩm chất khác nhau nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết không thể
tách rời. Có tài mà không có đức là người vô dụng, bởi tài năng đó không phục
vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi ích cho một cá nhân thì cũng trở thành vô giá
trị. Con người ta không thể sống một mình, không thể tách rời khỏi gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại. Giá trị một con người được xem xét chính
bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ với đồng loại. Người không có
đức là người không quan tâm đến quyền lợi của người khác. Nếu có tài, họ cũng
chỉ vun vén để có lợi cho riêng họ. Người có tài mà phản bội Tổ quốc, đi ngược
lại lợi ích của tập thể thì chẳng những vô dụng mà còn có tội. Người càng có tài
mà kém đạo đức thì tác hại mang đến cho gia đình, xã hội càng lớn.
Nhưng nếu chỉ có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Có đức,
có khát vọng hành động vì lợi ích của mọi người nhưng không có kiến thức,
năng lực kém thì những ý định tốt cũng khó trở thành hiện thực. Tài năng giúp
con người lao động có hiệu quả. Thiếu tài năng, người ta trở nên ít có tác dụng