ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU TẠI CÁC CHỢ BẢN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN





KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU
TẠI CÁC CHỢ BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : ĐỖ THỊ HỒNG THẮM
Chuyên ngành : KINH TẾ
Lớp : KTB – K55
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. ĐỖ KIM CHUNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng
được dùng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Sinh viên
ĐỖ THỊ HỒNG THẮM
2
2
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành tại Bộ môn Kinh tế nông
nghiệp và Chính sách thuộc Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn của Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới

Chung và sự hỗ trợ của Th.S Nguyễn Thị Tân Lộc bộ môn Kinh tế Thị trường
thuộc viện Nghiên cứu Rau quả. Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
tình hình tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu: đánh giá tình hình tiêu
thụ rau tại các chợ bán lẻ và nghiên cứu đặc điểm mạng lưới chợ bán lẻ trên
địa bàn thành phố Hà Nội, tìm hiểu một số đặc điểm của chợ bán lẻ rau, đặc
điểm của người bán lẻ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu
là điều tra chọn mẫu, thu thập thông tin, hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu,
phân tích và xử lý số liệu.
Những nội dung và kết quả nghiên cứu chính
1) Mạng lưới chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội: hiện tại Hà Nội có
khoảng 411 chợ bán lẻ trong đó thì có khoảng 67 chợ kiên cố, chiếm 16,3%;
213 chợ bán kiên cố, chiếm 51,7% và 131 chợ lán tạm, chiếm 32%; bình quân
1 quận nội thành có 10,3 chợ và 1 huyện ngoại thành có khoảng 16,5 chợ.
2) Quy mô, đặc điểm của chợ: trong tổng số 7 chợ tiến hành khảo sát (5 chợ nội
thành và 2 chợ ngoại thành, 5 chợ quy hoạch và 2 chợ tạm) thì các chợ có
diện tích từ 3000 – 6000m² đều thuộc chợ nội thành (chợ Nghĩa Tân, chợ
Hôm và chợ Gia Lâm). Trong tổng số 71% chợ nội thành có 60% chợ có trên
400 hộ kinh doanh cố định; 28,6% chợ có trên 200 hộ kinh doanh cố định còn
100% các chợ tạm là có dưới 200 hộ kinh doanh cố định. Cơ sở vật chất và
hình thức quản lý: trong tổng số 7 chợ tiến hành khảo sát thì có 2 chợ kiên cố,
3 chợ bán liên có và 2 chợ tạm; có 4 chợ theo hình thức Ban quản lý, 1 chợ
4
4
thao hình thức doanh nghiệp quản lý, 2 chợ trực thuộc UBND xã, phường
quản lý.
3) Các đối tượng tham gia tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà
Nội bao gồm: người chuyên bán lẻ, người sản xuất, người thu gom ở đây họ
được gọi chung là người bán lẻ và một đối tượng nữa là người tiêu dùng cũng

phố Hà Nội: tổ chức và phát triển mạng lưới chợ, nâng cao cơ sở vật chất các
chợ, nâng cao trình độ Ban quản lý chợ bán lẻ, giải pháp cho các đối tượng
tham gia tiêu thụ rau, đa dạng hóa các chủng loại rau bày bán
6
6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
7
7
8
8
9
9
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
Bộ NN Bộ Nông nghiệp
BQL Ban quản lý
HTX Hợp tác xã
KT – XH Kinh tế - xã hội
PTNN Phát triển nông thôn
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TP. Hà Nội Thành phố Hà Nội

biệt đối với chợ bán lẻ, người tiêu dùng có thể mua rau tại đâu thuận tiện cho
mình từ các chợ có quy hoạch hay các chợ cóc, chợ tạm.
Từ nhu cầu mua hàng trên của người tiêu dùng, em tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá tình hình tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn
thành phố Hà Nội”.
11
11
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiện trạng tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành
phố Hà Nội, từ đó đề suất ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ rau.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn tình hình tiêu thụ rau tại các chợ bán
lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ.
- Đề suất một số giải pháp đẩy mạnh việc tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đơn vị sản xuất: các chợ bán lẻ rau trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu nội dung
- Phạm vi nội dung của đề tài, nghiên cứu về hiện trạng tiêu thụ rau tại các chợ
bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.4.2 Phạm vi không gian
- Đề tài nghiên cứu trong phạm vi nội thành và ngoại thành Hà Nội, bao gồm 7
chợ: 5 chợ nội thành và 2 chợ ngoại thành.
1.4.3 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014
12

đến tận tay người tiêu dùng giá cả tùy thuộc vào bên bán và bên mua trao đổi
thống nhất.
 Phân loại:
Hiện nay ở nước ta tồn tại rất nhiều các loại chợ khác nhau, dựa theo
những tiêu thức khác nhau ta có những cách phân loại sau:
a) Theo địa giới hành chính
Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô thị và chợ nông thôn:
- Chợ đô thị:
Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn. Do ở
đây đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên các
chợ thành phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trong
chợ cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung
và hoàn chỉnh. Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền
thông và dịch vụ ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn.
- Chợ nông thôn:
Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã. Hình
thức mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi như ở một số vùng núi, người
dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy,
sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm
đà bản sắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổ
khác nhau.
b) Theo tính chất mua bán
Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn và
bán lẻ:
- Chợ bán buôn:
Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị
xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung với khối lượng hàng hoá
14
14
lớn. Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các

loại 1, chợ loại 2 và chợ loại 3.
 Chợ loại 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố,
hiện đại theo quy hoạch;
- Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của
tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và
được tổ chức họp thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và
tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo
quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ
sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác.
 Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố
hoặc là bán kiên cố theo quy hoạch;
- Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức
họp thường xuyên hay không thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và
tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo
quản hàng hoá, dịch vụ đo lường.
 Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư
xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;
- Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã,
phường và địa bàn phụ cận.
16
16
e) Theo tính chất và quy mô xây dựng
Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và
chợ tạm:
- Chợ kiên cố:

17
lưu thông và kết thúc khi bán hàng xong.
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiều
khâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bán
hàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theo
quan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổ
chức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản
xuất, là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữa
các chủ thể kinh tế. Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình
thái vật chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuất
kinh doanh được hoàn thành. Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điều
kiện thu hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất
mở rộng. Tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển sang
hình thái giá trị của sản phẩm, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàng
chấp nhận thanh toán theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưa
vào lưu thông và kết thúc khi bán hàng xong.
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiều
khâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bán
hàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theo
quan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổ
chức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất,
là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ
thể kinh tế. Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình thái vật
chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuất kinh
doanh được hoàn thành. Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điều kiện thu
hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất mở rộng.
18
18

tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả
năng tham gia rao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.
- Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau, dẫn đến khả năng trao đổi.
- Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ
mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có
quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào.
Chức năng của thị trường:
- Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa dịch vụ
- Chức năng thực hiện giá cả
- Chức năng điều tiết kích thích tiêu dùng xã hội
- Chức năng thông tin thị trường
Các quy luật của thị trường:
- Quy luật về giá trị: Là quy luật cơ bản của tiền sản xuất hàng hóa, quy luật
này yêu cầu trao đổi hàng hóa phải dựa trên chi phí lao động xã hội cần thiết
để sản xuất hàng hóa đó.
- Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường.
+ Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũng
đào thải những hàng hóa không được thị trường chấp nhận.
- Quy luật cung cầu:
+ Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự
cần thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵn
20
20
sàng có khả năng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó.
+ Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năng
bán về một loại hàng hóa nào đó.
- Quy luật cầu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cung về
hàng hóa dịch vụ.
21

22
hỏi phải phân loại, phân cấp sản phẩm và đòi hỏi công nghệ bao bì và đóng
gói công phu không phù hợp với loại kênh này.
+ Hạn chế phát triển thương mại và khó khăn cho phát triển phân công
hợp tác lao động xã hội vì không điều kiện hình thành tầng lớp trung gian,
không tạo ra sự phân công lao động mới trong nông nghiệp.
• Kênh gián tiếp là kênh có trung gian tham gia. Trung gian là cầu nối giữa
người sản xuất và người tiêu dùng. Các loại trung gian bao gồm: Người thu
gom, đại lý, hợp tác xã tiêu thụ, các cửa hàng, người bán lẻ, người bán buôn,
trung thị, siêu thị, đại lý siêu thị, các công ty và tổng công ty xuyên quốc gia.
- Trung gian là cần thiết là quan trọng, song trung gian có tính hai mặt, cần phải
phát huy tính tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nó.
 Những tính tích cực của trung gian cần được phát huy:
- Phải sử dụng trung gian như là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng
để đảm bảo hình thành mạng lưới phân phối ổn định, tiến bộ và hợp lý.
- Giúp cho ổn định giá cả, nhất là các mặt hàng chiến lược quan trọng như thóc,
gạo. Những năm vừa qua, các doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần ổn định
giá cả thóc, gạo.
- Giúp phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt trung gian Nhà nước đứng ra làm trung
gian xuất nhập khẩu rất có lợi nếu thực hiện đúng chức năng yêu cầu.
 Một số mặt tiêu cực của trung gian cần phải hạn chế:
- Qua nhiều trung gian làm cho giá mua tăng lên đối với người tiêu
dùng, nếu không quản lý chắt chẽ những người này sẽ làm ảnh hưởng đến
chính sách, chữ tín của những người sản xuất.
- Độc quyền của các trung gian lớn: Phải hạn chế độc quyền của các
trung gian lớn, phải cạnh tranh lành mạnh.
 Phân loại theo độ dài kênh:
- Kênh phân phối ngắn: Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến
người sử dụng sản phẩm hoặc có sử dụng người mua trung gian tham gia xen
23

24
thiểu hoá chi phí trung gian và tối thiểu hóa chi phí tiêu thụ.
- Mục tiêu chiến lược: Đó là mục tiêu chiếm lĩnh khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường.
- Các yếu tố chi phối việc lựa chọn kênh tiêu thụ
1- Yếu tố thị trường
2- Đặc điểm của sản phẩm
3- Đặc điểm của xuất khẩu nông nghiệp và sản phẩm cây liên quan đến
kênh tiêu thụ sản phẩm.
4- Mức độ và tính chất phân phối sản phẩm.
5- Năng lực của tổ chức trung gian.
2.1.2 Vai trò của tiêu thụ rau
Tiêu thụ đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của người
sản xuất. Tiêu thụ sản phẩm có thể góp phần tăng vòng quay của vốn, là cầu
nối đưa sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua lưu thông
trên thị trường.
Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Trong sản xuất hàng hóa
đóng vai trò quyết định. Sản phẩm mà sản xuất ra không tiêu thụ được báo
hiệu sự bế tắc không phát triển được của cơ sở sản xuất, nguy cơ thua lỗ phá
sản là không thể tránh khỏi. Mặc dù tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình
sản xuất kinh doanh nó chỉ diễn ra sau khi quá trình sản xuất kết thúc nhưng
lại là khâu đóng vai trò định hướng phát triển cho các cơ sở.
- Giai quyết đầu ra cho các sản phẩm rau sản xuất ra, bù đắp cho phí, có tích
lũy để tái sản xuất mở rộng.
Tiêu thụ nói chung đó là quá trình thực hiện sản phẩm, là giai đoạn làm
cho sản phẩm ra khỏi quá trình lưu thông, đưa sản phẩm từ lĩnh vực lưu thông
sang lĩnh vực tiêu dùng. Tiêu thụ rau cũng vậy, nó giải quyết đầu ra cho các
sản phẩm rau. Hơn thế, sản phẩm rau được tiêu thụ mang lại một số tiền
tương ứng với chi phí bỏ ra để sản xuất rau và phần lơi nhuận đem lại từ việc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status