SKKN Một số kinh nghiệm tổ chức dạy học phân hóa đối tượng trong môn Hóa học THCS. - Pdf 45

MỤC LỤC:
Nội dung

Trang

CBQLGD:

Danh mục từ viết tắt:
Cán bộ quản lý giáo dục

BTBT:

Bài tập bổ trợ

GV:

Giáo viên

GD & ĐT:

Giáo dục và Đào tạo

CSVC:

Cơ sở vật chất

GDPT:

Giáo dục phổ thông

HS:


1


I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lí do chọn đề tài.
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2000 - 2020), sự
thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên đường tiến vào thế kỷ XXI bằng cạnh tranh trí
tuệ đang đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáo dục nhất là phương pháp dạy và học. Vấn
đề này không chỉ của riêng nước ta mà là vấn đề chung cho tất cả các nước đang phát
triển. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ
năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy và học”. Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã và đang tiến hành đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có đổi mới PPDH. Nhưng đổi mới PPDH
như thế nào để vận dụng có hiệu quả và khơi dậy được năng lực học tập của tất cả các
đối tượng HS? Câu hỏi này cần được mọi GV đặt ra cho mình và tìm cách giải quyết.
Hầu hết các GV chỉ quan tâm đến đối tượng học sinh trung bình, nắm được kiến thức
cơ bản trong SGK còn đối với đối tượng học sinh khá, giỏi có năng lực tư duy sáng
tạo và học sinh lực học yếu kém còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa khuyến
khích được sự phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá nhân học sinh.
Công cuộc cải cách giáo dục, phát huy tính tích cực là một trong các hướng cải cách
nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước. Nhưng cho đến
nay, sự chuyển biến từ phong trào đổi mới PPDH ở trường phổ thông, nhằm phát huy
tính tích cực của HS vẫn chưa thực sự hiệu quả như những gì chúng ta mong muốn.

vừa có sự giống nhau, lại vừa có sự khác nhau về nhận thức, tư duy, năng khiếu, sở
trường, điều kiện, hoàn cảnh, nền nếp gia đình... DHPH là phát hiện và bù đắp lỗ
hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập; biến niềm đam mê trong cuộc sống
thành động lực trong học tập; DHPH là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy
học đồng loạt. DHPH có thể thực hiện ở 2 cấp độ: Phân hóa ở cấp vĩ mô (phân hóa
ngoài), là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chức các loại hình trường,
lớp khác nhau cho các đối tượng HS khác nhau, xây dựng các chương trình giáo dục
khác nhau (trường chuyên, lớp chọn); Phân hóa ở cấp vi mô (phân hóa trong, nội tại),
là tổ chức quá trình dạy học trong một tiết học, một lớp học có tính đến đặc điểm cá
nhân HS, là việc sử dụng những biện pháp phân hóa thích hợp trong một lớp học,
cùng một chương trình và sách giáo khoa. Đề tài này tôi tập trung vào nghiên cứu
DHPH ở cấp vi mô, lấy trình độ phát triển chung của HS trong lớp làm nền tảng; tìm
cách đưa diện yếu kém lên trình độ chung; tìm cách đưa diện khá, giỏi đạt những yêu
cầu nâng cao trên cơ sở đạt được những yêu cầu cơ bản.
3


I.5. Phương pháp nghiên cứu.
I.5.1. Phương pháp lí thuyết
Trong quá trình giảng dạy của mình tôi cố gắng để cho học sinh vận dụng tối đa ,
triệt để các kiến thức đã học, cùng với việc dẫn dắt các em dựa trên cơ sở kiến thức cũ
để hoàn thiện, phát triển và cung cấp kiến thức mới cho các em.
I.5.2.Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Quan điểm của tôi trong giảng dạy là người làm chủ lớp học, thiết lập bầu không
khí thân thiện, tích cực, chủ động giải quyết mọi tình huống bảo đảm yêu cầu sư
phạm, có hành vi chuẩn mực, thái độ thân thiện, nắm bắt các đối tượng học sinh của
mình để từ đó biết khích lệ tình cảm hứng thú và tinh thần tích cực chủ động trong
học tập của các em, đó là chìa khóa mang lại thành công cho chính mình. Bên cạnh
việc bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, biết nêu vấn đề và hướng dẫn
học sinh tự giải quyết, bảo đảm kiến và kỹ năng, giáo viên “khai thác thác lỗi” để rèn


* Thuận lợi.
- Được sự quan tâm, và tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo Đảng và chính
quyền địa phương cũng như lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo huyện nhà. Cấp ủy
Chi bộ và lãnh đạo nhà trường thường xuyên quan tâm tới các hoạt động của nhà
trường đặc biệt là hoạt động chuyên môn;
- Có phòng thực hành bộ môn hóa – sinh, trang thiết bị, phương tiện dạy học bộ
môn hóa học được trang bị cơ bản đầy đủ và được mua sắm, bổ sung hàng năm;
- Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, đặc biệt mấy năm gần đây số lượng học
sinh giỏi bộ môn hóa học nhiều;
- Ý thức kỷ luật của học sinh tương đối cao đó là một điều kiện rất thuận lợi
trong việc tổ chức cho các em làm thí nghiệm theo nhóm;
- Số lượng học sinh trong mỗi lớp tương đối ít (khoảng 32 – 35 em) rất dễ để
phân nhóm khi cho các em thực hiện các hoạt động, hay dễ quan sát và quan tâm đến
các đối tượng học sinh giỏi, học sinh yếu kém;
- Các giáo viên bộ môn hóa học trong tổ bộ môn, trong cụm chuyên môn
thường xuyên có những chuyên đề dự giờ, kiểm tra hồ sơ… nhằm giao lưu, học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau trong dạy học
* Khó khăn. Trong quá trình thực hiện đề tài có rất nhiều thuận lợi, nhưng sau một
quá trình thực hiện xuất hiện những khó khăn nhất định cần khắc phục:
- Ý thức học tập của một số em chưa cao, còn xem nhẹ việc học, đặc biệt trong
quá trình học tập theo nhóm còn dựa dẫm vào bạn mà chưa chịu khó tự giác thực
hiện;
- Một số học sinh chưa tiếp cận được phương pháp dạy - học tích cực nên còn
thụ động trong việc học tập
b. Thành công – hạn chế.
* Thành công.
- Với nội dung của đề tài này sau khi áp dụng vào thực tiễn qua năm học 20142015 và tiếp tục thực hiện ở năm học 2015-2016 tôi nhận thấy học sinh rất có hứng
thú trong học tập, tạo được hệ thống về mối liện hệ giữa kiến thức cũ tới kiến thức
mới giúp học sinh nắm các kiến thức cơ bản một cách vững chắc;

* Nguyên nhân từ giáo viên: Thực chất của PPDH này là GV chỉ là người tổ chức
chỉ đạo, còn HS tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo:
- Đối với dạy bài mới: Tôi đã tổ chức, hướng dẫn HS tự phát hiện và tự giải
quyết vấn đề bằng cách: Hướng dẫn HS tự phát hiện vấn đề của bài học rồi tổ chức
cho HS huy động những hiểu biết của bản thân (nhóm HS) lập mối liên hệ giữa vấn
đề mới phát hiện với các kiến thức thích hợp đã biết, từ đó tìm cách giải quyết vấn đề;
trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết của HS, giúp các em lựa chọn cách
giải quyết hợp lý nhất; tổ chức cho HS thực hành, vận dụng kiến thức mới học ngay
trong tiết dạy học bài mới để HS “học qua làm”, góp phần giúp HS tự chiếm lĩnh kiến
thức mới, bằng cách sử dụng các bài tập vừa sức để tổ chức cho HS tự làm bài theo
năng lực của mình.
- Đối với bài luyện tập, ôn tập, thực hành: Giúp HS tự phát hiện ra mối liên
hệ giữa bài tập và các kiến thức đã học, từ đó lựa chọn, sử dụng những kiến thức thích
hợp để giải bài tập; Giúp HS tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng em,
không dạy học “đồng loạt”, “bình quân”. Đặc biệt lúc này tôi lại quan tâm đến từng
đối tượng HS; khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng HS bằng cách phối
hợp giữa bài làm của từng cá nhân với trao đổi ý kiến trong nhóm về cách giải của các
bạn để rút kinh nghiệm và tự hoàn chỉnh cách giải của mình. Luôn luôn tạo cho các em
có thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm khi làm bài và chữa bài. Đối
với học sinh giỏi, tôi luôn yêu cầu các em tìm nhiều cách giải một bài toán (nếu có
thể) và lựa chọn cách giải hợp lý nhất, không thoả mãn với các kết quả đã đạt được.
Luôn tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi HS, tạo cho HS
có niềm tin và niềm vui trong học tập.
* Đối với học sinh:
6


Huy động mọi khả năng có thể để tự tìm tòi, khám phá ra những nội dung mới của
bài học, tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề; tự mình hoặc cùng các bạn trong
nhóm, trong lớp lập kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề. Từ những kiến thức đã

38
7
18.4
10
26.3 15 39.5
6
15.8
Tổng
71
12
16.9
16
22.5 30 42.3
13
18.3
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Dạy học phân hóa hay đổi mới PPDH, đòi hỏi giáo viên luôn chủ động và sáng
tạo trong nghề nghiệp đồng thời yêu cầu phải trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dù
còn nhỏ bé của từng HS . Kết quả của cách dạy học như thế không chỉ góp phần hình
thành cho HS các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết, mà chủ yếu là xây dựng cho
HS lòng nhiệt tình và phương pháp học tập để sáng tạo như một nhà triết học cổ Hy
Lạp đã nói: “Dạy học không phải là chất đầy vào một cái thùng rỗng mà là làm bừng
sáng lên những ngọn lửa”.
Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu
cầu đảm bảo thực hiện mục tiêu cùng cho toàn thể học sinh, đồng thời khuyến khích
phát triển tối đa những khả năng của cá nhân. Trong dạy học phân hóa, chúng ta cần
tính tới những đặc điểm của cá nhân học sinh, chú ý tới từng đối tượng hay từng loại
đối tượng về trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã đạt, về khả năng tiếp thu, nhu cầu
luyện tập, sở thích hứng thú và khuynh hướng nghề nghiệp … để tích cực hóa hoạt
động của học sinh trong học tập.

tiếp cận kiến thức mới theo tôi là một nghệ thuật để giúp cải thiện chất lượng, phân
hóa được đối tượng học sinh trong quá trình dạy học. Sau khi phân hóa được đối
tượng học sinh thì chúng ta phải đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh yếu kém;
Muốn giúp HSYK nắm vững được nội dung kiến thức đã học, từng bước khắc phục
tình trạng yếu kém, thì sau khi học xong bài học chúng ta cần giúp cho các em có
nhiều bài tập vừa sức để có thể luyện tập được. Nếu được luyện tập nhiều thì HSYK
mới nắm vững kiến thức bài học và là tiền đề để có thể học được những bài tiếp theo.
Có như vậy mới tạo được động cơ, hứng thú cho HSYK cố gắng vươn lên trong học
tập. Việc để học sinh tự mình giải được một số bài tập là rất có ý nghĩa về mặt tâm lý,
ngược lại, việc thất bại ngay từ bài tập đầu tiên dễ làm cho học sinh mất nhuệ khí, mất
tin tưởng ở bản thân mình. Muốn tạo cho HSYK niềm lạc quan bước vào luyện tập
chúng ta phải ra tăng hệ thống bài tập vừa sức với mức độ tăng dần từ dễ đến khó,
giúp HSYK được luyện tập nhiều hơn ngay trong các tiết dạy chính khóa và khi làm
bài tập ở nhà; luôn luôn phải có các hình thức động viên, khích lệ các em một cách
kịp thời như ghi điểm, tuyên dương trước lớp…Phải chú ý tới bảng phân loại của
Bloom theo hình thức tháp tam giác dưới đây:

8


Đối với học sinh yếu, chúng ta chỉ chú trọng ở 3 mức độ:
+ Biết (nên chiếm tỉ lệ khoảng 75%)
+ Hiểu (chiếm tỉ lệ khoảng 20%)
+ Vận dụng (chiếm tỉ lệ khoảng 5%)
II. 3. Giải pháp, biện pháp
a) Mục tiêu của giải pháp biện pháp.
Xác định được cách tổ chức dạy học phân hóa và thiết kế được các bài dạy phân
hóa, các bài tập phân hóa ở tất cả các tiết dạy chính khóa phù hợp với trình độ của
HS, đồng thời sử dụng thành thạo các bài tập phân hóa nhằm giúp đỡ HSYK phát huy
tối đa khả năng sáng tạo ở học sinh giỏi.


Mục tiêu giúp đỡ HSYK, bồi dưỡng
HSG

Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức ở lớp 8: Phương trình hóa học, các loại hợp chất
oxit, axit, bazơ, muối làm cở sở để tiếp thu những kiến thức mới ở chương trình lớp 9
* Củng cố lại cho các em kĩ năng viết công * Nhận và viết được phương trình hóa
thức hóa học, kĩ năng viết phương trình hóahọc của phản ứng trao đổi
học, kĩ năng cơ bản giải toán hóa học
* Nêu được hiện tượng của một số
phản ứng, thực hiện được các bài tập
định tính
* Giúp giáo viên bắt đầu phân hóa được đối tượng học sinh.
II.
Chuẩn Bị:
Giáo viên: Hệ thống lại chương trình lớp 8 để có cơ sở giới thiệu với các em.
III. Các phương pháp và kĩ thuật dạy học:
Sử dụng phương pháp vấn đáp, kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và các
phương pháp khác. Kết hợp và sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như tia chớp,
kĩ thuật mảnh ghép, động não…
IV. Bài Giảng:
1/ Ổn định: (2’)
3/ Nội dung bài mới:
1.3 - Chia nhóm học sinh, cử nhóm trưởng, thư ký: Chia lớp thành 5 nhóm, thảo
luận 5 chủ đề theo yêu cầu
2.3 - Phân chủ đề cho các nhóm ôn tập: (phát phiếu học tập cho các nhóm)
* Chủ đề 1: Viết công thức hóa học theo hóa trị
Viết công thức hóa học của các hợp chất tạo bởi:
a) Tạo bởi nguyên tố Ca và O
b) Tạo bởi nguyên tố Fe(II) và nhóm NO3

Nhiệm vụ của giáo Viên
Nhiệm vụ của học Sinh
Phân chủ đề, hướng dẫn, giúp HS thực
Thảo luận theo các chủ đề được phân
hiện
công
Sau mỗi chủ đề, yêu cầu các em nhớ lại
Rút ra kiến thức chung của từng chủ
và rút ra kiến thức chung
đề
- Oxit: Hợp chất hai nguyên tố trong đó
có oxi
- Oxit: Hợp chất hai nguyên tố trong
- Axit: Hợp chất có một hay nhiều nguyên đó có oxi
tử hidro kết hợp gốc axit
- Axit: Hợp chất có một hay nhiều
- Bazo: nguyên tử kim loại liên kết gốc
nguyên tử hidro kết hợp gốc axit
axit
- Bazo: nguyên tử kim loại liên kết
- Muối: kim lọai liên kết gốc axit
gốc axit
Bổ sung thêm cách viết công thức hóa học - Muối: kim lọai liên kết gốc axit
cho từng loại hợp chất nếu cần
Bổ sung thêm cách viết công thức
II. Ôn phần phương trình hóa học và tính hóa học cho từng loại hợp chất nếu
theo PTHH:
cần
1/ Y/c hs lập một số pthh, nhận xét về ý
nghĩa của các pthh vừa lập

a. Nhôm và Oxi
b. Sắt III và nhóm SO4
c. Sắt II và nhóm PO4 c. Natri và nhóm OH
d. Hiđrô và nhóm NO3 e. Bari và nhóm CO3
Bài 2/ Cho 6,5 gam Zn tác dụng hết với dd HCl tạo ra muối và giải phóng
Hiđrô.
a. Viết PTHH và cho biết tỉ lệ số mol giữa các chất tham gia và tạo thành?
b. Tính thể tích khí H2 thu được ở đktc
Ghi chú: Đưa ra hướng giải cho các em về nhà thực hiện:
- Viết phương trình phản ứng, có thể xem lại qua bài điều chế H2, phản
ứng thế
- Tính số mol của Zn tham gia phản ứng, từ đó suy ra số mol H2 và tính
thể tích H2 ở đktc
Tính toán

Nội dung 2: Thực hiện dạy học phân hóa bài tính chất hóa học của muối (tiết 14
hóa 9)
Ở bài này để học sinh tiếp cận được các tính chất hóa học của muối, phản ứng
trao đổi trong dung dịch thì giáo viên phải hệ thống, củng cố lại kiến thức lớp 8 cho
các em: Trước hết là khái niệm, thành phần hóa học của muối, các loại muối, tra tính
tan của các muối. Bên cạnh còn phải hệ thống lại các tính chất của axit, bazơ, thực
hiện qua bài soạn:
I. Mục Tiêu:
Mục tiêu chung

Mục tiêu giúp đỡ HSYK, bồi dưỡng
HSG

Kiến thức: Giúp học sinh nắm được các tính chất hóa học của muối: Phản ứng với
kim loại, với axit, với dung dịch bazơ, với dung dịch muối, nhiệt phân hủy; nắm định

1 cái
III. Phương Pháp: Sử dụng phương pháp vấn đáp, kết hợp phương pháp thảo luận
nhóm và các phương pháp khác.
IV. Bài Giảng:
1 - Ổn định:
2 - Thay việc kiểm tra bài cũ bằng một hình thức khởi động giờ học theo hướng tích
cực hóa nhận thức của học sinh: (8’)
Nhiệm vụ của giáo Viên
Nhiệm vụ của học Sinh
- Mỗi em hãy viết cho 5 công thức hóa học - Viết công thức hóa học của muối
của muối bất kỳ và gọi tên?
(mỗi em 5 công thức) ra vở nháp
- Treo bảng tính tan lên bảng, yêu cầu học
sinh tra tính tan của một số muối theo yêu
cầu
- Theo giõi các em thực hiện và giúp đỡ các
em học sinh yếu để hoàn thành nhiệm vụ;
- Kiểm tra sản phẩm của một số em và - Nộp sản phẩm của mình nếu được
tuyên dương các em kịp thời
giáo viên yêu cầu
- Yêu cầu một số em xác định được tính tan - Xác định tính tan của một số muối
của một số muối như: NaCl, BaSO 4, theo yêu cầu
FeCl3…
(lưu ý HSYK)
3 - Nội dung:
Hoạt động 1: (20’) Tìm hiểu các tính chất hoá học của muối:
Nhiệm vụ của giáo Viên
Nhiệm vụ của học Sinh
13


Hoạt động 2: (10’) Tìm hiểu khái niệm phản ứng trao đổi và nhận dạng:
Nhiệm vụ của giáo Viên
Nhiệm vụ của học Sinh
- Ghi lại một số phản ứng trên làm ví dụ: Các nhóm thực hiện thí nghiệm
Na2SO4 + Ba(OH)2
BaSO4 + NaOH Thảo luận nhóm.
NaCl + AgNO3
AgCl
NaNO3 Nhận xét, bổ sung cho nhau.
CaCO3 + HCl
CaCl2 + H2CO3
Tự rút ra kết luận
- Cho HS thảo luận nhóm, nhận xét các tínhGhi nhớ:
chất trên có gì giống nhau? và khác nhau?
Phản ứng trao đổi là PƯHH giữa
- Cho các nhóm nhận xét kết quả và nêu lên hai hợp chất với nhau, trong đó có
khái niệm phản ứng trao đổi.
sự trao đổi lẫn nhau về một thành
- Nhận xét, bổ sung, tuyên dương một số cá phần cấu tạo trong nó.
nhân, đặc biệt HSYK khi các em có thành Điều kiện: Phải có một chất kết tủa
quả.
hoặc một chất dễ bay hơi tạo ra
4 - Củng cố: (7’)
* Treo tranh bảng tính tan các chất, yêu cầu mỗi nhóm viết 3 PTHH của phản ứng
trao đổi có điều kiện xảy ra? GV theo dõi, nhận xét dưới nhiều hình thức, tuyên
dương các em.
Có thể chỉnh sửa cho các em:
NaCl + AgNO3
BaCl2 + H2SO4
14

vẽ… khi cần thiết để giúp học sinh tiếp cận được các kiến thức mới;
- Sử dụng tư duy logic khi cần thiết. Hãy chỉ rõ cho học sinh thấy rằng thông
tin nào là số liệu chính xác cần ghi nhớ máy móc, thông tin nào có thể được suy luận
nhờ tư duy logic;
- Sử dụng các hoạt động trên lớp để củng cố kiến thức mới học. Sau khi dạy
học sinh những kiến thức cơ bản, tôi thường cho học sinh làm bài tập ngay dựa vào
những kiến thức mới;
- Luôn tôn trọng học sinh. Giải đáp kịp thời cho các em những thắc mắc dù là
nhỏ nhất, và được biểu dương, khích lệ kịp thời.
- Thái độ của giáo viên cũng là nhân tố rất quan trọng trong việc góp phần vào
sự thành công của tiết học vì mọi hoạt động dạy học luôn diễn ra sự tương tác về tâm
lý, hoàn cảnh giữa giáo viên với học sinh. Giáo viên ngoài dạy kiến thức còn truyền
cho các em sinh khí để học tập.
Về phía học sinh tôi luôn trang bị cho các em những kĩ năng thái độ đúng đắn
nghiêm túc ngay từ những tiết học đầu tiên của năm học, đó là:
15


- Phải có sự chuẩn bị về kiến thức cũ có liên quan và có sự động não tư duy;
- Phải có ý thức tự giác, tích cực chủ động tham gia học tập, làm thí nghiệm;
- Tuân theo sự phân công của nhóm trưởng, có tinh thần xây dựng tập thể, thấy
được vai trò của mình trong nhóm;
- Học sinh được rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu để hoàn thành
thói quen học suốt đời.
- Trang bị cho các em kĩ năng tự đánh giá, kết hợp với đánh giá của thầy với
của trò theo các mức độ (biết, hiểu, vận dụng).
d) Mỗi quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Các biện pháp giải pháp đã nêu ở trong đề tài có thể dùng cho giáo viên tham
khảo khi dạy các tiết tiếp nhận kiến thức mới, tiết luyện tập, ôn tập và kể cả tiết thực
hành.

%
27.3
28.9
28.2

Trung bình
SL
%
14 42.4
15 39.5
29 40.8

Yếu - kém
SL
%
2
6.1
3
7.9
5
7.0

9A1
33
9A2
38
Tổng
71
* Giá trị khoa học.
Trong quá trình dạy học, bằng những kinh nghiệm của bản thân trong thực tiễn

viên tham khảo và học tập lẫn nhau;
- Tạo điều kiện bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hằng năm cho các
bộ môn
* Đối với đồng nghiệp:
Tiếp tục rèn luyện, phát huy tinh thần tự học, sáng tạo, tìm hiểu các phương pháp,
kĩ thuật dạy học hiện đại, các hình thức khởi động giờ học hóa học, hệ thống kiến
thức một cách chặt chẽ, logic cho học sinh trong quá trình giảng dạy nhằm ngày càng
nâng cao chất lượng bộ môn.
Trên đây là một trong những kinh nghiệm mà tôi đúc rút được trong quá trình
giảng dạy. Rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp tôi xin chân thành cảm ơn và
tiếp thu mọi ý kiến nhằm ngày càng hoàn thiện mình hơn./.

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học trung học cơ
sở ;
Sách giáo khoa hóa 8, hóa 9 ;
Sách giáo viên hóa 8, hóa 9 ;
Tạp chí Hóa học và ứng dụng của Hội hóa học Việt Nam ;
Tạp chí Giáo dục & thời đại ;
Website hỗ trợ dạy học tích cực tại :
giaoducphothong.edu.vn; truonghocao.edu.vn

18


19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status