SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên phát triển kĩ năng cho Học sinh trong dạy học môn Tự nhiên xã hội lớp 3. - Pdf 45

I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lý do chọn đề tài.
“ Dạy con từ thưở còn thơ” là câu nói mà cha ông ta dùng để chỉ vai trò
quan trọng của việc giáo dục con trẻ ngay từ khi các em mới bắt đầu hình thành
nhân cách và lối sống của mình. Quá trình giáo dục được diễn ra rất lâu dài, từ
khi còn thơ bé cho đến suốt cuộc đời. Các em được giáo dục về đạo đức cũng
như một số kĩ năng trong thực tế.
Việc hình thành một số kĩ năng ngay từ khi còn nhỏ quả thật không đơn
giản. Lúc mới sinh ra, ở nhà với bố mẹ, ông bà, anh chị em mình các em đã
được học một số kĩ năng đơn giản từ người thân. Khi đến trường Mầm non rồi
trường Tiểu học lại được học từ thầy cô giáo và bạn bè. Để giáo dục cho các em
có kĩ năng tốt, thành thạo đòi hỏi người giáo viên phải có những kĩ năng tốt.
Luôn học hỏi những người xung quanh để tích lũy kinh nghiệm cho mình. Bên
cạnh đó trong mỗi bài giảng, mỗi bài học cũng cần sự khéo léo lồng ghép giáo
dục một số kĩ năng cho các em như: Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng xử
hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật, tai nạn. Biết gọi điện
thoại khi cần thiết, trình bày lại các nội dung vừa học…
Trong thực tế dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3, một số giáo viên khi
triển khai bài dạy chỉ quan tâm đến truyền thụ hết kiến thức bài học chứ không
chú trọng đến việc giáo dục một số kĩ năng cho học sinh khi lĩnh hội kiến thức.
Hoặc một số giáo viên có đề cập đến nhưng lại lướt qua rất nhanh làm cho các
em chưa kịp hình thành kĩ năng cho bản thân hay không có thời gian trình bày
lại… Chính vì thế đã làm giảm đi hiệu quả giảng dạy và một số kĩ năng cần thiết
cho học sinh.
Trong thực tế hàng ngày ở trường, một số em chưa có kĩ năng cơ bản như:
phòng chống bệnh (Trời lạnh nhưng đi học không mang áo lạnh, trời nắng đi học
không đội mũ… ) Ăn uống không hợp vệ sinh; chơi các trò chơi nguy hiểm
( trèo cây, bắn súng nhựa..); ngồi học không đúng tư thế; ăn quà vặt… Nhìn
chung, muốn các em có kĩ năng thành thạo thì giáo viên cần hình thành, giáo
dục, hướng dẫn thường xuyên trong mỗi bài học. Đây cũng là một trong các điều


cho học sinh khi dạy môn tự nhiên và xã hội.
- Nghiên cứu một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tạo điều
kiện dễ dàng phát triển kĩ năng cho các em.

2


- Nghiên cứu nội dung các bài dạy, sách giáo khoa, sách thiết kế, các bước
lên lớp, quy trình dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu nội các nội dung trong sách thiết kế và sách giáo viên, tham
khảo nội dung, hình thức dạy học của từng bài dạy môn tự nhiên và xã hội lớp 3.
- Dự giờ các bạn đồng nghiệp trong trường mình học hỏi kinh nghiệm, rút
kinh nghiệm từ các tiết dạy của bản thân và một số tiết dạy học của các giáo
viên trường bạn.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu: Tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu, tìm
hiểu các kinh nghiệm dạy học ở các lớp 3 trong trường mình và trường bạn,
thông tin trên các trang giáo án mạng...
- Phương pháp thiết kế : Thiết kế các hoạt động dạy học khác nhau
theo hướng đổi mới, khoa học, hiệu quả, phù hợp để tạo điều kiện phát triển
một số kĩ năng cho học sinh.
- Phương pháp thực hành: Sau khi thiết kế các hoạt động dạy học, người
giáo viên thực hành ngay trong tiết dạy của mình và tự đánh giá các kĩ năng học
sinh đã đạt được sau tiết dạy thực hành đó như thế nào để vận dụng điều chỉnh
vào các tiết học sau.
- Phương pháp trình bày thử: Thử áp dụng các biện pháp, hình thức, cách
thức giúp học sinh phát triển một số kĩ năng trong tiết dạy môn Tự nhiên và xã
hội của các bạn đồng nghiệp cùng trường cũng như trường bạn…vào bài dạy
hằng ngày. Từ đó rút kinh nghiệm và áp dụng vào các bài dạy môn Tự nhiên và

chủ động nắm bắt tâm tư, tình cảm của học sinh, biết cách nhắc nhở hoặc động
viên các em kịp thời, có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng học
sinh. Tạo điều kiện cho các em phát huy kĩ năng của bản thân và biết giúp bạn
có kĩ năng như mình. Đây là điều mà mỗi giáo viên mong muốn học sinh của
mình đạt được. Nó phản ánh rõ nét hiệu quả tiết dạy và việc sử dụng thông tư 30
của giáo viên trong dạy học.
II.2. Thực trạng.

4


a. Thuận lợi - khó khăn.
Trường Tiểu học Lý Tự Trọng là một ngôi trường thuộc khu vực trung
tâm văn hóa, chính trị của huyện. Có nhiều khu vui chơi, giải trí, bơi lội… Về
phía học sinh, đa số các em thuộc địa bàn Thị trấn luôn tiếp cận sự đổi mới và
tham gia các chương trình văn hóa, văn nghệ. Bên cạnh đó các em còn là con em
của cán bộ công chức có điều kiện, luôn được sự quan tâm của gia đình. Sống
trong môi trường thuận lợi như vậy các em sẽ có được rất nhiều kĩ năng cơ bản
cho đến thành thạo. Về phía nhà trường, luôn là đơn vị dẫn đầu trong các phong
trào thi đua học sinh giỏi, giáo viên giỏi. Trường có đội ngũ giáo viên giàu kinh
nghiệm trong giảng dạy. Số giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh ngày
một tăng. Học sinh qua từng năm học đạt chất lượng học tập tốt, tỉ lệ học sinh
giỏi các cấp mỗi năm tăng cao. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến
việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho tất cả giáo viên trong nhà trường. Bản
thân tôi thường xuyên được cử đi tập huấn các chuyên đề như: Nâng cao chất
lượng dạy học, phương pháp dạy học tích cực, hoạt động ngoài giờ lên lớp,
phương pháp bàn tay nặn bột… Được dự giờ thăm lớp thường xuyên các giáo
viên trong và ngoài nhà trường. Đặc biệt trong đổi mới sinh hoạt cụm chuyên
môn thường xuyên tham gia dự giờ và dạy một số tiết để cùng giáo viên trong
cụm nhận xét rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó nhà trường thường xuyên tổ chức

triển khai, phát triển kĩ năng cho học sinh phù hợp với bài dạy. Không những
được ban giám hiệu, hội đồng sư phạm nhà trường đánh giá là có kĩ năng tốt mà
còn được giáo viên các trường bạn đánh giá cao. Bản thân có nhiều kinh nghiệm
về đổi mới phương pháp và các hoạt động dạy học. Biết xử lý tình huống bất
ngờ xảy ra trong tiết học một cách nhẹ nhàng. Luôn sáng tạo, khéo léo giúp học
sinh bộc lộ kĩ năng của mình dễ dàng. Vì thế Tôi luôn được học sinh và phụ
huynh tin yêu.
Trong cuộc sống cũng như trong dạy học, bản thân đôi lúc chưa chuẩn bị
tốt các phương án trong xử lí tình huống một cách mạnh mẽ và dứt khoát, còn cả
nể, dễ dàng khi các em thể hiện kĩ năng chưa tốt.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Khi dạy môn Tự nhiên và xã hội lớp 3, một số giáo viên nhận thức chưa
tốt trong việc giáo dục kĩ năng cho các em. Chưa hiểu được yếu tố giúp giáo
viên đạt một tiết dạy học tốt thì học sinh cần đạt các kĩ năng cơ bản của bài học.
Có giáo viên chỉ coi trọng việc hoàn thành nội dung bài dạy, chưa thật sự chú

6


trọng đến việc rèn kĩ năng cho các em. Có khi chỉ lướt qua hoặc bỏ qua hoạt
động này. Nhiều giáo viên lại suy nghĩ chỉ giáo dục kĩ năng cho học sinh trong
cuộc sống hàng ngày còn trong bài dạy chỉ hết nội dung là được.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
* Mô tả thực trạng giảng dạy hiện tại :
- Việc xác định mục tiêu bài dạy còn chưa rõ, có khi còn lẫn lộn giữa kiến
thức và kĩ năng làm cho giáo viên khó xác định đâu là nội dung, đâu là kĩ năng
cần đạt được sau bài dạy.
- Chưa nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, các kiến thức cần liên hệ giáo dục
kĩ năng và thời điểm thích hợp để giáo dục chưa có hiệu quả. Một số giáo viên
kĩ năng quan sát, nhận xét, thí nghiệm, trình bày…còn hạn chế. Việc tổ chức


85 học sinh
20 học sinh

Kết quả khảo nghiệm thực tế ở Giáo viên khối 3 như sau:

7


Nội dung khảo nghiệm với 8 giáo viên
1. Xác định mảng kiến thức
2. Xây dựng mục tiêu về kĩ năng bài dạy
3. Lưạ chọn phương pháp
4. Thiết kế hoạt động dạy học
5. Tổ chức hoạt động dạy học
* Nguyên nhân của thực trạng là:

Số lượng
Đạt 4/6
Đạt 4/6
Đạt 3/6
Đạt 3/6
Đạt 3/6

- Trong quá trình dạy học, một số giáo viên chưa chú trọng đến việc cần
dạy như thế nào vì nghĩ rằng kiến thức kĩ năng bài dạy Tự nhiên và xã hội lớp 3
đơn giản. Có giáo viên chỉ cần nhìn vào sách giáo khoa cho học sinh nêu hết nội
dung tranh mà chưa đưa ra được các tình huống tạo ra kĩ năng cần đạt. Chính vì
thế dẫn đến việc triển khai nội dung bài chưa kĩ.
- Giáo viên chưa thực sự đầu tư, nghiên cứu khi xác định mục tiêu bài

a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
- Giúp giáo viên nghiên cứu, tìm ra và biết một số giải pháp, biện pháp
giúp học sinh có được những kĩ năng tốt sau bài học.
- Trang bị cho giáo viên một số kĩ năng cơ bản cần đạt được sau tiết học
để hình thành và giáo dục cho học sinh như kĩ năng quan sát, đánh giá, nhận xét,
thí nghiệm...Biết nghiên cứu, định hướng các kĩ năng cần đạt được sau mỗi bài
học bằng cách cần chuẩn bị nội dung, thiết kế bài dạy trước khi đến lớp.
- Giáo viên luôn có lòng yêu nghề mến trẻ, tôn trọng và cảm thông với
học sinh, nắm được tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, chủ động trước những tình
huống có thể nảy sinh trong tiết dạy.
- Thay đổi các hình thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh để tạo sự
phong phú, đa dạng và hiệu quả. Học sinh tích cực, chủ động tham gia vào quá
trình học tập giúp bản thân học sinh phát triển tốt kĩ năng cần thiết.
- Rút ra kinh nghiệm cho bản thân về cách soạn giáo án, xác định mục
tiêu về kĩ năng, thiết kế các hoạt động dạy học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, các
tình huống kĩ năng. Kịp thời phát hiện, điều chỉnh, uốn nắn kĩ năng chưa tốt.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Muốn học sinh đạt được các kĩ năng cần thiết sau bài học Tôi đã thực hiện
một số giải pháp, biện pháp sau:
1b/ Biện pháp thứ nhất:

Xác định mảng kiến thức

- Nội dung chương trình môn tự nhiên và xã hội 3 được chia làm các chủ
đề khác nhau:

9


+ Chủ đề: Con người và sức khỏe: Bao gồm các nội dung về cơ quan vận

khỏe ngay. Chào bác sĩ.

Đóng vai bác sĩ và bệnh nhân
Với cách đóng vai ở trên ngoài kĩ năng tự biết chăm sóc sức khỏe cho bản
thân. Các em biết khi thấy trong người đau ốm, mệt mỏi cần đi khám bác sĩ.
+ Xây dựng tình huống điều tra hình thành kĩ năng tìm hiểu vấn đề, phân
tích, khái quát...
- Để có sức khỏe thì phải ăn uống đủ chất. Trong thực tế thì đa số trẻ nhỏ
ăn uống chưa đủ chất. Có em không bao giờ ăn rau chỉ ăn thịt cá, hay ăn quá
nhiều 1 thứ thức ăn mà mình thích. Để các em có kĩ năng ăn uống đủ chất, ăn
uống sạch sẽ thì giáo viên cần giúp các em hiểu được ăn uống đủ chất sẽ làm
cho cơ thể chóng lớn và khỏe mạnh. Giáo dục các em ý thức ăn đủ, uống đủ....
Giáo viên dùng phiếu điều tra trước giờ học, hay trong giờ học. Sau đó
tổng hợp theo nhóm món hay ăn, thích ăn sáng... nêu tác dụng món ăn sáng đó.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ăn uống đầy đủ”
Tên:...........................................

Phiếu điều tra

Hằng ngày bạn ăn uống như thế nào vào mỗi bữa ăn:
+ sáng:............................................................................................
+ trưa:..........................................................................................
+ chiều:.........................................................................................
Nêu những thức ăn mà bạn thích ăn, hay ăn hàng ngày
.................................................................................................................

17


+ Xây dựng tình huống trò chơi để hình thành kĩ năng ăn uống đủ chất.

18


được 3 người con đó là bố tớ, cô hai và chú ba. Cô và chú tớ sống ở sài Gòn.
Còn ông bà ngoại tớ lại sống ở quê, lâu lâu tớ mới về thăm. Ông bà ngoại tớ chỉ
có 2 người con thôi. Đó là mẹ tớ và cậu tớ. Gia đình tớ sống rất hạnh phúc đấy
các bạn ạ. Tớ yêu tất cả mọi người trong gia đình.
- Phỏng vấn: Gia đình bạn gồm có mấy người? Đó là những ai? Gia đình
bạn là gia đình mấy thế hệ? ....
+ Tổ chức trò chơi củng cố để hình thành kĩ năng phòng cháy chữa cháy:
Giáo viên tổ chức trò chơi liên quan đến nội dung bài học. Theo dõi phản
ứng của học sinh khi chơi để kịp thời điều chỉnh kĩ năng cho các em
Ví dụ: Bài “Phòng cháy khi ở nhà”
Sau khi học xong bài học giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi:
“Ai nhanh - Ai đúng”. Giáo viên phát cho mỗi đội một số hình ảnh về các dụng
cụ phòng cháy chữa cháy: bức tranh vẽ bình xịt nước, gọi cứu hỏa 114, chậu
nước, chăn mền, xăng dầu, bật lửa và đèn dầu....
Cho các đội thảo luận chọn tranh trong thời gian 1 phút sao cho các tranh
đúng với nội dung bài học. Sau khi chọn xong các đội phải nêu được tại sao
mình lại chọn tranh đó. Ví dụ khi chọn bình xịt nước các em phải giải thích được
khi có hỏa hoạn phải dùng bình xịt nước để giảm bớt độ cháy và có tác dụng dập
lửa
+ Hướng dẫn các em biết tự đánh giá kĩ năng trước và sau bài học.
Ví dụ: Bài: “ Không chơi các trò chơi nguy hiểm”
Phiếu đánh giá
Nội dung đánh giá
Trước khi học bài học này
Khi ở trường em nhảy dây, bắn bi, bắn súng
thường chơi những trò nhựa, quay xèng, cù, trèo cây,
chơi nào?

- Bước 1 : Lựa chọn đối tượng quan sát: Tùy theo nội dung học tập giáo viên sẽ
chọn đối tượng quan sát phù hợp với trình độ học sinh và điều kiện địa phương.
- Bước 2 : Xác định mục đích quan sát: Trong quá trình quan sát không phải lúc
nào học sinh cũng rút ra được những đặc điểm của đối tượng. Vì vậy, với mỗi
đối tượng giáo viên cần xác định mục đích của việc quan sát .
- Bước 3 : Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát: Có thể tổ chức cho học sinh
quan sát cá nhân, quan sát theo nhóm hoặc cả lớp. Quan sát tổng thể rồi mới đi
đến bộ phận, chi tiết. Quan sát từ bên ngoài rồi mới đi vào bên trong. So sánh
với các đối tượng cùng loại để tìm ra những đặc điểm giống nhau và khác nhau.
- Bước 4 : Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát được về đối tượng.
- Ví dụ: Dạy bài “ Thực vật ”
Đối với các bài về: rễ, thân, lá, hoa, quả và một số con vật... đối tượng

20


quan sát là vật thật, giáo viên cho các em huy động nhiều giác quan vào quá
trình tri giác để giúp các em có thể hình thành những kĩ năng quan sát một cách
dễ dàng ( Lá màu gì, thân to hay nhỏ, hoa màu gì, cánh hoa như thế nào? đặc
điểm giống và khác nhau...). Chọn thời điểm thích hợp nhất cho các em quan sát
là trước giờ học, giờ ra chơi, hay quan sát trước ở nhà. Sau đó báo cáo kết quả
quan sát được về đối tượng vào những hoạt động có liên quan trong khi dạy.

Học sinh quan sát cây và hoa
+ Hình thành kĩ năng cảm nhận về thiên nhiên tươi đẹp.
Giúp các em nhìn thực tế các em chỉ và nói được đặc điểm của các cây,
con vật mà mình và các bạn đã quan sát.
Ví dụ: Khi dạy bài “Thân cây” giáo viên có thể cho các em đi thăm vườn
trường hoặc vườn nhà. Quan sát các loại thân cây mọc như thế nào?( đứng, leo,
bò). Đặc điểm của các loại thân( thân gỗ, thân thảo) sau đó ghi những điều quan

quanh mình nó thì có phải 1 phần trên Trái Đất luôn luôn tối và phần kia luôn
luôn sáng không?
- Câu hỏi và câu trả lời của Học sinh: Nếu Trái đất ngừng quay quanh

22


mình nó thì có phải phần gần mặt trời sáng không? (Nếu Trái đất ngừng quay
quanh mình nó thì phần Trái Đất gần mặt trời sáng được chiếu sáng.) Phần còn
lại không được chiếu sáng sẽ như thế nào? ( Phần đó sẽ là ban đêm vĩnh viễn)...
+ Hình thành kĩ năng phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng
của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
Để giúp cho các em biết phân tích và rút ra những dấu hiệu chung riêng...
giáo viên cần cho các em làm thí nghiệm, quan sát và ghi những điều mình thấy
được vào sổ sau đó phân tích, rút ra kết luận
Ví dụ: Dạy bài “ Tôm cua – cá” Giáo viên hướng dẫn cho các em làm thí
nghiệm trước ở nhà. Quan sát tôm cua, mổ cá ...rồi ghi nhận xét và sổ: tôm và
cua có hình dạng, kích thước khác nhau, chúng đều không có xương sống. Cơ
thể chúng được bao phủ một lớp vỏ cứng.... Cá là động vật có xương sống, sống
dưới nước, thở bằng mang...

Dạy bài: “ Ngày và đêm trên trái đất” Giáo viên hướng dẫn cho các em về
nhà làm trước thí nghiệm và ghi lại kết quả thí nghiệm đó: Tại sao bóng đèn
không chiếu sáng được toàn bộ quả địa cầu. Dùng một bóng đèn tượng trưng
cho Mặt trời. Quả địa cầu tượng Trưng cho Trái Đất, đánh dấu 1 điểm A bắt kì
trên quả địa cầu. Đặt trong phòng tối. Quay từ từ quả điạ cầu theo chiều quay
của Trái Đất. Quan sát điểm A lần lượt đi vào hoặc đi ra vùng được chiếu sáng.
+ Hình thành và phát triển kĩ năng điều tra cho các em

23

được sau mỗi bài học, khoảng thời gian để bộc lộ kĩ năng, phương pháp và cách
tiến hành, sự linh hoạt trong tiết dạy, khéo léo lồng ghép, phát huy kĩ năng đã có

24


và sau bài học một cách nhẹ nhàng.
- Hướng học sinh vào làm việc cá nhân: tự quan sát, nghiên cứu, tưởng
tượng, phân tích, so sánh ... rút ra kết luận. Từ đó dễ dàng hình thành kĩ năng
thành thạo cho các em.
- Khuyến khích lối học tập tích cực, học tập cộng tác. Giáo viên chủ yếu
là người thiết kế và huấn luyện. Học sinh được chủ động thực hiện việc học tập
của bản thân. Khuyến khích người học bằng cách hỗ trợ họ phát triển kĩ năng
bản thân.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
Để có được các biện pháp, giải pháp đó cần một số điều kiện sau:
- Về phía giáo viên: Trước hết, giáo viên cần xác định được mục tiêu mỗi
bài dạy cần đạt được những kĩ năng nào? Phải có phương pháp dạy học phù hợp,
có câu hỏi gợi mở để hỗ trợ học sinh phát triển kĩ năng. Giáo viên phải có sự đầu
tư, chuẩn bị chu đáo từ giáo án, đồ dùng dạy học, dụng cụ thí nghiệm…Nhiệt
tình, không ngại khó, ngại khổ. Tăng cường phát huy kĩ năng cá nhân, kĩ năng
giúp bạn đạt được kĩ năng cần thiết..
- Về phía học sinh: Chịu khó tưởng tượng, nghiên cứu, quan sát, làm thí
nghiệm…để phát triển kĩ năng cá nhân. Có ý thức giúp bạn đạt được kĩ năng
sau bài học.
- Về phía phụ huynh: Quan tâm đến việc học môn tự nhiên xã hội của con
em mình. Hiểu được tác dụng của việc học tự nhiên xã hội sẽ giúp các con có
nhiều kĩ năng và phát huy kĩ năng tốt hơn.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Mỗi một giải pháp, biện pháp đưa ra đều có mối quan hệ, chúng tác động

+ Phụ huynh học sinh luôn quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn con em mình khi
chuẩn bị bài hay sau khi học bài xong.
* ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
- Thu hút, huy động được phụ huynh tham gia đảm bảo đánh giá theo
thông tư 30. Vai trò của cha mẹ học sinh thể hiện đậm nét có tác động mạnh mẽ
đến hiệu quả của các hoạt động giáo dục, rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong
mỗi bài học.
- Việc giáo dục giá trị rèn luyện kỹ năng trong các hoạt động dạy học của
mỗi bài học Tự nhiên và xã hội được nâng lên chiếm một vị trí quan trọng trong
mục tiêu tiết dạy.

26


- Dần hình thành lực lượng nồng cốt có năng lực trong học sinh của lớp
làm nhiệm vụ tư vấn rèn luyện kỹ năng cho các học sinh khác.
- Coi trọng việc thường xuyên phát triển năng lực cá nhân bằng nhiều hình
thức khác nhau: quan sát, nghiên cứu, tưởng tượng, phân tích đánh giá....
- Thay đổi phương pháp dạy học truyền thống sang dạy học “ Lấy học sinh
làm trung tâm”
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu.
Với những nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn của cô và trò, sự giúp đỡ
của phụ huynh học sinh cùng với ý kiến đóng góp nhiệt tình, tinh thần xây dựng
của một số giáo viên mà Tôi đã thu được kết quả qua khảo nghiệm, giá trị khoa
học của vấn đề nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Kết quả khảo nghiệm thực tế ở học sinh ở khối 3 như sau:
Khối
3
Lớp 3C

Đạt 5/6
5. Tổ chức được hoạt động dạy học
Đạt 3/6
Đạt 5/6
Kết quả thu được sau khi khảo nghiệm thực tế qua xếp loại giờ dạy 1 tiết/ tháng như sau:
Xếp loại giờ dạy trước khảo Xếp loại giờ dạy sau khảo
Tổng số
nghiệm
nghiệm
Trung
Trung
Giỏi
Khá
Yếu
Giỏi
Khá
Yếu
bình
bình
6 Giáo viên
4
4
6
2
Kết quả cụ thể bản thân tôi đạt được trong năm 2015 – 2016 như sau:
Thời gian
Môn
Bài
Điểm Xếp loại
đầu năm học TNXH 3

đó. Tùy từng bài, điều kiện, trình độ của học sinh lớp mình mà giáo viên có thể
thay thế hình thức dạy học, thay thế câu hỏi, thuật ngữ sao cho phù hợp giúp học
sinh tham gia vào tiến trình phân tích, thảo luận một cách thuận lợi và hiệu quả.
Không có phương pháp dạy nào là vạn năng, vì vậy giáo viên cần phải
biết kết hợp hài hòa. Không nhất thiết tiết học nào cũng áp dụng phương pháp
mới, tùy theo mỗi bài học, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp khác nhau,
miễn là mang lại hiệu quả giáo dục kĩ năng cao nhất.
Trên đây chỉ là một vài biện pháp nhỏ đã được tích lũy thành kinh nghiệm
của bản thân và luôn được thực hiện trong quá trình dạy học của tôi. Tuy nó chỉ
là những biện pháp nhỏ nhưng rất mong được các bạn đồng nghiệp biết đến, vận
dụng trong bài dạy của mình mang lại hiệu quả cao. Hy vọng các bạn đóng góp
ý kiến để Tôi hoàn thiện hơn kinh nghiệm này. Từ đó góp phần vào việc giáo
dục kĩ năng sau bài học môn Tự nhiên và xã hội, nhằm phát triển tốt kĩ năng
sống cho các em.
III.2 Kiến nghị:
+ Đối với nhà trường:
- Để kinh nghiệm được nhiều người trong toàn trường biết đến, biết cách
và biết vận dụng một sáng tạo, đề nghị nhà trường tổ chức chuyên đề cấp trường

28


về các đề tài có tính khoa học cao để người viết được nói lên những kinh nghiệm
của bản thân, còn người tham khảo sẽ trực tiếp hỏi về những gì bản thân còn
thắc mắc. Làm như vậy sẽ giúp cho đề tài khoa học ấy tốt hơn nữa vì sẽ có thêm
nhiều ý kiến hay hỗ trợ.
- Tiếp tục phát triển vườn trường, trồng thêm một số cây cối khác nhau
như cây ăn quả, cây rau, hoa... giao cho mỗi khối lớp tự trồng và chăm sóc.
- Xây dựng mô hình nuôi một số con vật như thỏ, gà, chim bồ câu... giao
cho các lớp và phụ huynh chăm sóc.

II.
I.1
I.2
a.
b.
c.
d.
e.

Nội dung
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung:
Cơ sở lý luận
Thực trạng
Thuận lợi - khó khăn
Thành công - hạn chế
Mặt mạnh - mặt yếu
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài
đã đặt ra.
I.3.
Giải pháp, biện pháp
a.
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
b.

Trang 8
Trang 9
Trang 9
Trang 25
Trang 25
Trang 26
Trang 27
Trang 28
Trang 29
Trang 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa, sách giáo viên Tự nhiên và xã hội lớp 3
2. Chuẩn kiến thức kĩ năng Tiểu học
3. Cách đánh giá học sinh tiểu học theo TT30
4. Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học ở môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
5. Một số bài giảng mẫu trang giáo án Violet
6. Một số kĩ năng sống dành cho học sinh tiểu học.

30




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status