SKKN một số biện pháp giúp giáo viên tiểu học tổ chức dạy học 2 buổi ngày có hiệu quả - Pdf 32

PHẦN I
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học
nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp
tục học tốt ở bậc Trung học cơ sở.
Để thực hiện mục tiêu trên thì việc tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày ở các
trường Tiểu học là cần thiết. Đặc biệt là ở các trường HS 100% là người dân tộc
H.Mông, học sinh chủ yếu là tiếp thu học tập tại trường, về nhà thường không có
sự quan tâm của phụ huynh tạo thời gian cho con học, ôn bài. Làm thế nào để nâng
cao chất lượng giảng dạy và hoạt động 2 buổi/ ngày mà vẫn đảm bảo được phương
châm của giáo dục Tiểu học là “ Học nhẹ nhàng- tự nhiên- hứng thú- hiệu quả” ?
Dạy học 2 buổi/ ngày là phương thức bổ sung thêm thời gian cho việc học
tập, hoạt động của HS ở trường. Dạy học 2 buổi/ ngày sẽ sử dụng hiệu quả thời
gian tăng thêm ở trường để tổ chức các hoạt động giáo dục theo một chương trình,
kế hoạch được điều chỉnh và mở rộng. HS tham gia thực hiện phương thức học cả
ngày sẽ được học tập, hoạt động cả buổi sáng, buổi chiều tại trường vào các ngày
trong tuần.
Dạy học 2 buổi/ ngày là giải pháp tích cực để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện ở Tiểu học. Học 2 buổi/ ngày nhằm tăng thêm thời lượng học tập và rèn các kĩ
năng cho học sinh trên một đơn vị kiến thức đồng thời có thời gian dành cho các
hoạt động giáo dục tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường, giúp học
sinh củng cố kiến thức và phát triển năng khiếu, tránh được tình trạng quá tải trong
học tập, làm cho việc dạy học trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn và tránh được
tình trạng dạy thêm, học thêm ở Tiểu học.
Trước yêu cầu trên, thầy, cô, những người làm công tác sư phạm phải hiểu và
phải tìm kiếm những giải pháp giáo dục sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
của các em thông qua các hoạt động vừa học- vừa chơi trong ngày do nhà trường tổ

1


gặp nhiều khó khăn.
3


- Tài liệu tham khảo còn ít, còn thiếu các phương tiện nghe, nhìn…
Để khắc phục những khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và tìm ra các giải pháp
nhằm giúp giáo viên Tiểu học tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày có hiệu quả hơn.
PHẦN IV
NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ÁP DỤNG
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên có nhận thức đúng đắn về việc tổ chức
dạy học 2 buổi/ ngày thông qua nói chuyện, sinh hoạt chuyên môn, qua hội đồng
giáo dục, qua dự giờ đồng nghiệp để họ thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức
dạy học 2 buổi/ ngày sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện trong nhà
trường.
Phân tích cho giáo viên hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa của việc dạy 2 buổi/
ngày để từ đó định hướng cho mình trong công tác chuẩn bị và thiết kế bài dạy
phù hợp.
Thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, các phong trào thi đua của nhà
trường để tuyên truyền cho các bậc phụ huynh thấy được tầm quan trọng của dạy
học 2 buổi/ ngày và sự phối kết hợp của phụ huynh trong công tác giáo dục của
nhà trường là rất quan trọng.
Biện pháp 2: Xác định số tiết tăng thêm cho các môn, các khối lớp và
phân loại đối tượng học sinh.
a) Xác định số tiết tăng thêm cho các môn, các khối lớp.
Trên cơ sở số tiết quy định theo QĐ16/2016 của Bộ GD&ĐT, theo yêu cầu
của chuẩn KTKN cho từng môn học, dựa vào hướng dẫn của ngành và các yêu cầu
cụ thể, các kĩ năng cần giáo dục cho học sinh, lấy ý kiến từ tổ chuyên môn, Hội
đồng chuyên môn để thống nhất thời lượng các tiết cần tăng thêm ở các môn học
đảm bảo 35 tiết/ tuần trong đó bao gồm (Các tiết cần tăng thêm về các môn Toán,

+ Thời khóa biểu được mềm hóa, đây là thời khóa biểu được sắp xếp luân
chuyển theo từng tháng. VD:1 tuần có 1 tiết Tiếng Việt và 1 tiết Toán có thể thay
thế luân chuyển cho nhau tùy theo lượng kiến thức bài học cần rèn luyện bổ sung
trong tuần.

5


+ Hai tuần có 1 buổi năng khiếu tự chọn cho khối 1,2 ( gồm: Âm nhạc, Mĩ
thuật, Tiếng Anh). Một tháng có một buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp theo khối.
*Định hướng nội dung giảng dạy:
Chương trình dạy chính khóa được dạy phân bố thành bài, đan xen trong
suốt chương trình, không tường minh thành dạng cụ thể. Vì thế, nhà trường kết hợp
với tổ khối chuyên môn tiến hành nghiên cứu kiến thức theo từng khối lớp và phân
định kiến thức chính khóa thành các phần trọng tâm. Từ đó định ra các mảng, dạng
tăng buổi cho từng nhóm đối tượng học sinh trong từng khối cụ thể như sau:
* Các môn Toán và Tiếng Việt:
+ Khối 1-2: Tập trung vào lượng kiến thức trong tuần, hệ thống bổ sung kiến
thức học sinh còn gặp khó khăn. Yêu cầu giáo viên dạy chắc kiến thức cơ bản, chú
trọng đến đối tượng học sinh yếu sao cho học sinh đọc thông, viết thạo, biết tính
toán trong phạm vi 100. Chú ý đến rèn chữ viết cho học sinh.
+ Khối 3: Đây là lớp thu nhận kiến thức bản lề của toàn cấp học. Yêu cầu
giáo viên dạy kĩ các kiến thức trọng tâm để các em thuận lợi trong việc tiếp thu
kiến thức ở lớp trên. Dù kiến thức ở lớp 3 chưa tường mình thành dạng như lớp 4,5
nhưng đã xuất hiện. Bởi vậy, yêu cầu giáo viên phải nắm được chương trình toàn
cấp học để xác định được điểm dừng của chương trình và cung cấp các mảng kiến
thức phù hợp cho từng loại đối tượng. Chú ý hướng dẫn phương pháp tự học cho
học sinh.
+ Khối 4,5; Dạy theo các mảng đã học nhưng phát triển theo hình thức
chuyên sâu và mở rộng cùng với việc bổ sung một số kiến thức mới. Chú ý cách

công việc cho từng nhóm giáo viên, ngoài việc phân công theo chuyên môn còn
phải dựa vào năng lực, sở trường của từng người để phân giáo viên theo các nhóm.
+ Nhóm dạy học sinh giỏi: Là những giáo viên dạy được toàn cấp, có kinh
nghiệm trong giảng dạy, năng lực chuyên môn vững chắc, có khả năng hệ thống
hóa các mạch kiến thức, có ý thức học hỏi và tìm tòi trong chuyên môn…
+ Nhóm phụ đạo học sinh yếu: Là những giáo viên chịu khó, nhẹ nhàng, gần
gũi và yêu thương học sinh, hiểu biết tâm lý độ tuổi, dễ thông cảm sẻ chia, kiên trì
rèn luyện và giáo dục học sinh…
7


+ Nhóm tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Là những giáo viên có
năng lực tổ chức các hoạt động, sự kiện; vui vẻ, cởi mở, hòa đồng, có năng khiếu
hát, múa, hiểu biết về vấn đề xã hội… ( Gồm: Tổng phụ trách, giáo viên âm nhạc,
cán bộ y tế học đường và một giáo viên dạy văn hóa có năng lực tổ chức các hoạt
động tập thể).
+ Nhóm dạy các môn tự chọn: Gồm giáo viên Tiếng Anh.
+ Nhóm dạy các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng học sinh: Gồm
BGH nhà trường và Hội đồng chuyên môn.
Biện pháp 5: Nhân rộng tiên tiến điển hình
Đây là giải pháp có hiệu quả, giải pháp này sẽ phát huy tinh thần tương trợ
và tính tự giác của mỗi giáo viên trong công tác dạy học 2 buổi/ ngày.
Chỉ đạo, xây dựng và tổ chức các chuyên đề dạy học buổi thứ 2 các môn
học, ở các khối lớp.
Giao trách nhiệm cho lực lượng nòng cốt để giúp đỡ đồng nghiệp như dạy
mẫu, dự giờ, rút kinh nghiệm... phát hiện những thiếu sót để bổ sung kịp thời.
Biện pháp 6: Đa dạng hóa các phương pháp và hình thức dạy học
Trong dạy học không có phương pháp nào là vạn năng, không có hình thức
dạy học nào là tối ưu cả. Vì vậy chúng ta phải biết phối hợp các phương pháp và
hình thức dạy học một cách linh hoạt để phát huy tốt vai trò chủ động, sáng tạo của

II. Chuẩn bị:
- Học sinh: Bảng con, phấn, …
- Giáo viên: Hoa điểm 10, 3 bảng nhóm.
III. Các hoạt động dạy học:
* Hoạt động 1: Học sinh làm bài cá nhân
- Giáo viên gắn bảng phụ đã ghi bài 1 lên bảng.
Bài 1: Gạch 1 gạch dưới bộ phận trả lời câu hỏi Ai; Gạch 2 gạch dưới bộ phận trả
lời câu hỏi “ là gì?”, “ làm gì?”, “ thế nào?”.
a) Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
b) Khi được chăm sóc chu đáo, chị hồng nhung rất xinh tươi.
c) Suốt ba tháng hè, bác trống ngủ khì trên giá.
- Học sinh tự làm bài vào vở ô ly.
9


- Giáo viên chấm 1 số bài.
- Chữa bài: Cho học sinh chia sẻ để khắc sâu kiến thức. Chẳng hạn:
H. Từng câu trên thuộc mẫu câu nào bạn đã học?
H. Trong 3 câu trên, câu nào sử dụng biện pháp nhân hóa? Câu nào sử dụng biện
pháp so sánh? Vì sao bạn biết?...
H. Tại sao phải sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh?
H. Để người đọc, người nghe hiểu ý thì khi viết, khi nói bạn cần chú ý gì?
* Hoạt động 2: Trò chơi “ Ai tài nhân hóa”
Bước 1: Yêu cầu một học sinh có năng khiếu văn nghệ của lớp hát một bài trong
đó có các con vật được nhân hóa ( VD: Chị ong nâu và em bé).
Bước 2: Học sinh nêu tên con vật được nhân hóa trong lời bài hát? Nêu từ ngữ thể
hiện sự nhân hóa .
Bước 3: Chơi “ Ai tài nhân hóa” – Nhóm
+ Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm. Các nhóm thi đua với nhau.
+ Giáo viên nêu tên trò chơi và luật chơi.

a) Lựa chọn nội dung kiến thức cho phù hợp với từng nhóm đối tượng học
sinh.
Việc lựa chọn nội dung kiến thức cho từng tiết dạy ở buổi 2 là một công việc
hết sức quan trọng và có ý nghĩa nhằm giúp giáo viên có định hướng trong quá
trình giảng dạy (Tùy vào điều kiện và trình độ của học sinh lớp mình mà giáo viên
cần linh hoạt vận dụng đưa nội dung kiến thức vào trong từng tiết học cho phù
hợp).
Việc lựa chọn nội dung phải dựa trên nhu cầu của người học. Các nội dung
đưa ra cho học sinh phải gắn với nhiệm vụ học tập tương ứng để đạt được mục
tiêu của tiết học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học thì hệ thống các bài tập phải
được lựa chọn sao cho đa dạng và phong phú về nội dung, phải mang tính vừa sức
và phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Khi lựa chọn nội dung cho dạy buổi 2 phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ
năng cần đạt của từng bài, từng phần và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh ở
buổi 1. Xem các em đã tiếp thu kiến thức ở mức độ nào? Những gì đã đạt được so
11


với chuẩn và những gì cần bồi dưỡng thêm? Nắm bắt được những vấn đề đó thì
giáo viên sẽ biết mình cần lựa chọn nội dung gì cho học buổi 2.
Cụ thể:
+ Đối với học sinh yếu: Đây là học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản
hay nói cách khác là các em chưa nắm được kiến thức theo chuẩn KTKN cần đạt.
Với những học sinh này thì giáo viên cần chú ý hơn và hướng dẫn các em bằng
những lời động viên, đưa ra hệ thống bài tập nhằm củng cố kiến thức cơ bản và câu
hỏi gợi mở để các em nắm được chuẩn KTKN cần đạt. Giáo viên không ra thêm
kiến thức mới cho các em.
+ Đối với học sinh trung bình: Qua tiết học chính khóa cơ bản các em đã
nắm được nội dung kiến thức và biết vận dụng để làm các bài tập song các em
cũng chỉ mới dừng lại ở tính rập khuôn, máy móc chứ chưa thành thạo và có kĩ

( Hệ thống bài tập đưa ra phải theo từng đối tượng và trình độ nhận thức của HS)
- Hoạt động 3: Củng cố, dặn dò.
Ví dụ về một tiết dạy học buổi 2:
Luyện tập về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5 ( Toán lớp 4)
I. Mục tiêu:
* Đối với học sinh yếu:- Biết dấu hiệu chia hết cho 2 và 5.- Biết kết hợp dấu
hiệu chia hết cho 2 và 5.
* Đối với học sinh trung bình.- Biết dấu hiệu chia hết cho 2 và 5.- Biết kết
hợp dấu hiệu chia hết cho 2 và 5.- Luyện kĩ năng làm bài.
* Đối với học sinh khá, giỏi: Ngoài những mục tiêu như học sinh trung bình
còn yêu cầu cao hơn đó là: Vận dụng kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5 để
làm dạng toán tìm một số khi chia cho 2 và 5 có dư.
II. Chuẩn bị:
- Học sinh: Bảng con, phấn, dẻ lau
- Giáo viên: Bảng phụ
13


III. Các hoạt động dạy học:
1. Hoạt động 1: Củng cố kiến thức ( 5 – 7 phút)
- Những số chia hết cho 2 là những số nào? Lấy ví dụ.
- Những số chia hết cho 5 là những số nào? Lấy ví dụ.
- Em có nhận xét gì về số vừa chia hết cho 2, vừa chia hết cho 5.
- Giáo viên chốt lại kiến thức ôn.
2. Hoạt động 2: Luyện kỹ năng và phát triển tư duy
Chia lớp thành các nhóm đối tượng: Học sinh yếu, trung bình, khá giỏi.
* Đối với học sinh yếu: Củng cố lại kiến thức cơ bản của tiết chính khóa.
Bài 1. Cho các số sau:
125; 678; 645; 1254; 1780; 1426; 575; 2170
a) Những số nào chia hết cho 2?

- Hệ thống lại kiến thức vừa luyện
- Nhận xét đánh giá tiết học.
Đây là một trong những tiết dạy rất thực tế và thường xuyên trong chương
trình dạy học buổi 2; vì chỉ cần nắm chắc trình độ của từng đối tượng học sinh và
giáo viên chịu khó nghiên cứu, tìm tòi để lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp với
từng đối tượng học sinh thì sẽ đem lại hiệu quả cho tiết học.
Biện pháp 8. Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng, kết hợp đan xen các tiết học một
cách hợp lý, tích hợp các kiến thức ở các lĩnh vực qua sân chơi trí tuệ cho học
sinh.
Ngoài những tiết ôn luyện kiến thức trên lớp thì việc tổ chức các sân chơi trí
tuệ cho học sinh cũng vô cùng quan trọng bởi lúc đó các em được ôn kiến thức,
được luyện kĩ năng, được phát triển toàn diện trong không khí thi đua sôi nổi, vui
tươi, lành mạnh. Để làm được điều đó thì giáo viên cần xây dựng tốt các tiết hoạt
động tập thể nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. Giáo viên có
15


thể đan xen các tiết vào nhau, xâu chuỗi các tiết tạo thành một buổi sinh hoạt câu
lạc bộ ( Câu lạc bộ toán học, câu lạc bộ âm nhạc, câu lạc bộ mĩ thuật…), một buổi
sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, một sân chơi trí tuệ cho học sinh như các cuộc thi:
Rung chuông vàng, nhà sử học nhỏ tuổi…
Ví dụ: Cuộc thi “ Rung chuông vàng”- Dành cho học sinh khối 5.
I. Mục tiêu:
- Thực hiện yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Tạo không khí thi đua học tập qua đó kiểm tra đánh giá kết quả cũng như khả
năng ghi nhớ kiến thức của học sinh ở các môn học.
II. Chuẩn bị:
- Học sinh: Bảng con, phấn, dẻ lau.
- Giáo viên: Còi, chuông, bảng phụ.
III. Thành phần

A. đơn giản
B. đơn sơ
C. đơn cử
Câu 7: Trong một bài văn có mấy cách mở bài?
Câu hỏi về các môn khác:
Câu 1: Sống ở đồng bằng Nam Bộ chủ yếu là dân tộc nào?
A. Kinh, Thái, Khơ- me, Hoa.
B. Kinh, Khơ- me, Mông, Hoa.
C. Kinh, Khơ- me, Chăm, Hoa.
Câu 2: Vị vua cuối cùng của triều đình nhà Lý là ai?
Câu 3: Chiến thắng trên sông Bạch Đằng do ai lãnh đạo?
17


Câu 4: Ải Chi Lăng ở tỉnh nào của nước ta?
Câu 5: Các loại cây cho củ cần chất khoáng nào nhiều hơn?
Câu 6: Trong hoạt động hô hấp của con người, chất khí nào được thấm vào máu ở
phổi đi nuôi cơ thể?
Biện pháp 9: Đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng và theo
năng lực.
Khâu đánh giá và ghi nhận kết quả của học sinh cũng rất quan trọng. Dù học
ở buổi nào thì việc đánh giá không những ghi nhận được kết quả học tập của học
sinh mà còn phải tạo ra động lực giúp các em cố gắng vươn lên, tránh đánh giá
máy móc làm học sinh tự ti, mặc cảm. Đặc biệt ở dạy buổi 2 khi mà vấn đề dạy học
phân hóa càng rõ nét thì việc đánh giá học sinh cũng cần lựa chọn từng nội dung,
từng hình thức đánh giá theo năng lực từng em, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của
học sinh, đề cao quyền đánh giá lẫn nhau của học sinh. Với học sinh yếu cần đánh
giá việc nắm chuẩn kiến thức cần đạt. Với học sinh trung bình thì ngoài việc nắm
vững chuẩn kiến thức cần đánh giá thêm về kĩ năng làm bài của các em. Với học
sinh khá giỏi, ngoài việc đánh giá những yêu cầu như học sinh trung bình cần đánh

việc kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm lại càng phải được quan tâm và đòi hỏi
CBQL phải có năng lực chuyên môn sâu để cùng với giáo viên nghiên cứu, tổ chức
thực hiện, cập nhật được chương trình nội dung giảng dạy. Từ đó để có hướng chỉ
đạo việc đánh giá, rút kinh nghiệm hàng tuần, hàng tháng một cách thiết thực, kịp
thời và điều chỉnh nội dung, phương pháp và có kế hoạch chỉ đạo phù hợp cho
những tháng tiếp theo.
Kiểm tra thường xuyên giáo án, chất lượng giờ dạy, tích lũy chuyên môn
nghiệp vụ để bổ trợ cho việc học tăng buổi và kiểm tra chất lượng học sinh để lấy
cơ sở đánh giá xếp loại giáo viên và học sinh.
Sau mỗi đợt kiểm tra phải phân tích và chỉ ra những ưu điểm mà giáo viên
đã đạt được; đồng thời điều chỉnh kịp thời những vướng mắc cho giáo viên; có
đánh giá, xếp loại theo tháng.
19


Tuyên dương, khen thưởng kịp thời những giáo viên, học sinh tích cực
trong công tác dạy và học 2 buổi / ngày.
Nêu gương những phụ huynh tích cực phối kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm, với nhà trường trong công tác giáo dục.
PHẦN V
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Sau khi áp dụng các biện pháp vào thực tế dạy học 2 buổi/ ngày của nhà
trường, tôi thấy chất lượng dạy và học được nâng lên rõ nét cụ thể là:
* Đối với giáo viên:
Giáo viên hiểu rõ hơn mục đích và ý nghĩa của dạy học 2 buổi/ ngày; Khi
giáo viên được phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng, được tạo điều kiện để
phát huy được năng lực của bản thân, có thời gian nghiên cứu sâu bài dạy, biết
cách xây dựng và lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt
động học tập một cách sáng tạo và phù hợp với đối tượng học sinh, không cảm
thấy khó khăn khi thiết kế bài giảng ở buổi 2. Giáo viên cảm thấy tự tin hơn, không

36/36

- Giáo viên hiểu rõ mục đích và ý nghĩa của dạy
học 2 buổi/ ngày. Có ý thức nghiên cứu và đầu
tư cho công tác soạn, giảng buổi 2.
- Giáo viên có kĩ năng lựa chọn nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động
dạy học 2 buổi/ ngày.
- Giáo viên có kĩ năng dạy học phân hóa theo
đối tượng học sinh.
- Giáo viên tự tin, biết vận dụng linh hoạt các
phương pháp và có khả năng đa dạng hóa các
20


hình thức dạy học.
- Giáo viên có khả năng tổ chức các hoạt động

10/36

tập thể.

30/36

* Đối với học sinh:
Quyền lợi của học sinh được đảm bảo; học sinh yếu, học sinh có hoàn cảnh
khó khăn được sự quan tâm, kèm cặp, giúp đỡ; học sinh có năng khiếu được phát
hiện kịp thời và được tạo điều kiện tốt để tiếp tục phát triển. Học sinh cảm thấy
thoải mái, vui vẻ, tự tin, tích cực tham gia các hoạt động tập thể ở trường, ở lớp.
Tất cả học sinh đều hồ hởi đón nhận tiết học buổi 2; Các em đều hăng say, tự giác

biện pháp

biện pháp

121/363
85/363
78/363
71/363
110/363
182/363

363/363
363/363
345/363
1/363
128/363
234/363

350/363

362 /363
21


KẾT LUẬN
I. Kết luận:
Để việc dạy học 2 buổi/ ngày ở tiểu học đáp ứng được nhu cầu, quyền lợi
học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đạt là một
yêu cầu quan trọng, cần thiết và đầy khó khăn vì đòi hỏi người thầy phải biết đổi
mới phương pháp và vận dụng các phương pháp một cách linh hoạt phù hợp với

ngày ở Tiểu học sẽ được nâng lên.
*) Đối với nhà trường:
Nâng cao chất lượng buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối bằng các chuyên đề
dạy học cụ thể và thiết thực.
Thường xuyên kiểm tra dưới mọi hình thức công tác dạy học 2 buổi/ ngày để
bồi dưỡng tại chỗ và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc cho giáo viên.
Làm tốt công tác nhân rộng tiến tiến điển hình để có sự hỗ trợ và giúp đỡ lẫn
nhau.
Phối hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề liên trường về nâng cao hiệu quả dạy học
buổi 2.
Trên đây là một số biện pháp giúp giáo viên Tiểu học nâng cao chất lượng
dạy- học 2 buổi/ ngày. Những biện pháp này đã được áp dụng tại trường trong năm
học 2013- 2014 có hiệu quả. Tôi mạnh dạn đưa ra, mong muốn nhận sự góp ý, bổ
sung của Hội đồng khoa học giúp tôi thực hiện tốt hơn công tác dạy học 2 buổi/
ngày trong những năm học tiếp theo.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Bản Phố, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Người viết

Phạm Thị Tính
ĐÁNH GIÁ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
23


………………………………………………………………………………………………………
Xếp loại:……………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status