TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ KHÁNH HUYỀN
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA ĐÌNH TÂY ĐẰNG THỊ TRẤN TÂY ĐẰNG - HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HẰNG
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các
thầy cô giáo khoa Ngữ văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, đặc biệt là
TS. Nguyễn Thị Việt Hằng đã nhiệt tình hƣớng dẫn em hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Vũ Khánh Huyền
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn của TS. Nguyễn Thị Việt Hằng. Các kết quả trong khóa luận là
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
5. Đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................. 4
6. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 4
8. Đóng góp của khóa luận ............................................................................. 5
9. Cấu trúc của khóa luận ............................................................................... 5
NỘI DUNG .................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG..................................................... 6
1.1. Huyện Ba Vì – địa danh giàu truyền thống lịch sử và văn hóa ................. 6
1.1.1. Tình hình chính trị - xã hội ................................................................... 6
1.1.2. Nét văn hóa tiêu biểu ............................................................................ 8
1.2. Đình Việt Nam ...................................................................................... 10
1.2.1. Nguồn gốc .......................................................................................... 10
1.2.2. Chức năng .......................................................................................... 12
1.2.3. Giá trị của đình làng ........................................................................... 18
CHƢƠNG 2: ĐÌNH TÂY ĐẰNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA .................................................................................... 21
2.1. Nguồn gốc ............................................................................................. 21
2.2. Kiến trúc và điêu khắc ........................................................................... 24
2.3. Lễ hội .................................................................................................... 29
2.3.1. Phần lễ ................................................................................................ 30
2.3.2. Phần hội.............................................................................................. 32
2.4. Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị trong quá trình bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa của đình Tây Đằng ................................................... 35
2.4.1. Thực trạng .......................................................................................... 35
2.4.2. Giải pháp ............................................................................................ 39
2.4.3. Kiến nghị ............................................................................................ 42
KẾT LUẬN .................................................................................................. 45
những giá trị lịch sử, văn hóa huyện Ba Vì. Từ đó, thấy đƣợc tiềm năng du
1
lịch văn hóa và đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
đối với địa danh này trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu chúng tôi lựa chọn đề tài Bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa đình Tây Đằng - thị trấn Tây Đằng - huyện Ba
Vì - thành phố Hà Nội làm khóa luận tốt nghiệp bậc Đại học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giá trị văn hóa làng nói chung và đình làng nói riêng từ lâu đã đƣợc
nhiều học giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ. Bƣớc
vào thời kì đổi mới, nhất là những năm 80 của cuối thế kỉ XX, nhờ những
chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc về văn hóa, đã tạo điều kiện cho
những nghiên cứu sâu về văn hóa làng nói chung và giá trị của đình làng nói
riêng.
Đình Tây Đằng là ngôi đình có giá trị về nhiều mặt, đƣợc xếp hạng di
tích Quốc gia đặc biệt. Di tích có kiến trúc cổ quý giá đƣợc xây dựng từ thế kỉ
XVI. Căn cứ vào tiêu chí xếp hạng di tích lịch sử và nghệ thuật của Bộ Văn
hóa và Vụ Bảo tồn Bảo tàng, đình Tây Đằng xứng đáng là di tích kiến trúc,
nghệ thuật độc đáo.
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả viết về di tích đình Tây
Đằng nhƣ sau:
Nguyễn Hồng Kiên (2003), Những ngôi đình làng thế kỷ 16 ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học,
Hà Nội. Trong luận án, ông đã giới thiệu về địa lý cảnh quan, Thành Hoàng
làng, kiến trúc, điêu khắc trang trí và niên đại của ngôi đình. Công trình
nghiên cứu của ông thiên về lĩnh vực Khảo cổ học. [11]
Vũ Thế Bình (2009), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin. Tác
Đề tài nhằm góp phần khảo cứu, điều tra đánh giá về thực trạng hệ
thống kiến trúc và việc giữ gìn giá trị văn hóa ở đình Tây Đằng. Từ đó hƣớng
tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đình Tây Đằng.
3
Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất một số định hƣớng khai thác các tiềm
năng, đặc biệt là các phƣơng hƣớng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
tại đình Tây Đằng. Từ đó để đình Tây Đằng mãi lƣu giữ đƣợc những giá trị
văn hóa của mình và trở thành một trong những điểm nhấn của vùng đất Ba
Vì.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày những vấn đề cơ bản về đình làng Việt Nam, đối tƣợng
hƣớng tới cụ thể ở đây là đình Tây Đằng
Đề xuất phƣơng hƣớng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đình Tây
Đằng ở thị trấn Tây Đằng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
đình Tây Đằng ở thị trấn Tây Đằng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội. Trong
đề tài nghiên cứu tổng thể các giá trị vật chất cũng nhƣ về tinh thần của ngôi
đình này với tƣ cách là một thành tố cơ bản của di sản văn hóa.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu về các giá trị văn hóa của ngôi đình cổ Tây
Đằng nhằm mục đích khai thác và đề xuất phƣơng hƣớng bảo tồn và phát huy
các giá trị đặc sắc của địa danh này.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên một số phƣơng pháp sau:
Phƣơng pháp truy vấn thông tin qua internet
Phƣơng pháp điền dã, khảo sát, nghiên cứu thực địa
giáp tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh
Phúc. Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ
đô Hà Nội tháng 8 năm 2008.
Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia
thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông
Hồng.
Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hƣởng
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí tƣợng trung bình nhiều năm ở trạm
khí tƣợng Ba Vì cho thấy:
Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình
23oC, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6oC.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 20oC
tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15oC.
Đất đai huyện Ba Vì đƣợc chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và
nhóm đất vùng đồi núi. Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1%
diện tích đất đai toàn huyện. Nhóm đất vùng đồi núi: 18.478 ha bằng 58,9%
đất đai của huyện.
Thủy văn của Ba Vì hết sức độc đáo, xung quanh gần nhƣ đƣợc bao bọc
bởi hai dòng sông lớn là sông Hồng và sông Đà. Ngoài ra trong khu vực còn
6
có nhiều các dòng suối nhỏ bắt nguồn từ trên đỉnh núi xuống, mùa mƣa lƣợng
nƣớc lớn tạo ra các thác nƣớc đẹp nhƣ thác Ao Vua, thác Ngà, thác Khoang
Xanh... Đứng trên đỉnh núi Ba Vì ta có thể quan sát đƣợc toàn cảnh non nƣớc
của vùng. Phía Tây là dòng sông Đà chảy sát chân núi. Phía Đông là hồ Đồng
Mô, phía Bắc là Hồ Suối Hai, xa hơn là dòng sông Hồng. Tất cả tạo nên cảnh
trí non nƣớc hữu tình thơ mộng hiếm có của vùng núi Ba Vì.
Động thực vật Ba Vì rất đa dạng, phong phú. Hiện nay các nhà thực vật
dục đƣợc quan tâm đã có 18 trƣờng trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia. Công tác
y tế đã có 23/31 trạm có Bác sỹ, 30/31 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Về văn
hóa đã có 96 làng và 45 cơ quan đạt danh hiệu văn hóa, thể dục thể thao tiếp
tục phát triển.
Ba Vì đƣợc thiên nhiên ƣu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình,
với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, đƣợc coi là "lá phổi xanh"
phía Tây thủ đô Hà Nội, là điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nƣớc.
Đó chính là Vƣờn Quốc Gia Ba Vì. Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiên
nhiên tƣơi đẹp nhƣ: Núi, rừng, Thác, suối, Sông, Hồ cùng với các danh lam
thắng cảnh nổi tiếng nhƣ: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa,
Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm
Quỳ, Rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, Đồi cò Ngọc Nhị... Nơi có
nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú. Có nguồn
nƣớc khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển du
lịch nghỉ dƣỡng.
1.1.2. Nét văn hóa tiêu biểu
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi nhƣ vậy, huyện
Ba Vì còn có nhiều yếu tố lịch sử và văn hóa độc đáo. Di tích lịch sử văn hóa
ở Ba Vì rất phong phú và đa dạng, bao gồm hệ thống các di tích và các nguồn
8
tƣ liệu văn bia, minh văn tôn thờ Tản Viên Sơn Thánh. Núi Ba Vì là cái nôi
của huyền thoại Sơn Tinh, Thuỷ Tinh - Thần Tản Viên và thần Sông nƣớc
(sông Đà). Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi thờ Sơn Tinh - vị thánh đứng
đầu trong Tứ bất tử mà điển hình là: Đền Thƣợng, Đền Trung, Đền Hạ, Đình
Tây Đằng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (Đông Cung), Đền Bố - Tản Lĩnh
(Nam Cung), Đền La Phù - Phú Thọ (Tây Cung),… Cùng với đó, Ba Vì còn
là nơi tôn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta.
khắc nổi bật đã góp phần tạo thành giá trị phong cách kiến trúc ở xứ Đoài,
xứng với câu thành ca xƣa: Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài để ngợi ca vẻ đặc
sắc, sự tinh tế, độc đáo trong từng những nét kiến trúc của những ngôi đình ở
vùng đất xứ Đoài (Hà Nội).
Ngoài ra Ba Vì còn có lễ hội truyền thống tôn vinh các vị anh hùng dân
tộc, anh hùng văn hóa và phong tục tập quán địa phƣơng. Đó là các lễ hội Tản
Viên Sơn Thánh ở đền Thƣợng, đền Trung, đền Hạ, lễ hội làng Khê Thƣợng,
lễ hội đình Tây Đằng…Hơn nữa Ba Vì còn là địa bàn sinh sống đồng bào dân
tộc thiểu số nhƣ ngƣời Dao, ngƣời Mƣờng. Tết Nhảy của ngƣời Dao, tết của
ngƣời Mƣờng thể hiện rõ phong tục tập quán của ngƣời dân tộc thiểu số nơi
đây.
Nhận thấy rõ đƣợc những lợi thế về văn hóa – du lịch, thành phố Hà Nội
nói chung và huyện Ba Vì nói riêng đã có những chiến lƣợc cụ thể trong việc
đầu tƣ khai thác du lịch sinh thái và đẩy mạnh việc giữ gìn, bảo tồn các di sản
văn hóa mà địa phƣơng đang có trong việc phát triển du lịch.
1.2. Đình Việt Nam
1.2.1. Nguồn gốc
Ngày xƣa ở Việt Nam cách vận tải còn thô sơ, muốn đi từ nơi này sang
nơi khác phải đi bộ, đi cáng võng, đi ngựa… cách vận chuyển khó nhọc,
đƣờng xá gập ghềnh, hiểm trở. Vì thế mỗi khi đi từ nơi này đến nơi khác với
đoạn đƣờng dài, khó khăn, hiểm trở nên ngƣời ta phải ngủ lại dọc đƣờng ở
10
những nơi hoang vắng. Do đó vua sai lập ở bên các con đƣờng chính những
các trạm quán (Đình) trú chân, phòng khi vua quan đi tuần du, giữa đƣờng
trời tối. Các đình đƣợc kiến thiết chắc chắn, tƣờng gạch, mái ngói và có ngƣời
trông coi. Năm 1231 Trần Nhân Tông xuống chiếu cho đắp tƣợng Phật ở đình
quán. Năm 1491 nhà vua cho xây dựng Quảng Văn đình là nơi để dân chúng
mới thành lập hay khi làng mới có tên. Ngƣời dân quen gọi là đình của làng.
Chẳng hạn nhƣ: đình Thổ Tang (Thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tƣờng, tỉnh
Vĩnh Phúc), đình Thổ Hà (làng Thổ Hà, Xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh
Bắc Giang), đình Chu Quyến hay còn gọi là đình Chàng (làng Chàng, xã Chu
Minh, huyện Ba Vì, Hà Nội và đình Tây Đằng (thị trấn Tây Đằng, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội)...
Nhƣ vậy qua thời gian đình không chỉ còn là nơi nghỉ chân và thờ tƣợng
Phật nữa mà nó dần biến đổi thành các chức năng nhƣ ngày nay ta thƣờng
đƣợc biết đến. Đình chuyển từ chức năng là đình trạm nghỉ chân cho khách
qua đƣờng thành nơi thờ Thành Hoàng của làng xã, nơi thỏa mãn tâm linh của
ngƣời dân. Đình trạm ngày nào giờ là đình làng đảm nhiệm các chức năng
ngôi nhà cộng đồng của làng về mặt tín ngƣỡng, văn hóa, hành chính.
1.2.2. Chức năng
Từ thuở sơ khai, khi con ngƣời biết cố kết thành cộng đồng để cùng nhau
chế ngự thiên nhiên, sản xuất ra của cải vật chất từ đó đã hình thành nên
những làng quê. Dân tộc ta với nền văn minh lúa nƣớc, cây lúa lớn lên nhờ
thiên nhiên, trời đất nhƣng thiên nhiên luôn luôn khắc nghiệt từ đó đòi hỏi
ngƣời dân trong làng phải sống quần tụ với nhau để sản xuất và chế ngự lại
thiên nhiên.
Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Ông nói
đến tính cộng đồng và tính tự trị chính là đặc trƣng bao trùm nhất, quan trọng
nhất của làng xã, chúng tồn tại song song, chúng là hai mặt của một vấn đề.
12
Biểu tƣợng truyền thống của tính cộng đồng là cây đa – bến nƣớc – sân đình.
[16,192]
Cây đa là biểu tƣợng cho sự trƣờng tồn, cho sức sống dẻo dai. Với ý
nghĩa trƣờng tồn ấy cây đa cổ thụ xuất hiện đầu làng, cuối làng và bên cạnh
nƣớc, soi mình làm duyên, nơi trai gái tâm tình hò hẹn. Nơi giao lƣu gặp gỡ
của những ngƣời dân nơi làng quê mỗi khi ra gánh nƣớc, vo gạo, rửa rau, giặt
giũ... Bến nƣớc tƣợng trƣng cho sự mát mẻ, giúp quên đi sự mệt nhọc và cái
khát. Đối với trong tâm thức của mình, ngƣời Việt có thể sống thiếu hạt gạo
mỗi mất mùa, thiếu áo mặc mỗi khi mùa đông giá rét, nhƣng không thể thiếu
cái bến nƣớc. Nó là trái tim của làng, là cái hồn của xóm làng Việt Nam.
Nếu bến nƣớc là nơi hay lui tới của phụ nữ thì sân đình lại là nơi tập
trung của những ngƣời đàn ông, bô lão trong làng. Làng nào cũng có một cái
Đình. Đó là biểu tƣợng điển hình nhất, tập trung nhất của làng về mọi phƣơng
diện. Sân đình là trung tâm hành chính, văn hóa xã hội của làng. Tất cả các
việc quan trọng của làng đều diễn ra ở đây nhƣ hội họp, xét xử kiện tụng, đón
rƣớc quan trên, văn hóa - văn nghệ, giải trí…Đình làng là nơi thờ Thành
Hoàng. Về khía cạnh tâm linh, đình có giá trị to lớn trong quyết định vận
mệnh của cả làng. Một làng có phúc hay không đều do hƣớng đình.
Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng toét mắt riêng mình em đâu.
Đình làng thƣờng có địa điểm thoáng đãng, có hồ nƣớc phía trƣớc mang
ý nghĩa tụ thủy thịnh mãn cho cả làng. Đình làng là một trung tâm về mặt tình
cảm, nói đến làng là nghĩ đến cái đình với tất cả những tình cảm gắn bó thân
thƣơng nhất:
- Đêm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen…
- Trúc xinh trúc mọc đầu đình
14
Em xinh em đứng một mình cũng xinh…
- Qua đình ngả nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu…
làng.
Thứ ba gắn liền với tín ngƣỡng bản địa, nhƣ tục thờ cây, thờ đá thời
nguyên thủy...
Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công ngƣời ta còn thờ tổ nghề gọi là
“tiên sƣ”. Trong miền Nam các “tiên sƣ” đƣợc thờ ở nhà hậu của đình làng,
chỉ có một số ít “tiên sƣ” đƣợc thờ ở chính điện.
Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngƣỡng đa
nguyên. Đó là một hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngƣỡng sơ khai của cƣ
dân nông nghiệp (tín ngƣỡng phồn thực, tín ngƣỡng thờ mẹ, các thần sức
mạnh tự nhiên…) với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, những ngƣời anh hùng và
có phần ảnh hƣởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho.
Chức năng hành chính: Đình làng là trụ sở hành chính – nơi giải quyết
mọi công việc hành chính của làng. Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ,
khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh. Chủ thể tiến
hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh
tổng, Lý trƣởng, Phó lý và các viên quan của Hội đồng hƣơng kì, kì mục. Cơ
sở để giải quyết các công việc của làng đƣợc dựa vào lệ làng hoặc hƣơng ƣớc.
Hƣơng ƣớc là một hình thức luật tục. Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán
lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nƣớc không thể bao
quát đƣợc.
Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động
hành chính và quản lí của làng xã đƣợc tiến hành có hiệu quả. Đình làng với
tƣ cách là trụ sở hành chính đã trở thành biểu tƣợng của sự cố kết cộng đồng
trong suốt chiều dài lịch sử của mình.
16
Chức năng văn hóa: Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả
làng. Là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Các hội hè trong làng
văn hóa của cộng đồng làng, xã dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi “cân
bằng” phép tắc của cuộc sống, nơi khai diễn những nét tài năng, tƣ duy của
dân làng. Về tín ngƣỡng, đình là nơi để thờ Thành Hoàng làng ngƣời có công
với dân với nƣớc, giúp dân làm nghề, lập nghiệp sinh sống. Đình làng là biểu
trƣng cho văn hóa dân gian truyền thống (Cây đa, giếng nƣớc, sân đình), đã
gìn giữ, bảo lƣu và phát huy các giá trị trong đời sống cộng đồng. Giá trị của
đình làng là một hệ thống các giá trị vật chất và văn hóa tinh thần bao gồm:
Giá trị cảnh quan, kiến trúc, điêu khắc: Đình làng là công trình kiến trúc
đa chức năng, vừa phục vụ cho hoạt động tôn giáo, tín ngƣỡng vừa là trung
tâm hành chính, quản trị, vừa là nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt cộng đồng
làng xã. Kiến trúc truyền thống của đình làng Việt nói chung thƣờng đƣợc xây
dựng dựa trên những nguyên tắc của thuật phong thủy với những mặt bằng
truyền thống theo kiểu chữ Nhất, chữ Đinh, chữ Nhị, chữ Công, chữ Môn…
Không gian cảnh quan, kiến trúc đình làng thƣờng phát triển cả phía sau, phía
trƣớc và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, tƣờng cánh gà, tiền tế, các
dãy tả vu, hữu vu, tam quan, hổ nƣớc…Trong bố cục đó, không gian chủ yếu
vẫn là tòa đại đình với bàn thờ Thành Hoàng làng đƣợc đặt ở chính gian giữa
và là nơi diễn ra các hoạt động hội họp, ăn khao, khao vọng, phạt vạ...
Đình làng còn là kho tàng hết sức giá trị về mặt điêu khắc dân gian, là
thế giới cho nền nghệ thuật điêu khắc dân gian phát triển mạnh mẽ trên các vì
kèo, tất cả các đầu bẩy, đầu dƣ, đố, xà kẻ, ván gió, ván nong (dong)…là nơi
các nghệ sĩ điêu khắc chạm khắc. Ngoài các hình rồng, lân, phƣợng, cỏ cây
hoa lá thì ta còn bắt gặp trong nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng những
ngày hội làng, những hình ảnh của lao động nhọc nhằn đó là hình ảnh chèo
thuyền, mẹ gánh con, gia đình đầm ấm... Chính vì vậy, các điêu khắc đình
18
làng còn có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu về cuộc sống vật chất, tinh