Lại trao đổi thêm về cách tìm hiểu , giải nghĩa từ Hán Việt và cách dạy học đối với
các bài Từ Hán Việt trong chơng trình Ngữ Văn 7, tập 1
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc lập Tự do Hạnh phúc
********
Bản cam kết
I. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Hữu Tự
- Sinh ngày: 03/10/1970
- Đơn vị công tác: Trờng THCS Đồng Minh
- Điện thoại: 090.4302.569
II. Sản phẩm:
Tên sản phẩm:
Trao đổi thêm về cách tìm hiểu, giải nghĩa từ Hán
Việt và cách dạy
đối với các bài Từ Hán Việt trong chơng trình Ngữ Văn 7, tập 1
III. Cam kết
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi. Nếu có xảy
ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh
nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhịêm trớc lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo sở GD&ĐT về tính
trung thực của bản cam kết này.
Đồng Minh , ngày 20 tháng
12 năm 2008
Nguyễn Hữu Tự
Nguyễn Hữu Tự. Trường THCS Đồng Minh. Năm học 2008 - 2009
Page 17
quá trình dạy học. Và dù hiện tại không dạy Ngữ Văn 7, song bản thân vẫn suy ngẫm về
các giải pháp giúp HS có thể tiếp thu và vận dụng tốt hơn kiến thức về Từ Hán Việt. Trớc
đây, tôi cũng đã chọn viết đề tài này, song có nhiều khiếm khuyết, nay tôi tiếp tục nghiên
cứu, sửa chữa và bổ sung cho đề tài này đợc hoàn thiện hơn. Xin mạo muội đợc đa ra để
trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp. Rất mong đợc sự góp ý và phê bình.
Phần II
Nội dung
I. cơ sở lý luận:
Trong môn Ngữ văn, phân môn Tiếng Việt có một vai trò đặc biệt quan trọng. Có
thể coi, Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp trong cuộc sống, mà trong nhà trờng, nó
cũng là một thứ công cụ, thứ công cụ t duy và giao tiếp, để giúp học sinh tiếp cận đối với
các phân môn Văn học và Tập làm văn ( cả đối với các bộ môn khác ). Nói một cách khác,
Nguyễn Hữu Tự. Trường THCS Đồng Minh. Năm học 2008 - 2009
Page 17
Lại trao đổi thêm về cách tìm hiểu , giải nghĩa từ Hán Việt và cách dạy học đối với
các bài Từ Hán Việt trong chơng trình Ngữ Văn 7, tập 1
chất lợng dạy học phân môn Tiếng Việt có tính quyết định đến chất lợng hai phân môn :
Văn học và Tập làm văn, nói riêng và bộ môn Ngữ văn, nói chung.
Trớc đây, trong chơng trình giáo dục phổ thông, " Tiếng Việt" đợc xếp với t cách
là một bộ môn riêng biệt, tách biệt với các bộ môn Văn học ( trớc nữa là : Trích giảng
Văn học ) và Tập làm văn. Việc tách biệt ba bộ môn này bị chi phối bởi quan điểm của
các nhà Tu th ( soạn sách) về tính độc lập của ba bộ môn trên với những t cách khu biệt
về chuyên ngành khoa học. Theo đó, Tiếng Việt là đối tợng của chuyên ngành Ngôn ngữ
học đợc khu biệt với Văn Học và Tập làm văn. Từ chỗ đó, kiến thức của bộ môn Tiếng Việt
trong nhà trờng phổ thông chủ yếu đợc giảng dạy là tri thức ngôn ngữ học. Tức là coi
trọng việc cung cấp các kiến thức cơ bản về khái niệm, cấu tạo ngôn ngữ trong hai phân
môn : Từ ngữ và Ngữ pháp. Song không phải tất cả những quan điểm đúng đắn thì có nghĩa
là không có nhợc điểm. Nhợc điểm lớn nhất của quan điểm này là coi Tiếng Việt nh một
chuyên ngành khoa học thực sự để đa ra mổ xẻ, nghiên cứu với hàng loạt các nguyên lý,
Nguyễn Hữu Tự. Trường THCS Đồng Minh. Năm học 2008 - 2009
Page 17
Lại trao đổi thêm về cách tìm hiểu , giải nghĩa từ Hán Việt và cách dạy học đối với
các bài Từ Hán Việt trong chơng trình Ngữ Văn 7, tập 1
thể đợc coi là một nhà Hán học. Và thông thờng, với vốn từ ngữ ấy thiết nghĩ đã có thể
nói là đủ dùng.
Nhng vấn đề cần đợc thống nhất về quan điểm ở đây là: Ngời Việt dùng từ ngữ gốc
Hán theo cách của ngời Việt đặt trong mối tơng quan với Tiếng Việt và đã đợc Việt hóa
trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, chứ không phải dùng từ ngữ gốc Hán theo lối sử
dụng của ngời Trung quốc.
Và nhiệm vụ đợc đặt ra đối với ngời giáo viên dạy môn Ngữ văn là: phải giúp học
sinh tự ý thức đợc về vốn kiến thức ngôn ngữ của mình và giúp cho học sinh có thể sử
dụng tốt vốn liếng ấy vào trong học tập và giao tiếp theo tập quán của Ngời Việt ta một
cách có khoa học.
II. thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Hiện nay, trong nhà trờng phổ thông, chất lợng dạy học đang là một vấn đề nhức
nhối đối với những ngời làm công tác giáo dục, nói riêng, và đối toàn xã hội, nói chung.
Đứng trớc hoàn cảnh đó, ngành giáo dục nớc nhà đang nỗ lực tìm những biện pháp khả dĩ
để giải quyết tận gốc vấn đề này, nhằm từng bớc nâng cao chất lợng giáo dục.
Đặt trong bối cảnh chung, chất lợng dạy học bộ môn Ngữ văn cũng đang xuống
cấp một cách đáng báo động. Những hiện tợng nh một học sinh lớp 8, đợc xếp loại HS
Tiên tiến mà đọc không thông, viết không thạo; hay những sinh viên tốt nghiệp đại học mà
không viết nổi một bản tự thuật hay một đơn xin việc làm... Tuy chỉ là những hiện tợng cá
biệt, song cũng không khỏi khiến chúng ta phải suy nghĩ về chất lợng dạy học môn Ngữ
văn. Thực tế cho thấy, ở các nhà trờng phổ thông, số lợng học sinh có lực học yếu đối
với môn Ngữ văn chiếm một tỷ lệ không nhỏ.
Đối với khả năng hiểu và kỹ năng sử dụng từ ngữ Hán Việt trong một bộ phận giáo
viên và học sinh cũng ở trong tình trạng nh vậy.
Ví dụ về mặt phơng pháp dạy học: không ít giáo viên dạy Tiếng Việt nói chung, và
Từ Hán Việt, nói riêng, chỉ chú ý cung cấp cho học sinh về mặt tri thức ngôn ngữ học. Có
bậc THCS là rất hạn chế. Trong chơng trình Ngữ Văn của bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9,
chỉ có 02 tiết học về Từ Hán Việt và đợc bố trí học ở chơng trình Ngữ Văn 7 , tập I. Thiết
nghĩ, với số lợng bài học ít ỏi này, học sinh THCS thật khó có đợc một lợng kiến thức vừa
đủ để hiểu và sử dụng tốt lợng từ ngữ Hán Việt đồ sộ trong vốn từ vựng Tiếng Việt.
III. một số biện pháp giúp cho học sinh nâng cao kiến
thức, kỹ năng sử dụng từ ngữ Hán Việt trong nhà tr-
ờng THCS.
1. Tìm hiểu ngữ nghĩa từ hán việt:
1.1.âm tiết hán việt:
Về mặt khái niệm, âm tiết Hán Việt cũng giống nh âm tiết thuần Việt, là một đơn vị
âm thanh ngôn ngữ có nghĩa, tức là một tiếng có nghĩa. Trong một chuỗi âm thanh ngôn ngữ,
thì " một đốt của chuỗi âm thanh " chính là một âm tiết. ở đây tôi dùng thuật ngữ
âm tiết
Hán Việt
đợc hiểu tơng đơng với thuật ngữ
yếu tố Hán Việt
nh trong SGK Ngữ Văn 7, tập
I. Việc dùng thuật ngữ
âm tiết
là để tiện cho việc phân biệt trong cấu tạo từ thuần Việt và
từ Hán Việt ở trong bài viết này.
Có ngời cho rằng: bất kỳ một âm tiết nào có thể hoạt động làm thành từ đơn tiết
đều đợc xem là từ thuần Việt. Nói khác đi, theo cảm nhận ban đầu chủ quan, khi thấy nói,
viết một từ đơn âm tiết thì ngay lập tức cho rằng từ đó là từ thuần Việt. Và nh vậy, sự
phân biệt giữa từ thuần Việt với các từ ngoại lai ( trong đó có từ Hán Việt ) chỉ bắt đầu
căn cứ vào cấu tạo từ ngữ từ song tiết trở lên mà thôi.
Điều này không phải là hoàn toàn vô lý. Xét ở phạm vi từ ngữ Hán Việt, chỉ một bộ
phận rất nhỏ các âm tiết ( yếu tố ) Hán Việt có thể đứng độc lập để tạo thành từ. Ví dụ
nh các âm tiết: hoa, quả, bút bảng, học, tập ( mà SGK Ngữ văn 7 đã lấy ví dụ ), tình, lý,
thông, vạn, triệu, đầu, não, tủy, thân, ông, cô, cậu, thởng, phạt, từ, ngữ, luật, lệ .v.v. Số lợng
chứ không ai lại nói : " Tôi nhìn thiên ", hay có thể nói: " Bò gặm cỏ " chứ không thể nói : "
Bò gặm thảo ".
Chỉ trừ trờng hợp kiểu câu đặc biệt, kiểu thành ngữ: " Của
thiên
, trả
địa
", " Vào
sinh
, ra
tử
"... Với kiểu cấu trúc này, có thể
từ hóa
mọi đơn vị ngôn ngữ.
* Đặc điểm thứ hai: Với một âm tiết Hán Việt có thể kết hợp với một loạt các
âm tiết khác có quan hệ ngữ nghĩa với nó để tạo ra nhiều từ, từ song tiết trở lên ( từ
ghép ).
Ví dụ : Với
thiên
là
trời,
ta sẽ có:
thiên mệnh, thiên th, thiên định, thiên sứ, thiên đ-
ờng, thiên bẩm, thiên t ....
Với thảo là cỏ , ta sẽ có:
phơng thảo, thảo mộc, thảo dợc, thảo
nguyên, thảo l, thảo dã ...
* Đặc điểm thứ ba: Một âm tiết Hán Việt có thể kết hợp với một âm tiết thuần
Việt để tạo thành một từ độc lập. Theo nhận thức chủ quan của tôi, đây có lẽ là một đặc
điểm rất đặc biệt của Tiếng Việt: Sự kết hợp đồng nhất giữa ngôn ngữ bản địa ( Tiếng
Việt ) với ngôn ngữ ngoại lai ( Hán ngữ ) để tự làm giàu có và phong phú cho mình. Và
Cho đến hiện tại, tôi cha đợc đọc một tài liệu hớng dẫn về chuyên môn hoặc nghe
thấy ngời nào có chức trách chỉ đạo về chuyên môn giảng dạy môn Ngữ Văn, hoặc một
cuộc sinh hoạt chuyên môn chuyên đề nào của Sở GD, Phòng GD hay cụm trờng về môn
Ngữ Văn đề cập tới vấn đề này. Và thờng thờng, khi dạy về Từ Hán Việt, giáo viên cũng
không thấy đa hiện tợng này ra để dạy cho học sinh. Đơn giản, chỉ vì trong SGK không
có nói tới.
Theo tôi, khi dạy bài Từ Hán Việt ( Ngữ văn 7, tập I ), giáo viên không thể bỏ qua
hiện tợng này, cho dù SGK không đề cập tới. Nếu không, học sinh sẽ lúng túng, mơ hồ và
ngỡ ngàng khi các em bắt gặp trờng hợp từ ngữ khá phổ biến trong tiếng Việt này.
Đối với việc ra đề kiểm tra ( từ 15' trở lên ) đối với giáo viên và ra đề KSCL, đề
Thi của các bộ phận chuyên môn ở các cấp quản lý giáo dục cũng phải hết sức chú ý đến
Nguyễn Hữu Tự. Trường THCS Đồng Minh. Năm học 2008 - 2009
Page 17