Rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học bài “nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” – SGK ngữ văn 12 (2016) - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

BÙI THỊ HÀ

RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC
BÀI “NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG,
ĐẠO LÍ” – SGK NGỮ VĂN 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô
giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là TS. Phạm Kiều Anh – người đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2016
Tác giả

Bùi Thị Hà




Kĩ năng sống

NLXH

Nghị luận xã hội

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

TLXH

Tâm lí xã hội

TTĐL

Tư tưởng đạo lí

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

1.2.1 Khái niệm nghị luận xã hội................................................................................ 8
1.2.2. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí .................................................................... 9
1.2.3. Các cơ sở khoa học của việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh trong dạy
học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ............................................................ 10
1.3. Các kĩ năng sống có thể hình thành cho học sinh THPT khi học bài “Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí” ............................................................................................ 12
1.3.1. Kĩ năng giải quyết vấn đề ............................................................................... 12
1.3.2. Kĩ năng xác định giá trị .................................................................................. 13
1.3.3. Kĩ năng cảm thông và chia sẻ ......................................................................... 13
1.3.4. Kĩ năng giao tiếp hiệu quả .............................................................................. 13
1.4. Cơ sở thực tiễn của việc hình thành, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh
THPT trong giờ học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ........................................... 15


1.4.1. Thực trạng dạy ................................................................................................ 15
1.4.2. Thực trạng học ................................................................................................ 15
1.4.3. Thực trạng vận dụng kĩ năng sống của học sinh THPT trong cuộc sống hàng
ngày ........................................................................................................................... 16
1.4.4. Đánh giá chung ............................................................................................... 18
Chương 2. DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CÓ KẾT
HỢP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT ............................ 20
2.1 Mục đích của việc dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.................... 20
2.2. Cấu trúc bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý ................................................ 20
2.3. Nguyên tắc phối hợp rèn luyện kỹ năng sống cho HS khi học bài Nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí................................................................................................... 21
2.3.1. Nguyên tắc tích hợp ........................................................................................ 21
2.3.2. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh ........................... 22
2.3.3. Nguyên tắc trực quan ...................................................................................... 23
2.4. Rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh THPT trong giờ học Nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí................................................................................................... 24

những rủi ro đe dọa sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập. Do đó, nếu chỉ có thông tin
không đủ để bảo vệ họ tránh được những rủi ro này. Theo đó, giáo dục KNS được
triển khai nhằm cung cấp cho các em các kĩ năng thiết yếu để giải quyết được các
vấn đề nảy sinh từ cuộc sống. Thực tế xã hội hiện nay cho thấy ứng xử, giao tiếp,
chia sẻ, nhận thức, cảm thông, thể hiện thái độ... là những yếu tố quan trọng thể
hiện trình độ, giá trị và nhân cách của mỗi cá nhân. Vì thế, KNS trở thành mục tiêu
và là một nhiệm vụ trong giáo dục toàn diện con người HS.
1.2. Trong nhiều năm trở lại đây, thế giới cũng có những thay đổi trong nhận
thức và quan niệm về giáo dục. Bám sát với xu thế thời đại, Việt Nam đã và đang
từng bước thực hiện đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước nhà; đổi mới mục
tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những
năng lực cần thiết với tinh thần: “năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực
chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản
lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp
luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê
phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống”. Theo tinh thần
đó, việc triển khai các hoạt động giáo dục theo định hướng tiếp cận KNS đã trở
thành một trong những nhiệm vụ của đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp
giáo dục phổ thông. Về bản chất, đó cũng là những hoạt động giáo dục gắn liền với
bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà tổ chức UNESCO đưa ra. Tuy nhiên, nhận
thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa giáo dục KNS trong giáo dục phổ thông

1


đặc biệt là những hướng dẫn về cách tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho HS ở các
cấp học, bậc học còn hạn chế.
1.3. Ngữ văn là một trong những môn học có thể hình thành và giáo dục cho
HS nhiều KNS, bởi đây là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Thông qua môn học này, HS không chỉ được trang bị những tri thức về xã hội, văn

Từ thực tế trên, việc KNS và giáo dục KNS cho HS dần thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Ở giai đoạn này, KNS được mở rộng,
xem xét ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện
pháp để hình thành những kĩ năng này cho các em (trong đó có HS THPT). Một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp
kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn Nhân (2002); Kĩ năng
thanh niên tình nguyện của tác giả Trần Thời (1998)… Một trong những người đầu
tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam
là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp
phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở
Việt Nam. Có thể nói những kết quả khoa học trong các công trình trên chính là
những gợi dẫn cho chúng tôi triển khai đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài này chính là: Xác định những
KNS cơ bản phù hợp với văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Đồng thời tìm hiểu
và đề xuất cách thức phối hợp rèn luyện một số KNS cho HS THPT trong quá trình
dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nhằm hướng tới yêu cầu đổi mới căn
bản, toàn diện dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học làm văn NLXH nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định các nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở lý luận về KNS, về văn NLXH.
- Xác định các KNS có thể hình thành và rèn luyện cho HS THPT trong quá
trình dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Bước đầu đề ra những định hướng hình thành và rèn luyện KNS cho HS
THPT khi học bài Nghị luận nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Thực nghiệm cho những đề xuất được nêu trước đó.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu


- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

4


NỘI DUNG
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Kĩ năng sống và các loại kĩ năng sống trong giáo dục
1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống
Ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức như WHO (Tổ chức Y tế Thế
giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa
học và Giáo dục của LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho
thanh thiếu niên. Theo đó, KNS (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi cho
mọi lứa tuổi, ở mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội. Tuy nhiên,
cho đến nay, các nhà khoa học và các tổ chức trên thế giới vẫn chưa có một tiếng
nói chung nhất về khái niệm này.
Theo WHO (1993) cho rằng: KNS là khả năng để có hành vi thích ứng
(adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Còn theo UNICEF thì: KNS là cách
tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cũng bàn về KNS sống,
UNESCO lại quan niệm: KNS gắn với bốn trụ cột giáo dục, đó là: học để biết
(Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
ra quyết định, giải quyết vấn đề... Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng
cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin...;
Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện
sự cảm thông...; Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và
các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm... Với quan niệm
của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để họ thực hiện đầy đủ các chức năng và

- Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills);
- Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
(selfawareness building skills, incl.self- awareness, self- esteem and selfconfidence, and values analysis);
- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy).
1.1.2.2. Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là:

6


- Hợp tác nhóm;

- Tự quản;

- Tham gia hiệu quả;

- Suy nghĩ/ Tư duy bình luận, phê phán;

- Suy nghĩ sáng tạo;

- Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề.

1.1.2.3. Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được
phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ
thể như: Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ,
tự trọng, tự tin…
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS cụ
thể như: Giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ
sự cảm thông, hợp tác…
- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, bao gồm các KNS cụ

cũng rèn luyện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc
cho mỗi cá nhân HS. Cũng vì thế, giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ
thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới.
1.2. “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.1 Khái niệm nghị luận xã hội
Khi nghiên cứu về văn nghị luận, các nhà khoa học đều khẳng định: Văn
nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lập luận, bao gồm lí lẽ,
dẫn chứng, để bàn luận và đưa ra những ý kiến của mình nhằm làm rõ một vấn đề
nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó.
Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và NLXH.
Nhắc tới NLXH là người ta nhắc tới một dạng của kiểu văn bản nghị luận.
Đó là dạng văn bản mà ở đó, người nói, người viết tập trung bàn luận và làm sáng
tỏ các vấn đề thuộc về đời sống xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ,
mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị,
kinh tế, giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số… Với đối tượng được bàn luận trong
văn bản luôn gắn liền với đời sống, với xã hội, nên mục đích cuối cùng của nó là tạo
ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với
người trong xã hội; tạo điều kiện để khẳng định bản thân mình và hòa nhập với
cộng đồng, với xã hội. Cũng vì thế, NLXH là những bài văn bàn về những vấn đề
xã hội - nhân sinh như: một tư tưởng, đạo lí; một lối sống cao đẹp; một hiện tượng

8


tích cực hoặc tiêu của đời sống; một vấn đề thiên nhiên, môi trường. Hiện nay, dựa
vào đối tượng được nghị luận, các nhà khoa học đã phân NLXH được chia làm 2
dạng là nghị luận về một tư tưởng đạo lý (nghị luận về một TTĐL) và nghị luận về
một hiện tượng đời sống (nghị luận về một HTĐS).
1.2.2. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Nghị luận về một TTĐL là dạng văn NLXH mà ở đó, người nghị luận sử

dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”
1.2.3.1. Xuất phát từ bản chất của dạng bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Về mặt nội dung, nghị luận về một TTĐL là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh
vực tư tưởng, đạo lí, lối sống... của con người. Đó là các vấn đề liên quan đến quan
niệm, lẽ sống, đạo đức, tình cảm… theo những chuẩn mực xã hội trong từng giai
đoạn lịch sử phát triển. Như vậy, có thể thấy phạm vi đề tài rộng, mang tính khái
quát cao, lại gần gũi gắn bó mật thiết với cuộc sống của HS. Chẳng hạn như đề bài:
“Lí tưởng sống là ngọn đèn chỉ đường” rất gần gũi với thế hệ trẻ trong cuộc sống
hiện đại ngày nay. Ai cũng có những ước mơ, khát vọng và có lí tưởng của riêng
mình. Chính lí tưởng là niềm tin, là ngọn đèn để chỉ đường cho chúng ta bước vào
tương lai. HS có thể vận dụng những hiểu biết thực tế của mình để giải quyết các
vấn đề đặt ra trong bài tập cũng như những vấn đề khác trong thực tế cuộc sống.
Như vậy, với nội dung gắn liền với thực tế cuộc sống nên trong quá trình dạy học,
GV có thể kết hợp hình thành và rèn luyện một số KNS cơ bản cho HS. Khi tạo lập
loại văn bản này, các em có thể liên hệ, vận dụng kiến thức thực tế để giải quyết
những vấn đề đặt ra trong bài học cũng như trong thực tế cuộc sống, tức là có kĩ
năng giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định phù hợp…
1.2.3.2. Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của HS THPT
Đối với HS THPT, đặc biệt là HS lớp 12, hoạt động tư duy phát triển mạnh.
Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng
tạo hơn. Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp
cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Các em thích
khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng
hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy phát triển đã góp
phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học. Trước một vấn
đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức

10



11


THPT như trên, trong quá trình dạy học, GV cần nắm bắt đặc điểm, sự phát triển
tâm lí của HS ở lứa tuổi này. Thông qua đó, GV có thể hiểu được vị trí của giai
đoạn lứa tuổi HS THPT, bối cảnh xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến tâm lí
ở lứa tuổi này để từ đó có những định hướng hình thành và giáo dục kĩ năng sống
cho bản thân các em
1.3. Các kĩ năng sống có thể hình thành cho học sinh THPT khi học bài “Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí”
Từ những loại KNS đã được nêu trên và từ bản chất của dạng bài nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí, chúng tôi nhận thấy, trong quá trình hướng dẫn HS học tập,
GV có thể tích hợp hình thành, rèn luyện một số KNS sau:
1.3.1. Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng này được thể hiện ở khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề, tình
huống gặp phải trong cuộc sống. Để tạo lập được một bài nghị luận về một nghị
luận về một TTĐL, kĩ năng giải quyết vấn đề là cần thiết. Bởi muốn tạo lập được
một văn bản nghị luận nói chung, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng, HS
phải xác định đúng nội dung cần bàn luận để tìm ra những cách lập luận thuyết phục
người tiếp nhận. Việc làm đó thể hiện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề. Vì
vậy, khi hướng dẫn HS xác định đối tượng cần bàn luận, GV có thể lồng ghép KNS
cho HS: Trong cuộc sống các em sẽ gặp không ít những vấn đề, những tình huống
khó khăn. Khi đó, các em cần bình tĩnh và có những kỹ năng ứng phó thích hợp và
hiệu quả. Như vậy, cung cấp cho HS kĩ năng này sẽ giúp các em linh hoạt trong mọi
tình huống, có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn
trong cuộc sống. Khi trang bị những hiểu biết về kỹ năng này, GV cần lưu ý HS:
xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải (kể cả tìm kiếm thêm thông tin
cần thiết); liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có; hình dung đầy đủ về
kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó; xem xét về suy nghĩ và

được những điều lớn lao so với lứa tuổi của các em và còn có thể hình thành những
cách ứng xử tốt đẹp của các em đối với mọi người xung quanh. Hiểu mình và biết
chấp nhận người khác không chỉ là một KNS đối với HS THPT mà còn là KNS đối
với tất cả mọi người trên toàn thế giới.
1.3.4. Kĩ năng giao tiếp hiệu quả

13


Giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết
hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hoá, đồng
thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm;
biết bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và
cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết. Trong giờ Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí, nếu các em chỉ xác định được yêu cầu của vấn đề cần nghị
luận thì chưa đủ mà các em còn phải suy nghĩ làm như thế nào để văn bản mình tạo
ra có sức thuyết phục đối với người tiếp nhận. Theo đó, bên cạnh việc lập dàn ý, xác
định các thao tác lập luận, HS cũng cần chú trọng việc chọn lựa ngôn từ, cách trình
bày cho bài viết. Hình thức trình bày, diễn đạt sáng tạo chính là yếu tố giúp cho sản
phẩm của các em có ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiếp nhận. Vì vậy khi biểu
đạt, các em cần chú ý: lời văn ý tứ phải rõ ràng giúp người tiếp nhận hiểu được
đúng thông tin muốn truyền đạt; nên đi thẳng và nêu bật các nét chính của vấn đề;
không sa vào những chi tiết không cần thiết, không lặp lại nội dung đã trình bày,
tránh việc dùng từ thừa, từ vô nghĩa; không sai lỗi chính tả; phải có đầy đủ nội
dung, những luận điểm, luận cứ đúng với yêu cầu của một bài văn nghị NLXH...
Những yêu cầu trên không chỉ giúp HS biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả, tự tin trong
các tình huống giao tiếp hàng ngày mà còn giúp các em có mối quan hệ tích cực với
gia đình, bạn bè và xã hội.
Ngoài những KNS trên, trong giờ học NLXH, GV có thể hình thành và rèn
luyện cho HS một số KNS khác như: Kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng ứng phó

sài chưa thể hiện được những suy nghĩ, tình cảm, thái độ của mình trước những vấn
đề đó, thậm chí không có bố cục của một bài làm văn NLXH… Bởi thế, việc dạy
làm văn NLXH trong nhà trường chưa thực sự hiệu quả.
Từ thực trạng dạy - học của GV và HS nêu trên ta nhận thấy: muốn HS có
thể vận dụng thành thạo những kĩ năng cơ bản cũng như nắm được cách làm, quy
trình của một bài văn nghị luận về một TTĐL, GV không những cần sự tận tình,
sáng tạo, thay đổi trong phương pháp dạy học mà còn phải giúp HS nhận thấy
những tri thức và kỹ năng đó không chỉ là khoa học thuần túy mà nó còn gắn liền
với thực tế cuộc sống của các em. Tích hợp giáo dục KNS trong giờ học nghị luận

15


về một TTĐL sẽ nhằm mục đích đó.
1.4.3. Thực trạng vận dụng kĩ năng sống của học sinh THPT trong cuộc sống
hàng ngày
Qua khảo sát của Viện Nghiên cứu Môi trường và các vấn đề xã hội trực
thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đối với nhóm trẻ vị thành
niên tại Hà Nội cho thấy, một bộ phận trong số các em thiếu sự tự tin trong cuộc
sống và các em có nhu cầu được học KNS. Do thiếu KNS nên những hành vi lệch
chuẩn của thanh thiếu niên có chiều hướng gia tăng với những biểu hiện rất đa
dạng. Có thể nhận ra các hành vi lệch lạc của thanh thiếu niên qua một câu chuyện
thực tế sau: Ngày 1/4/2010, một học sinh Trường THCS Quang Trung (Lý Thường
Kiệt, phường 8, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) bất ngờ nhảy từ tầng 3 xuống
sân trường, bị thương nặng. Theo những HS có mặt tại hiện trường thì khoảng 7
giờ 45 phút, T. vào lớp với vẻ mặt rất buồn. Lát sau, T. vùng bỏ chạy ra khỏi lớp
(tầng 2) rồi chạy thẳng lên tầng 3, leo qua lan can nhảy xuống đất…
Một vài biểu hiện về cách giao tiếp ứng xử của HS hiện nay cũng khiến
người lớn không khỏi giật mình: HS gặp GV không chào, HS tạt axít vào mặt thầy
giáo... Không chia sẻ được với chính những người thân, với cha mẹ của mình, một

nay. Theo báo cáo thống kê của Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, năm 2009,
tỷ lệ vị thành niên - thanh niên mang thai là 28,20%, tỷ lệ phá thai là 11,05%. Tỷ lệ
vị thành niên mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản là 22,55%. Vị thành niên thanh niên nhiễm HIV/AIDS trong tổng số ca được xét nghiệm là 11/43 ca chiếm tỷ
lệ 25,58%. So với năm 2006 (trước khi triển khai kế hoạch hành động bảo vệ chăm
sóc nâng cao sức khỏe vị thành niên), tỷ lệ mang thai tăng 4,81%, tỷ lệ phá thai
giảm 1,95%. Sự hiểu biết, tiếp cận các dịch vụ sức khoẻ sinh sản của vị thành niên
thanh niên tăng lên, nhờ đó tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, phá thai
giảm. Tuy nhiên, do trào lưu của xã hội ít khắt khe hơn về vấn đề quan hệ tình dục
trước hôn nhân nên tỷ lệ mang thai vị thành niên vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Bởi số
trẻ em bị bỏ rơi sau khi sinh có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây.
Riêng nạn bạo hành tình dục ở trẻ vị thành niên và vị thành niên là tội phạm
ngày một gia tăng. Năm 2009, Phòng PV11 Công an tỉnh cho biết có 11 em bị bạo
hành trong gia đình; 13 em bị xâm hại tình dục và có đến 137 vị thành niên - thanh
niên nghiện chích ma túy; 587 đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật trong 396

17


vụ, trong đó có 278 trẻ dưới 16 tuổi… Với những hành vi kể trên, có thể nhận thấy
rất rõ ý nghĩa của việc giáo dục KNS cho HS trong xã hội hiện nay. Khảo sát của
Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội về thực trạng và nhu cầu được
đào tạo KNS của nhóm trẻ vị thành niên tại hai trường phổ thông trên địa bàn Hà
Nội, các nhà giáo dục đã thu nhận một số kết quả trả lời của HS như sau: Với câu
hỏi (CH): “Bạn đã bao giờ được học về kỹ năng sống chưa?”, ý kiến trả lời: 12.2%
được học một lần, 5,8% được học nhiều lần và 82% chưa bao giờ được học tạo
KNS. Với CH: “Theo bạn việc trang bị kỹ năng sống có cần thiết không?” thì có
70,6% trả lời là rất cần, 25,8% trả lời là cần thiết. CH: “Gặp khó khăn trong cuộc
sống, em thường giải quyết như thế nào?”. Có 42,9% trả lời cố gắng tự giải quyết,
52,4% tìm sự giúp đỡ của người khác và 4,7% mặc kệ, mọi chuyện rồi sẽ qua. Từ
sự khảo sát trên chúng tôi khẳng định: Những con số và thông tin trên cho thấy sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status