Đề tài: Sáng kiến kinh nghiệm
GIÁO DỤC MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA MÔN ĐẠO ĐỨC.
Tác giả : Phạm Thị Ngọc Liên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Bồng Sơn
A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết
Như chúng ta đã biết, ở Tiểu học các em được học nhiều môn học khác
nhau. Mỗi môn học đều có mục đích đào tạo riêng, song tất cả đều có mục tiêu
chung là hình thành cho các em những kiến thức cần thiết về tự nhiên- xã hội,
con người, thiên nhiên giúp các em có những kiến thức cần thiết làm nền tảng cơ
bản để có thể tiếp tục học các bậc học tiếp theo. Vì vậy bên cạnh việc trang bị
cho học sinh những vốn kiến thức kĩ năng cơ bản trong học tập, lao động còn
cần phải chú ý đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, dạy học sinh cách
làm người để học sinh có thêm vốn kinh nghiệm ứng xử với môi trường mới, với
yêu cầu mới tạo khả năng cân bằng giữa kiến thức và thái độ. Tăng cường khả
năng của cá nhân học sinh nhằm duy trì sự cân bằng trạng thái tinh thần và biết
thích nghi với môi trường.
Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và
tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
Kĩ năng sống gắn liền với 4 trụ cột của giáo dục là: “Học để biết” bao gồm
các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải
quyết vấn đề…
“Học làm người” đó là các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng,
kiểm soát cảm xúc tự nhận thức, tự tin…
1
“Học để sống với người khác”: giao tiếp, thương lượng hợp tác, làm việc
theo nhóm…
“ Học để làm”: nhằm thực hiện công việc như kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ
năng đảm trách nhiệm vụ.
biểu bài
3 33,3 7 25,9 9 33,3 8 29,6
Phát biểu trong
hoạt động nhóm
3 11,1 5 18,5 9 33,3 10 37
Hành vi
Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít khi Luôn tập
trung
Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %
Không tập trung
khi học trên lớp
5 18,5 10 37 5 18,5 7 25,9
Hành vi
Rất tốt Tốt Bình thường Không tốt
Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %
Quan hệ với mọi
người xung
quanh ( bạn bè,
thầy cô)
6 22,2 7 25,9 10 37 4 14,8
Nhận thức
Tốt Chưa tốt Không tốt
Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %
Nhận thức giá trị một hành
động
10 37 8 29,6 9 33,3
Nhận thức tìm kiếm sự hỗ trợ
của mọi người xung quanh
5 18,5 9 33,3 13 48,1
Có kỹ năng giao tiếp 6 22,2 10 37 11 40,7
chước người lớn. Vì vậy không những tiết Đạo đức mà tất cả các tiết khác các
em cũng ảnh hưởng rất lớn theo hướng tích cực hoặc tiêu cực mà Đạo đức là
môn học có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục kĩ năng sống cho bọc sinh tiểu
học.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy tôi thấy còn nhiều học sinh chưa mạnh
dạn tự tin, còn e dè thụ động trong học tập và trong các hoạt động chung về sinh
hoạt sao, Đội . Kĩ năng giao tiếp còn hạn chế, chưa biết cách diễn đạt, chưa biết
cách trình bày ý kiến cá nhân, chưa biết đóng góp ý kiến xây dựng, hạn chế
trong việc tự bảo vệ bản thân mình hoặc chỉ làm theo ý mình chứ không làm
theo sự giáo dục của người lớn. Giáo viên chưa tìm ra được biện pháp, hình thức
tổ chức hữu hiệu để rèn kĩ năng sống cho học sinh.
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
Trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu bản thân đã giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh lớp tôi thông qua các giờ Đạo đức như sau :
Các bài học trong môn Đạo đức có rất nhiều tình huống gần gũi với các
tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy khi dạy Đạo đức tôi luôn đổi
mới phương pháp, chú trọng cho học sinh đóng vai, thể hiện cách ứng xử của
mình trong mỗi tình huống. Trong quá trình dạy tôi luôn yêu cầu tất cả học sinh
lần lượt đều phải lên đóng vai. Tôi thường cho học sinh thảo luận theo nhóm rồi
lên thể hiện cách ứng xử trong mỗi tình huống. Như vậy học sinh sẽ mạnh dạn,
tự tin và nhớ cách ứng xử trong các tình huống để vận dụng vào cuộc sống hàng
ngày .
Khi dạy tôi luôn bám sát vào mục tiêu của bài, vận dụng thực tế đưa vào
bài giảng cho phù hợp và hiệu quả. Tôi phải nghiên cứu kĩ chương trình Đạo
đức lớp 3,đưa những kiến thức này vào bộ nhớ của học sinh để các em vận dụng
vào thực tế một cách hiệu quả nhất, đưa ra một số tình huống giúp học sinh phân
5
biệt, đánh giá các hành vi đúng, sai và giải thích lý do chọn hành vi đó. Không
những trong giờ Đạo đức mà trong các hoạt động của lớp tôi cũng luôn tạo điều
thể Tùy từng bài, tùy từng nội dung giáo viên có thể lồng ghép rèn kĩ năng sống
cho học sinh một cách hợp lý.
1.1. Giao tiếp ứng xử trong gia đình ( Ông bà, cha mẹ, anh chị em )
1.1.1 Đối với giáo viên và người lớn tuổi
- Mỗi giáo viên phải luôn thường xuyên tự rèn kĩ năng sống , luôn thể
hiện là tấm gương sáng, mẫu mực cho học sinh noi theo. Giáo viên luôn đổi mới
phương pháp để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh (ví dụ :
thảo luận, đóng vai )
Học sinh ít nhiều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự giao tiếp trong gia đình, chịu
ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình. Hiện nay không ít học sinh
được sự cưng chiều thái quá của ông bà , cha mẹ đã trở nên “ngang ngược”. Vì
thế , giáo viên cần phối hợp với phụ huynh , gia đình học sinh để tìm hiểu về
hoàn cảnh sống, nắm bắt kịp thời đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để giúp học
sinh hiểu được : Giao tiếp trong gia đình là “ Kính trên – nhường dưới”. Từ đó
định hướng dần cho học sinh qua lời nói, hoạt động cụ thể để học sinh có được
sự giao tiếp đúng mực.
Giáo viên phải là người “thiết kế”, định hướng giúp đỡ, uốn nắn học sinh, tôn
trọng học sinh, giúp học sinh tự tin bằng việc khuyến khích, động viên.
1.1.2. Đối với học sinh
Học sinh cần :
Lễ phép, kính trọng ông bà ,cha mẹ.
7
Vâng lời, giúp đỡ bố mẹ; nhường nhịn em nhỏ.
Biết tối thiểu những tình huống ứng xử với mọi người trong gia đình, biết
nói “cảm ơn” , “ xin lỗi”, “vâng, dạ, ạ, thưa” với cả những người thân thiết
trong gia đình, biết dùng từ ngữ phù hợp, đúng mực, phù hợp với hoàn cảnh
đồng thời phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến mọi người ngay cả khi bất đồng
quan điểm, cả khi việc không theo ý mình.
Ví dụ : Bài” Quan tâm chăm sóc ông bà cha mẹ anh chị em” ta sử dụng
các phương pháp :
gần gũi thân thiện với học sinh, phát hiện khó khăn để giúp đỡ, tư vấn.
Giáo viên cần khuyến khích học sinh trao đổi, đặt câu hỏi thảo luận, phát
biểu ý kiến, thể hiện quan điểm, cảm xúc riêng của mình. Giáo viên có thể chia
nhóm từ nhỏ đến nhóm lớn để dễ trao đổi, giúp các em tự tin dần và luân phiên
em nào cũng có thể làm nhóm trưởng để giúp học sinh mạnh dạn trong giao tiếp.
Việc rèn kĩ năng giao tiếp ứng xử trong nhà trường không phải thông qua
một môn học nào mà nó bao trùm toàn bộ các môn học và môn Đạo đức là được
trải nghiệm thiết thực nhất.
1.2.2. Đối với học sinh
Nguyên cứu tìm hiểu bài trước khi đến lớp để có thể tự tin, mạnh dạn
phát biểu ý kiến, trình bày hiểu biết của mình và tham gia đóng góp ý kiến cho
bạn.
Học sinh phải tập dần sự mạnh dạn, phát huy những việc mình có thể làm
được cho lớp, cho trường.
Biết nhắc nhở bạn bè cùng tích cực tham gia việc lớp, việc trường.
9
Quý trọng các bạn có ứng xử tốt. Học tập những mặt mạnh của bạn và
tham gia đóng góp ý kiến với tập thể để cùng nhau tiến bộ .
Trong học tập không thụ động ngồi nghe mà cần phát biểu xây dựng bài,
nêu lên điều mình muốn biết, chưa biết và tham gia tranh luận cùng các bạn.
Ví dụ :
Nghe lời cô giáo, giờ ra chơi các bạn chơi trò chơi tập thể, Huy đang mệt
không muốn chơi nhưng các bạn cứ kéo Huy vào cùng chơi, thế là Huy cãi nhau
với bạn. Nếu em cũng là người trong nhóm chơi em sẽ làm thế nào ? Nếu em là
Huy, khi bị mệt không muốn chơi cùng các bạn em làm thế nào ?
Ví dụ : Nhóm học sinh đóng vai xử lý tình huống có liên quan đến rèn kĩ
năng sống ( giao tiếp trong trường )
Trong giờ chơi Minh và Khánh chơi trò chơi đuổi bắt, Minh đang chạy
không may va phải Tuấn, có xảy ra việc cãi nhau ( Học sinh tự diễn tiếp và
giải quyết tình huống)
Mối quan hệ của các em với công việc ( học tập, hoạt động của lớp, của
trường, công việc giúp đỡ gia đình, hoạt động xã hội )
Mối quan hệ của các em với thiên nhiên ( môi trường động vật, thực vật )
Mối quan hệ của các em với tài sản riêng, tài sản chung(đồ dùng học tập,
quần áo, sách vở bàn ghế, đồ dùng trong lớp )
Mối quan hệ với xã hội (quê hương, bộ đội, thương binh, liệt sĩ ). Biết cư
xử đúng mực tự tin khi gặp sự đối xử thiếu công bằng. Biết bày tỏ nhu cầu một
cách phù hợp. Biết xây dựng nhân tố giao tiếp và dùng lời nói cho phù hợp.
Ví dụ : Lời đề nghị yêu cầu muốn được giúp đỡ:
11
Giáo viên đưa ra tình huống cụ thể : “ Nhờ một bạn cùng trang lứa chỉ
đường đến bệnh viện”.
Học sinh có thể nêu lên một số ý kiến cá nhân :
+Bạn có thể chỉ đường tới bệnh viện giúp tớ được không ?
+Phiền bạn chỉ hộ tớ đường tới bệnh viện.
+Bạn chỉ giúp tớ đường tới bệnh viện nhé!
Từ đó học sinh sẽ thấy được tác dụng hiệu quả của việc dùng lời nói lịch sự,
tế nhị. Qua đó giáo viên định hướng để học sinh dùng ngôn ngữ giao tiếp cho
phù hợp.
Tóm lại:
Thông qua giao tiếp, học sinh tự chấn chỉnh hành vi của mình cho phù hợp
văn minh, lịch sự hơn, hòa đồng trong mọi trường hợp. Học sinh biết nói lời hay,
làm việc tốt, có thể là những việc nhỏ góp phần thúc đẩy sự phát triển của cá
nhân học sinh.
2. Khả năng áp dụng
Đề tài này tôi đã xây dựng, thử nghiệm qua nhiều năm giảng dạy và hoàn
thành xong đề tài vào tháng 2 năm 2013.
Với quá trình nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn giảng dạy, đây không
hẳn là một biện pháp tốt nhất để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nhưng
thông qua môn Đạo đức phần nào cũng giáo dục đạo đức cho các em có vị trí
0 45,5% 55,5% 0
Có kĩ năng giao tiếp với mọi đối
tượng
37% 48,1% 14,8%
Qua quan sát bản thân nhận thấy đã có sự chuyển biến tích cực về hành vi
thái độ của học sinh sau một thời gian thực hiện
13
C. KẾT LUẬN
Trẻ em trong lớp tuổi tiểu học rất hồn nhiên, ngây thơ trong trắng. Vốn
kiến thức, vốn kinh nghiệm sống của các em rất ít nhưng kết quả đạt được của
sáng kiến kinh nghiệm đã khẳng định tính đúng đắn, tính thiết thực và tính hiệu
quả của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua môn Đạo đức.
Đương nhiên một môn đạo đức là chưa đủ, mỗi giáo viên còn phải biết tích hợp
trong tất cả các môn và phân môn khác, có như thế hiệu quả việc giáo dục kỷ
năng sống mới ngày được nâng cao.
Học sinh ngoan hơn, biết cách ứng xử vào các tình huống hàng ngày một
cách hợp lí. Việc giáo dục nội dung lĩ năng sống thông qua môn Đạo đức góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học và giáo dục toàn diện cho học
sinh, đồn thời phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo ở học sinh tiểu học cụ
thể : Đầu năm học tôi thấy một số học sinh chưa ngoan, hay nói bậy, đánh nhau,
14
tự tiện lấy đồ của bạn, ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp chưa tốt…Nhưng đến
cuối năm học tôi thấy học sinh của mình ngoan hơn, biết cách ứng xử một số
tình huống thường gặp một cách hợp lí hơn. Cụ thể các em đã biết tôn trọng tài
sản của người khác , giảm chọc ghẹo nhau, luôn thương yêu nhau.
- Đề xuất, kiến nghị.
Chương trình Đạo đức lớp 3 có 14 bài thì cả 14 bài đều mang nội dung
giáo dục đạo đức vì vậy cần phân phối chương trình cho tiết thực hành, ngoại
khóa cho học sinh nhiều hơn. Từ đó các em được tiếp xúc với thực tế xã hội
Ngày, tháng, năm sinh: …………
Đơn vị: Trường tiểu học ………
Địên thoại: 0912345678
E-mail: [email protected]
II. TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên SKKN:
III. NỘI DUNG CAM KẾT
17
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng thành công trong giảng
dạy tại trường ……………………………… . Trong trường hợp có xảy ra tranh chấp
về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm này
mà tôi là người vi phạm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo sở GD&ĐT. Sáng kiến kinh nghiệm này tôi cũng đã phổ biến cho đồng nghiệp nên
nếu có bạn đọc học tập, nghiên cứu, sử dụng, áp dụng sáng kiến này tôi cũng không
khiếu nại hay đòi hỏi quyền sở hữu.
…………, ngày … tháng … năm 20….
Người cam kết
(Ký, ghi rõ họ tên)
18
19