Lời Cảm Ơn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo hướng
dẫn Th.s Trần Thị Mỹ Hồng đã luôn hướng dẫn chu đáo, tận
tình và luôn động viên trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc đối với các thầy cô
giáo trong Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại
học Quảng Bình đã động viên trong suốt 4 năm học.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ trong
học tập và trong quá trình nghiên cứu khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 05 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Thảo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả
nghiên cứu không trùng với kết quả của tác giả nào khác.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Quảng Bình, tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Đinh Thị Thảo Ly
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................... 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ........................................................................................... 2
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................................................. 7
3.2. Nghệ thuật kể chuyện ................................................................................... 43
3.3. Nghệ thuật miêu tả ....................................................................................... 46
3.4. Nghê thuật sử dụng ngôn ngữ ...................................................................... 49
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 57
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ xưa đến nay, văn học đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong
đời sống con người. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một loại hình
nghệ thuật, văn học làm phong phú hơn hiểu biết của con người, góp phần hình
thành nhân cách, đúng như M.Gorki đã từng nói “ Văn học là nhân học”.
Ở Việt Nam, trong sự phát triển của nền văn học dân tộc, mỗi đối tượng,
mỗi lứa tuổi, cũng có những sáng tác văn học phù hợp. Trong đó, văn học thiếu
nhi là một bộ phận quan trọng góp phần làm nên diện mạo của văn học nước
nhà. “Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống”. Đó là những bức tranh muôn
màu về cuộc sống, về thế giới tâm hồn đáng yêu, hồn nhiên và trong sáng của
lứa tuổi ấu thơ.
Và với bất kì ai, tuổi thơ là quãng thời gian đáng nhớ, quãng thời đẹp,
quãng thời gắn bó với những cảm xúc, suy nghĩ hồn nhiên, sống động. Những
lời hát ru, những câu chuyện cổ tích thời thơ ấu sẽ theo chúng ta suốt cuộc đời
và trở thành kỉ niệm khó quên của tuổi thiếu niên. Lớn lên, khi bắt đầu biết đọc
những con chữ các em lại tiếp tục tìm những câu chuyện phù hơp sở thích, để
thỏa mãn trí tưởng tượng phong phú của mình. Văn học thiếu nhi, vì vậy đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu của bất kì nên văn học nào.
Khi nhắc đến văn học trẻ em, chúng ta không thể không nhớ đến Tô Hoài.
Ông được xem là người có công đặt viên gạch đầu tiên dựng nên ngôi nhà văn
học trẻ em Việt Nam hiện đại. Nhà văn Tô Hoài là một nhà văn tài năng và là
tấm gương sáng về lao động nghệ thuật. Nhà văn đã có nhiều tác phẩm dành cho
đều khẳng định: Truyện đồng thoại phản ánh cuộc sống không theo quy luật tả
thực mà theo quy luật tưởng tượng. Theo họ, nhờ tưởng tượng mà cuộc sống
trong truyện đồng thoại hiện lên rõ hơn, lộng lẫy hơn, có sức khái quát cao hơn.
Nhờ đó, thể loại này dễ dàng bắt nhịp với tuổi thơ, tham gia rất sớm vào quá
trình hình thành nhân cách của mỗi con người. Khi nói về đặc trưng của truyện
đồng thoại, các tác giả trên cũng bàn đến vấn đề nhân vật. Theo họ, hệ thống
nhân vật của truyện đồng thoại rất đa dạng, nhưng trọng tâm vẫn là loài vật, và
chúng được miêu tả theo một số nguyên tắc nhất định như: nhân cách hóa, cách
điệu hóa… Nhân vật của đồng thoại không chỉ là người mà còn đủ các loài vật,
2
loài có xương sống hoặc không có xương, biết nhảy, biết bay, biết bơi lội (…),
là các loài cây cỏ hoa quả mọc ở bất cứ khí hậu nào. Cả từ cây kim sợi chỉ cho
đến đoàn tàu, chiếc cầu sắt, đều có thể biến thành nhân vật của đồng thoại.
Ngoài ra, bàn về vai trò, chức năng giáo dục của truyện đồng thoại, còn có
các tác giả Ngô Quân Miện, Lã Thị Bắc Lý và Nguyễn Thị Ánh Tuyết. Tác giả
Ngô Quân Miện nhận thấy: “Việc đưa những tình cảm, tư tưởng cao đẹp vào
tâm hồn các em nhi đồng qua con đường đồng thoại là con đường có hiệu quả
hơn hết”. Nhà tâm lí học Nguyễn Thị Ánh Tuyết trong “Truyện đồng thoại với
trẻ thơ” cũng có quan điểm tương tự khi viết rằng: Truyện đồng thoại ngắn gọn,
đậm chất mơ tưởng, có khả năng khơi dạy ở các em những cảm xúc thú vị, bất
ngờ, đồng thoại nó “Khiến cho một đứa trẻ từ một thính giả thụ động biến thành
một người tham gia tích cực vào các sự kiện của các nhân vật vốn chi là chim
nuông, cây cỏ hay những vật vô tri, vô giác mà trở thành người bạn thân thiết
với chúng” [13,tr.53]. Bài viết Truyện đồng thoại với giáo dục mẫu giáo của Lã
Thị Bắc Lý tiếp cận vấn đề theo hướng khác, đó là đi vào phân tích những tác
động cụ thể như việc bồi dưỡng lòng nhân ái, cảm xúc thẩm mĩ... Trên cơ sở đó,
tác giả đã chứng minh khả năng to lớn của truyện đồng thoại trong việc thực
hiện chức năng giáo dục, một chức năng vốn rất được coi trọng trong văn học
về cảnh và người một vùng quê ven đô - quê ngoại và cũng là quê sinh - nơi tác
giả đã sinh sống suốt đời cho đến hôm nay” [11,tr.47]. Ngòi bút của Tô Hoài đã
miêu tả sự thay đổi của cuộc sống xung quanh mình những năm trước năm
1945.
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (quyển IV, Nxb Tân
Dân, H. 1944) nhận xét: “Truyện ngắn của Tô Hoài không những đặc biệt về lời
văn, cách quan sát, về lối kết cấu, mà còn đặc biệt cả về những đặc biệt cả về
những đầu đề do ông lựa chọn nữa”. “Truyện của ông có những tính chất nửa
tâm lý, nửa triết lý, mà các vai lại là loài vật. Mới nghe tưởng như những truyện
ngụ ngôn, nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: Ông không phải
một nhà luận lý, truyện của ông không để răn đời. Nó là những truyện tả chân về
loài vật, về cuộc sống của loài vật, tuy bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng bên trong
có lắm cái “Ồn ào”, vui cũng có mà buồn cũng có” [Theo Phong Lê - Vân
Thanh, sđd.59].
4
Tác giả Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 (Nxb Đại
học và Trung học chuyên nghiệp H.1975) nói về đặc điểm truyện đồng thoại của
Tô Hoài như sau: “Trong các truyện đồng thoại (Con mèo lười, Chim chích lạc
rừng, Cá đi ăn thề), Tô Hoài đã phát huy nhân tố tưởng tượng, phần phong phú
nhất trong tư duy các em nhỏ. Truyện đồng thoại của Tô Hoài cũng là sự kết hợp
giữa khả năng quan sát loài vật rất tinh tế với một bút pháp miêu tả giàu chất trữ
tình và chất thơ. Thiên nhiên ở đây màu sắc rực rỡ, âm thanh náo nức và luôn
chuyển động rộn ràng, tươi vui đúng như thị hiếu hàng ngày của tuổi thơ” [Theo
Phong Lê - Vân Thanh, sđd, tr.94].
Tác giả Trần Hữu Tá trong Văn học Việt Nam 1945-1975, tập 2 (Nxb Giáo
dục 1990) đã dành cho Tô Hoài những lời khen ngợi: “Tô Hoài có khả năng
quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động. Người, vât, thiên nhiên, cảnh
sinh hoạt,… tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái thần của đối
Hoài và bài viết Đặc Điểm thế giới nhân vật Tô Hoài trên Tạp chí Văn học.
Trong đó, tác giả cũng đã thu thập rất nhiều ý kiến về nghệ thuật viết văn Tô
Hoài.
Năm 2007, cuốn “Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung” do
nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ chủ biên đã viết về quá trình ra đời, phát triển của
truyện ngắn Việt Nam cùng với những gương mặt nhà văn tiêu biểu. Trong đó,
Tô Hoài đã được nhắc đến cùng với các tác giả tên tuổi như Nguyễn Công Hoan,
Nguyên Hồng, Nam Cao... Người viết đã nhấn mạnh một số đặc trưng nghệ
thuật truyện ngắn Tô Hoài như “lối viết thông minh, hóm hỉnh, thậm chí tinh
quái, một đôi nét tâm lí và triết lí đượm sắc thái buồn pha chút mùi vị chua chát
kiểu Nam Cao”, “Những con vật trong tác phẩm Tô Hoài có nét gì đó giống
người, quen thuộc với người. Tô Hoài bắt rất nhanh những nét đặc trưng trong
tính cách của chúng”; “Truyện ngắn Tô Hoài chịu nhiều ảnh hưởng của văn học
dân gian. Nhưng lối dẫn truyện, kết cấu truyện, giọng điệu trần thuật cũng như
các thủ pháp khắc họa tính cách nhân vật đã quen thuộc về truyện ngắn hiện
đại”; “Trong một số truyện, cũng giống như Nam Cao trong Chí Phèo, Tô Hoài
đã sử dụng ngôn ngữ văn xuôi đa thanh, giọng điệu của người kể chuyện hòa lẫn
với giọng điệu nhân vật.
Có thể thấy, khi nghiên cứu truyện viết cho trẻ em, trong đó có mảng đồng
thoại của nhà văn Tô Hoài, các tác giả đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau,
6
song vẫn chưa nghiên cứu đặc điểm truyện đồng thoại viết cho trẻ em của Tô
Hoài một cách hệ thống và toàn diện; chưa xem nó như một đối tượng nghiên
cứu khoa học độc lập. Chúng tôi xem các bài viết đó là những gợi mở và đề xuất
hướng tiếp cận đúng đắn từ các phương diện khác nhau của truyện đồng thoại
Tô Hoài. Hy vọng đây sẽ là đề tài có ý nghĩa với những ai quan tâm tới truyện
đồng thoại nói chung và đồng thoại viết cho trẻ em của Tô Hoài nói riêng.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
chương:
Chương 1: Giới thiệu chung về nhà văn Tô Hoài và truyện đồng thoại.
Chương 2: Đề tài, nhân vật trong truyện đồng thoại viết cho trẻ em của Tô
Hoài.
Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật trong truyện đồng thoại viết cho trẻ
em của Tô Hoài.
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ VĂN TÔ HOÀI VÀ
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI
1.1. Tác giả Tô Hoài
1.1.1. Vài nét về tiểu sử
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 27 - 9 - 1920 tại làng Nghĩa Đô,
phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà
Nội) trong một gia đình thợ thủ công. Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai
Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,…
Tô Hoài chỉ học hết bậc Tiểu học, chủ yếu lăn lộn kiếm sống và học trong
trường đời. Bước vào tuổi thành niên ông đã phải bươn chải với rất nhiều nghề
như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … nhiều khi thất nghiệp,
cuộc sống vô cùng vất vả. Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình
dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân
chủ Hà Nội.
Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho
báo Cứu quốc và Cờ giải phóng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu
quốc”. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số
truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo.
Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột, Gã chuột bạch, Tuổi
trẻ, Đôi ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực, Võ sĩ Bọ Ngựa, Đám cưới
Chuột..., người đọc nhận thấy, nhà văn thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái
thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên
trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không tưởng.
Trước hết, với Dế Mèn phiêu lưu kí, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài được
bộc lộ ở nhiều phương diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài vật, kết
hợp với những nhận xét thông minh, hóm hỉnh, nhà văn đã lôi cuốn các em vào
thế giới loài vật bé nhỏ gần gũi, hấp dẫn và kì thú qua hình ảnh của: Dế Mèn, Dế
Trũi như anh em kết nghĩa vườn đào, sẵn sàng quên mình vì bạn, vì nghĩa lớn.
Xiến Tóc trầm lặng, vừa yêu đời vừa chán đời. Chị Cào Cào ồn ào và duyên
10
dáng. Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn. Cóc huênh hoang, dở hơi. Ếch thông thái
giả. Anh chàng Kỉm Kìm Kim hèn đớn. Cậu công tử bột Chim Chả Non có mẽ
mà đầu óc lại rỗng tuếch,... Từ đời sống và tích cách của từng con vật, nhà văn
nhằm bày tỏ quan niệm của mình về nhân sinh, về khát vọng chính đáng của
người lao động, về một cuộc sống hòa bình, yên vui, về tình thương, lòng chân
thành và sự đoàn kết. Bởi thế câu chuyện về chú Dế Mèn không chỉ có ý nghĩa
dành cho trẻ em, mà còn cả cho người lớn và cho cả xã hội. Nó thực sự mang
giá trị lâu bền trong đời sống tinh thần của con người, cũng vì thế, dù ở đâu và ở
thời kì nào, người đọc vẫn tìm thấy bao điều thú vị, bao bài học ý nghĩa từ tác
phẩm này. Tác phẩm đã khẳng định tiếng nói đặc sắc cũng như vị trí văn học
độc đáo của Tô Hoài trong văn học Việt Nam nói chung, văn học trẻ em nói
riêng.
Viết về loài vật, Tô Hoài đã dành khá nhiều trang để thể hiện chân thật,
sinh động họ nhà chuột. Các chủng loại chuột như: chuột nhắt, chuột cống,
chuột cộc, chuột bạch, chuột xù..., xuất hiện trong các tác phẩm của ông với
ào”, chờ ngày đẻ trứng, chờ ngày trứng nở, chờ những đứa con lớn lên từng
ngày... Thế rồi, Tết đến, tiếng pháo nổ đón xuân về vô tình đã làm tan tác gia
đình chúng. Nghe tiếng pháo “kinh khủng nổ vang động trong cây, cả nhà cuống
cuồng bay đi”. Cuộc sống của đôi vợ chồng chim gi đá rồi sẽ như thế nào trong
cảnh tan tác đó đã khiến cho người đọc phải ngậm ngùi, xót xa. Còn Mụ
ngan với “cái tính ngu tối, chậm chạp” đến mức những đứa con của mình gặp
nạn, hay bị chết vẫn vô tình, thản nhiên. Kể cả khi bị đá, bị đuổi đánh, “bị bỏ tù”
thì “chúng vẫn không hiểu chi”. Hơn thế nữa khi “chồng mụ” bị làm thịt, mụ
vẫn “thản nhiên”, mụ ngan chỉ nhớ rõ “khi có hạt ngô đo đỏ, hạt thóc vàng vàng,
tàu lá xanh xanh thì xô đến mà khởi sự ăn”.
Cùng với hình ảnh của những loài vật trên là của chú chó Đực ham vui, “la
cà” với “hàng tá nhân tình” nên bị người ta thiến. Đực “buồn thỉu, buồn thiu, đi
lừ khừ quên cả ăn uống”. Tuổi xuân của Đực qua nhanh, nó trở nên “lạnh lùng
với cuộc đời và lạnh lùng với tháng ngày”, nó “lặng lẽ sống cái cuộc đời tàn cục
buồn thiu”, “héo hắt dần”. Tác phẩm kết thúc với sự xuất hiện của một con chó
khác cũng “khỏe và béo lẳn” nhưng rồi thân phận của nó chắc gì đã khác với
con Đực.
12
Tóm lại, thế giới loài vật trong tác phẩm của Tô Hoài thật độc đáo. Thế giới
ấy gợi lên ở người đọc sự liên tưởng về nhiều vấn đề trong đời sống xã hội. Có
lẽ, từ trước cho đến nay, trong văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào viết về
loài vật nhiều và đặc sắc như Tô Hoài.
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo
cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế
tắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê
người, những người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách
với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn. Đó là thân phận của bà lão
Vối trong truyện Mẹ già buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con. Chỉ vì
lâu ở Tô Hoài. Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo
thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau. Trong đó,
tiểu thuyết Miền Tây của ông đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á
Phi vào năm 1970.
Bước chuyển trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề
tài. Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ảnh trong phạm vi của
một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà ông còn
hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người,
nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc. Tây Bắc không còn
là miền đất xa lạ, nó đã trở thành quê hương thứ hai của Tô Hoài. Ông viết về
Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng
cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính quê hương mình. Bởi lẽ, với Tô Hoài:
“Đất nước và người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều quá”, hình ảnh
Tây Bắc “lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi”, nó
có sức ám ảnh mạnh mẽ khơi dậy nguồn cảm hứng sáng tạo và thúc đẩy nhà văn
viết thành công nhiều tác phẩm về miền đất này. Trên cơ sở đó, có thể xem ông
là nhà văn của miền núi Tây Bắc, là một trong những người đặt nền móng cho
nền văn học viết về đề tài Tây Bắc.
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc
(1948). Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cảnh sống vất vả, thiếu thốn,
nhưng giàu nghĩa tình đối với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu
của đồng bào miền núi. Tuy nhiên, tác phẩm này còn nặng về thể hiện, miêu tả
các tài liệu, bề mặt của vấn đề mà ít đi vào khám phá chiều sâu, bản chất của nó
14
để rồi “chết chìm trong tài liệu” như nhà văn đã tâm sự trong Một số kinh
nghiệm viết văn của tôi. Vì thế, tác phẩm trên còn thiếu sự sinh động, thiếu sức
hấp dẫn đối với người đọc.
Phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có được sự thành công đặc sắc ở
yên, hạnh phúc cho quê hương đất nước. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Trong số tác phẩm viết về miền núi Tây Bắc sau 1955 của Tô Hoài, tiểu
thuyết Miền Tây là tác phẩm nổi bật nhất. Miền Tây có cốt truyện xoay quanh sự
đổi đời của gia đình bà Giàng Súa nhờ cách mạng. Cách mạng đã đem lại cho
gia đình bà nhiều niềm vui giản dị trong cuộc sống đời thường. Các con bà như
Thào Khay, Thào Mị đã trở thành cán bộ gương mẫu góp phần làm nên sự đổi
thay trong cuộc sống cho quê hương Tây Bắc. Bên cạnh đó, với Miền Tây, Tô
Hoài đã có thêm những nét mới về nghệ thuật trong cách triển khai cốt truyện,
dựng cảnh, cách khai thác các chi tiết nghệ thuật, và nhất là việc xây dựng thành
công một số nhân vật mang tính điển hình tạo nên ở người đọc dấu ấn sâu bền
như: Giàng Súa, Thào Khay, Vừ Sóa Tỏa. Đặc biệt, nhà văn có sự kết hợp hài
hòa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn trong quá trình sáng tạo. Chính
điều này đã góp phần làm nên vẻ đẹp rất chân thật mà cũng rất giàu chất thơ
mộng lãng mạn cho Miền Tây.
Sống trong cuộc đời mới, nhà văn Tô Hoài cũng “ôn chuyện cũ”, ngòi bút
của ông hướng về xã hội trước Cách mạng tháng Tám từ cách nhìn, sự suy ngẫm
sâu sắc hơn theo thời gian và những trải nghiệm trong cuộc sống. Ở tiểu
thuyết Mười năm, với tầm nhận thức mới và từ chỗ đứng của cuộc sống hiện tại
nhiều đổi thay mang ý nghĩa lớn trong đời sống dân tộc, Tô Hoài đã phản ảnh
chân thật và sinh động hơn cảnh sống bi thảm, đói nghèo, cùng quẫn ở một vùng
quê ven đô, nơi mà nhà văn đã chứng kiến và trải qua cùng với bao số phận
khác. Đồng thời, qua Mười năm, nhà văn cũng thể hiện được quá trình giác ngộ
cách mạng của quần chúng cũng như sức mạnh của họ trong các phong trào đấu
tranh chống lại sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến. Đi đầu trong
phong trào đấu tranh là lớp thanh niên như Lạp, Trung, Lê, Ba,... Họ tiếp thu
ánh sáng lí tưởng mới, và hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động để đem lại
sự đổi thay cho cuộc sống.
16
17
Tóm lại: Những sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám đã khẳng
định được vị trí và tài năng nghệ thuật của ông trước hiện thực của cuộc đời
mới. Ông xứng đáng là một tấm gương trong sáng trong lao động nghệ thuật để
góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2. Truyền đồng thoại
1.2.1. Khái niệm truyện đồng thoại
Thuật ngữ truyện đồng thoại có nguồn gốc từ Trung Quốc xuất hiện ở nước
ta vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX khi nền văn học đã cho ra đời
những tác phẩm thuộc thể loại này. Trong quá trình sử dụng, nó đã được qui ước
lại, thể hiện cách hiểu riêng của văn học Việt Nam. Tìm hiểu thuật ngữ này
trong nền văn học Trung Quốc, ta thấy có nhiều điểm khác biệt so với cách hiểu
của ta hiện nay.
Ở Việt Nam, thuật ngữ truyện đồng thoại có nhiều cách hiểu khác nhau,
theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (bản in 1994) định nghĩa đồng
thoại theo nghĩa rộng là truyện chép cho trẻ con xem”. Còn trong từ điển tiếng
Việt của Viện Ngôn ngữ học (bản in 2001) lại có cách hiểu khác đồng thoại là
thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa tạo
nên một thế giới thần kì thích hợp với trẻ em”. Bên cạnh đó, một số nhà phê
bình trong những bài viết của mình cũng cho ý kiến về vấn đề này. Tiêu biểu là
nhận định:
Vân Thanh trong bài viết “Tìm hiểu đặc điểm của truyện đồng thoại” đăng
trên Tạp chí Văn học (4) năm 1974 đưa ra cho rằng đồng thoại là một thể loại
đặc biệt của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và mơ tưởng.
Ở đó, các tác giả thường dùng nhân vật chính là động vật, thực vật và những vật
vô tri, lồng cho chúng những tình cảm của con người. (Cũng có khi nhân vật là
người). Qua thế giới không thực mà lại thực đó, tác giả lồng cho chúng những
chính ngay từ bạn bè và những thứ xung quanh mình; học để lớn lên mỗi ngày
cho tâm hồn được tưới tắm trong những yêu thương, chăm sóc.
Khi viết đồng thoại, nhà văn rất chú ý tâm lý của lứa tuổi. Trong Làm thế
nào để viết cho các em hay hơn, nhà văn Phạm Hổ nói rằng, “ở lứa tuổi bé
19
(vườn trẻ, mẫu giáo, cấp I), các em thường rất thích truyện cổ tích, truyện đồng
thoại, truyện ngụ ngôn...”. Nhà văn Cửu Thọ, qua nhiều năm làm công tác xuất
bản sách cho thiếu nhi, cũng khẳng định: đối với lứa tuổi nhi đồng, loại sách
được các em yêu thích hơn cả là “các truyện đồng thoại, cổ tích có tranh minh
họa nhiều màu sắc”. Nhà văn Ngô Quân Miện lí giải thêm: sở dĩ truyện đồng
thoại thích hợp với nhi đồng là vì “trong đó sự vật được nhìn theo cách nhìn,
cách cảm nghĩ của các em và kể lại theo cách nói của các em”... Qua một số ý
kiến trên đây, chúng ta nhận thấy, các em ở lứa tuổi nhi đồng chính là lớp công
chúng đặc biệt của thể loại truyện đồng thoại. Lứa tuổi này, như nhà tâm lí học
Vũ Thị Nho đã nhận xét, giàu tình cảm, trí tưởng tượng phát triển mạnh và nhu
cầu huyễn tưởng cao... Ở các em, bộ não đang trên đà phát triển nên sự hưng
phấn thường bộc lộ ra rất mạnh. Khả năng ghi nhớ những cái cụ thể của các em
tốt hơn các khái niệm trừu tượng. Do đó, tính trực quan, hình tượng là một đặc
điểm quan trọng về nhận thức của lứa tuổi này. Mặt khác, trong quan hệ với thế
giới xung quanh, các em luôn lấy mình là trung tâm và nhìn sự vật bằng cái nhìn
nhân hóa. Cho nên, thế giới trong mắt các em luôn là những thực thể sinh động,
có hồn người. Chúng ta sẽ không lạ khi nhìn thấy các em chơi với búp bê, ru
búp bê ngủ, hát cho búp bê nghe... Bản thân các em rất yêu thương loài vật, đối
xử với loài vật như bầu bạn. Trong quan niệm của các em, con vật nào cũng biết
yêu, biết ghét, có cảm nghĩ, nói năng như con người. Những đặc điểm tâm lí như
vậy đã giúp các em tìm thấy ở truyện đồng thoại những điều phù hợp với lứa
tuổi của mình. Có thể nói tới ba điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các em vốn giàu tưởng tượng, nhất là tưởng tượng hoang đường,
“Dế Mèn phiêu lưu ký đã hết nhẵn trong vài tiếng đồng hồ sau khi đưa ra bán”.
Các độc giả nhỏ tuổi ở nước Nga xa xôi đã đọc rất kĩ tác phẩm của Tô Hoài.
Thậm chí, có em đã viết thư cho nhà văn để nêu lên mối băn khoăn vì sao răng
con Dế Mèn không có màu nâu như con dế ở bên Nga... Sau Dế Mèn phiêu lưu
ký, một số tác phẩm khác của Tô Hoài (Ba anh em, Dê và Lợn, Đám cưới
chuột), Nguyễn Đình Thi (Cái Tết của Mèo con), Vũ Tú Nam (Cuộc phiêu lưu
của Văn Ngan tướng công) cũng lần lượt được giới thiệu với nhiều nền văn học
khác nhau trong khối XHCN (cũ). Mức độ và phạm vi ảnh hưởng của các tác
phẩm nói trên là không như nhau, nhưng có thể nói, chúng đã góp phần mở rộng
21