Trờng đại học s phạm hà nội
khoa giáo dục mầm non
----------***----------
Bài tập
Nghiệp vụ cuối khoá
đề tài:
Một số biện pháp tăng cờng giao tiếp Tiếng Việt cho trẻ
Mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số.
Môn làm quen chữ viết ở Trờng Mầm Non Yên Hoà T-
ơng Dơng.
Ngời hớng dẫn:
PGS-Tiến sĩ: Đinh Hồng Thái
Ngời thực hiện:
Học viên: Lơng Thị Mêu
Lớp K5-Mầm Non Nghệ An
Hà nội, Tháng 04 năm 2008
1
mục lục
trang
A. Phần mở đầu 3
I. Lý do chọn đề tài 3
II. Mục đích nghiên cứu 4
III. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
IV. Phơng pháp nghiên cứu 5
V. Đối tợng và khách thể nghiêm cứu 5
VI. Giả thuyết khoa học 5
VII. Đóng góp đề tài 5
B. Nội dung nghiên cứu 6
I. Cơ sở lý luận của đề tài 6
1. Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ
tộc .Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ em đã trở thành nghĩa vụ và trách nhiệm
của gia đình và của toàn xã hội là mối quan tâm hàng đầu của nhiều ngành khoa học
,của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam .ở Việt Nam
hiện nay việc quan tâm ,chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ đã đợc đề cập trong Luật giáo
dục và ở điều 19 có nêu : Mục tiêu củo giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể
chất ,tình cảm ,tr í tuệ ,thẩm mỹ ,hình thành những y ế u tố đầu tiên củ a nhân cách
,chuẩn b ị cho trẻ vào lớp 1phổ thông .
Có thể nói rằng giáo dục mầm non là một thâu quan trọng của hệ thống giáo quốc
dân, là bậc học chuẩn bị tiên đề cho giáo dục phổ thông theo mục tiêu giáo dục toàn
diện, nó sẽ ảnh hởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách con ngời ,vậy vấn đề đặt ra
trong lứa tuổi này là phải quan tâm đầy đủ đến giáo dục thể chất ,trí tuệ và tinh thần
cho trẻ nh C.Mác đã từng khẳng định Việc kết hợp giáo dục, trí tuệ, và thể chất
không chỉ là một phơng tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phơng tiện duy nhất
để phát triển con ngời toàn diện .
Ngành học mầm non trong những năm qua có những chuyển biến về chất lợng chăm
sóc nuôi dỡng và giáo dục trẻ không những ở các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mà còn
đợc nhân dân ở các vùng ven, miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số
cũng đang từng bớc đợc củng cố. Để thực hiện đợc vấn đề này một cách có hiệu quả
nâng cao chất lợng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì cần phải phát
triển ngôn ngữ, bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, sự phát triển ngôn ngữ là
giúp trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt độngkhác, vì ngôn ngữ là phơng tiện để giao lu
tình cảm, về mối quan hệ và cách ứng xử trong xã hội, là sự tìm tòi, khám phá thế giới
tự nhiên, cuộc sống xung quanh trẻ. Nhng đối với ngời đồng bào dân tộc quả là một
vấn đề bức xúc, vận động con em đến tuổi ra lớp không ít khó khăn, họ có lối sống
biệt lập giữa các dân tộc nên ít có điều kiện giao tiếp, cách suy nghĩ và khả năng tiếp
thu còn hạn chế. Thêm vào đó sự bất đồng về ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây nhiều
khó khăn trong việc giao tiếp, mặt khác họ cha hiểu đúng đắn về vấn đề học tập, con
cái muốn học hành nh thế nào cũng đợc, và muốn ở nhà giữ em vì con cái đông. Đối
với trẻ thì không muốn đi học vì đi học sẽ bị gò bó trong khuôn khổ, trẻ thích theo cha
mẹ lên rẫy để săn bắn chim, chăn trâu, chăn bò .
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giao tiếp tiếng Việt trong hoạt động làm quen
chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số.
- Nghiên cứu thực trạng công tác dạy tiếng Việt và tiếp thu của trẻ ở trờng mầm
non Yên Hoà.
- Đề xuất những biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số học
tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết.
IV. Phơng pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu về cho trẻ làm quen chữ viết nh qua sách báo, tranh ảnh.
- Quan sát hoạt động của trẻ làm quen chữ viết.
- Điều tra bằng phiếu đối tợng là giáo viên về việc dạy làm quen chữ viết cho
trẻ.
- Tìm tài liệu tổng kết, báo cáo về chuyên đề dạy làm quen chữ viết ở trẻ mẫu
giáo 5 tuổi ngời dân tộc.
- Lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên dạy giỏi, ý kiến đóng góp của các nhà quản
lý chỉ đạo cấp trên về chuyên đề này.
- Thực nghiệm về một số biện pháp.
V. Đối tợng khách thể nghiên cứu:
- Khách thể: Là hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân
tộc thiểu số.
- Đối tợng: Là những biện pháp để dạy làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5
tuổi ngời dân tộc thiểu số.
VI. Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng đợc các biện pháp tốt, phù hợp trong hoạt động làm quen chẽ viết
cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số thì chất lợng sẽ đợc nâng lên giúp trẻ tự
tin khi bớc vào học lớp 1.
VII. Đóng góp của đề tài:
- Hy vọng đề tài này thành công sẽ giúp cho nhà trờng nâng cao chất lợng trong
hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số và làm nền
lời nói) có vai trò rất to lớn trong đời sống tâm lý con ngời. Ngôn ngữ là một trong hai
yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con ngời (F. Anghen). Nói
cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình tâm lý của con ngời
có chất lợng khác hẳn với con vật. Ngôn ngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử
xã hội lời ngời, nhờ đó thế hệ sau có đợc các sức mạnh tinh thần của thế hệ trớc. Ngôn
ngữ là hình thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là "ý thức thực tại" của con ngời (C.
Mác) Có thể nói ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quá trình tâm lý của con ng ời, là
thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc của tâm lý ngời, đặc biệt là của
các quá trình nhận thức.
2.1. Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức cảm tính
1
Vgốtxki L . X T duy và lời nói. Trong: Những nghiên cứu tâm lý học chọn lọc. M. "GD", 1956
7
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm tính, nó
làm cho các quá trình này ở ngời mang một chất lợng mới.
a. Đối với cảm giác.
Ngôn ngữ ảnh hởng mạnh đến ngỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảm giác
đợc thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn. Thí dụ, nghe những ngời khác suýt xoa "trời lạnh
quá!" ta dễ cảm thấy lạnh hơn. Khi cảm nhận các thuộc tính của sự vật, hiện tợng ở
xung quanh (mầu sắc, âm thanh, mùi vị ) ta th ờng "gọi thầm" tên các thuộc tính đó ở
trong đầu, điều này làm cho cảm giác của ta về thuộc tính ấy mạnh hơn, chính xác
hơn.
b. Đối với tri giác.
Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và làm
cho những cái tri giác đợc trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn. Thí dụ việc
tách đối tợng ra khỏi bối cảnh (quy luật về tính lựa chọn của tri giác), việc ây dựng
một hình ảnh trọn vẹn về đối tợng tuỳ theo nhiệm vụ của tri giác (quy luật về tính trọn
vẹn của tri giác) nếu đợc kèm theo bằng lời nói thầm hay nói thành tiếng thì diễn biến
sẽ nhanh hơn và kết quả sẽ rõ hơn.
Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn, vì quan sát
quát - logic đợc.
Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của t duy, đặc biệt khi giải quyết các
nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Lúc này lời nói bên trong có xu hớng chuyển từng bộ
phận thành lời nói thầm (khi nghĩ ngời ta hay nói lẩm nhẩm là vì thế). Nếu nhiệm vụ
quá phức tạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài. Ngời ta nói to lên
thì thấy t duy rõ ràng và thuận lợi hơn. Những điều đó chứng tỏ không có ngôn ngữ,
đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, t tởng không thể hình thành đợc, tức
không thể t duy trừu tợng đợc.
b. Đối với tởng tợng
Ngôn ngữ cũng giữ một vai trò to lớn trong tởng tợng. Nó là phơng tiện để hình
thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tởng tợng.
Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hoá các hình ảnh của tởng tợng đang nảy sinh,
tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau, cố định chúng lại
bằng từ và lu giữ chúng trong trí nhớ. Ngôn ngữ làm cho tởng tợng trở thành một quá
trình ý thức, đợc điều khiển tích cực, có kết quả và chất lợng cao.
2.3. Mục đích ý nghĩa của việc cho trẻ làm quen với chữ:
Mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ nhằm giúp trẻ nhận biết
đợc các mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú học tiếng
mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc tập đọc, tập viết ở lớp 1.
Làm quen với chẽ không phải là một môn học độc lập, riêng biệt mà nó là một
phần, một bộ phận của việc phát triển ngôn ngữ trong chơng trình chăm sóc, giáo dục
trẻ 5 - 6 tuổi. Vì vậy nó có ý nghĩa trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tr-
ớc hết là rèn luyện kỹ năng nghe nói và giúp trẻ phân biệt đợc các âm khó, thông qua
các chữ cái, ví dụ nh: x - s; l - n. Sau khi đã học các âm riêng lẻ cần giúp trẻ phân biệt
đợc các âm trong từ, bằng cách đa ra một chữ cái bất kỳ, yêu cầu trẻ gọi tên đồ vật có
những âm đầu bằng chữ cái đã cho để trẻ phân biệt.
9
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với chữ l - n. Sau khi trẻ đã phân biệt đợc từng âm
riêng lẻ l và n, cô giáo yêu cầu trẻ tìm đồ vật có tên gọi các âm vừa học để trẻ phân
biệt nh: cái làn, cái lợc; cái nón, cái nơ.
- Dạy trẻ cách liên hệ các chữ cái với các từ đã học và tìm ra các chẽ cái có
trong các từ đó.
- Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quen với
các vị trí của các âm trong từ.
10
- Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết: cách
ngồi, cách cầm bút, mở sách, đọc
2.5. Yêu cầu cần đạt:
- Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt.
- Phân biệt và phát âm đúng các âm khó nh: l - n; b - p; s - x.
- Phân biệt đợc các chữ gần giống nhau p - q; b - d - m - n thông qua việc phân
tích các nét.
- Trẻ hứng thú nhận dạng, tìm kiếm các chữ cái ở mọi lúc mọi nơi, thông qua
sách báo, tranh ảnh và các bảng chữ.v.v .
Dạy trẻ tập nói tiếng Việt là một nội dung hết sức quan trọng trong giáo dục
mầm non. Song việc đó càng trở nên bức xúc, cấp thiết đối với trẻ mầm non vùng dân
tộc thiểu số, để trẻ em ngời dân tộc thiểu số có thể hoà nhập và học tập đợc bằng tiếng
Việt cần chuẩn bị vốn tiếng Việt cho trẻ ngay từ tuổi mầm non "Dạy trẻ nói tiếng Việt
là nội dung quan trọng của giáo dục mầm non, thực tế cho ta thấy rằng chất lợng học
tập của học sinh tiểu học ở vùng này phụ thuộc lớn vào trình độ tiếng Việt của các em.
Đối với lứa tuổi mầm non trớc khi vào lớp 1 trẻ chỉ đợc học ít tiếng Việt ở lớp
mẫu giáo theo lối truyền khẩu. Trong giao tiếp ở gia đình và cộng đồng trẻ không có
thói quen nói tiếng Việt nên vốn tiếng Việt của trẻ nghèo nàn, khả năng sử dụng tiếng
Việt rất hạn chế. Đối với trẻ ngời dân tộc, việc học tiếng Việt đợc gọi là ngôn ngữ thứ
hai. Quá trình học ngôn ngữ hai có những đặc điểm khác với quá trình ngôn ngữ mẹ
đẻ.
- Khác nhau ở trình độ xuất phát. Nếu trẻ em ngời kinh học tiếng Việt trên cơ sở
vốn kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, thì trẻ ngời dân tộc bắt đầu học tiếng việt
trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt.
- Khác nhau về môi trờng học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ hai chủ yếu là
2
với tổng số dân là 11.175 ngời, trong đó
học sinh dân tộc là 150 trẻ thuộc dân tộc Thái và Khơ Mú . Toàn xã có 1 trờng mầm
non với 12 lớp nằm rải rác ở 8 thôn làng.
a. Khó khăn:
- Đờng xa đi lại rất khó khăn, đặc biệt về mùa ma đờng xuống các thôn làng
trơn, lầy lội.
- Đa số học sinh là ngời dân tộc thiểu số, ngôn ngữ bất đồng.
- Nhận thức của phụ huynh học sinh còn hạn chế cha thấy đợc tầm quan trọng
của việc học.
- Đời sống kinh tế phụ huynh gặp nhiều khó khăn, ít có thời gian quan tâm đến
con, em.
- Cơ sở vật chất, điều kiện, phơng tiện dạy học của trờng còn thiếu, tạm bợ.
- Các cháu đều học một buổi nên hạn chế nhiều về vốn tiếng Việt khi cháu đến
trờng lớp, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp kiến thức, rèn kỹ năng để
nâng cao chất lợng giảng dạy và vốn tiếng Việt cho trẻ.
- Trình độ giáo viên không đồng đều.
b. Thuận lợi:
- Đợc sự quan tâm chỉ đạo của Sở - Phòng giáo dục và chính quyền địa phơng,
nhà trờng.
12
- Sự ủng hộ nhiệt tình của giáo viên, tất cả giáo viên đợc bồi dỡng, đào tạo về
chuyên môn.
- Tất cả các thôn làng đều có lớp mẫu giáo.
2. Thực trạng:
Dựa theo tình hình thực tế của nhà trờng bằng các phơng pháp nghiên cứu tài
liệu, quan sát hoạt động của trẻ, qua phiếu điều tra, đối tợng là giáo viên dạy trẻ mẫu
giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số trong hoạt động làm quen chữ viết qua ý kiến của
giáo viên dạy giỏi chuyên đề, qua báo cáo tổng kết của nhà trờng đã cho tôi thấy nổi
lên những thực trạng sau:
cháu vẫn không hoạt động chỉ ngồi im. Nhng đa số các cháu đã biết thực hiện theo yêu
cầu của cô với sự giải thích giúp đỡ nhiều nên trong tổ chức, hoạt động làm quen chữ
viết giáo viên phải tích cực dùng nhiều biện pháp sinh động để thu hút trẻ hứng thú
tham gia để phát triển thêm ngôn ngữ cho trẻ.
** Việc làm của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động.
Theo chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện theo hớng đổi mới tích hợp,
lồng ghép các môn học phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với nhận thức từng lứa tuổi,
đối tợng học sinh.
Trong hoạt động làm quen chữ viết theo phân phối chơng trình 26 tuần dạy
trong 3 tiết.
Tiết 1: làm quen chữ cái
Tiết 2: trò chơi chữ cái
Tiết 3: tập tô chữ cái
Hết năm học yêu cầu trẻ phải nhận biết, phát âm.
Viết đợc 29 chữ cái o, ô, ơ, a , ă, â, e, ê, và viết đ ợc tên trẻ, sao chép từ.
Thực tế giáo viên khi lên lớp về bài soạn còn cứng nhắc, rập khuôn máy móc,
cung cấp kiến thức cha đầy đủ, còn làm thay trẻ. Có tích hợp các môn học nhng cha
phù hợp Về đồ dùng trực quan tranh ảnh, đồ dùng, thẻ chữ còn thiếu cho cô và trẻ.
Một số giáo viên lên lớp cha nhiệt tình giảng dạy mang tính chất đối phó. Đối
với trẻ cha gần gũi quan tâm, có khi còn cắt xén chơng trình giảng dạy.
Tuy nhiên cũng có một số giáo viên cũng rất nhiệt tình năng nổ, gần gũi thơng
yêu trẻ, đã biết vận dụng phơng pháp giảng dạy một cách linh hoạt. ở những lớp này
chất lợng trẻ đạt cao hơn, khả năng sử dụng về tiếng Việt của trẻ phát triển hơn.
Giáo viên tổ chức các hoạt động làm quen chữ viết thông qua hoạt động dạy
học. Hầu hết trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc không có đủ điều kiện nhng đồ dùng đồ
chơi ở trong gia đình, ở nhà lại thờng chơi tự do, không ai chỉ bảo và thờng sử dụng
tiếng địa phơng để giao tiếp với những bạn cùng trang lứa và với ngời lớn trong thôn
bản. Chính vì vậy tất cả những kiến thức về vốn tiếng Việt cô dạy cho trẻ ở trên lớp,
về nhà hầu nh mai một hết mặc dù cô giáo đã cố gắng dạy trẻ phát âm, luyện đọc và sử
dụng các mẫu câu để cùng cấp, củng cố vốn từ cho trẻ.
ảnh hởng rất lớn đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với trẻ học mà chơi, chơi mà
học, đòi hỏi cô giáo phải tìm tòi sáng tạo những trò chơi phù hợp với nhận thức của trẻ
và tổ chức linh hoạt kích thích trẻ hứng thú tham gia chơi. Qua đó vừa củng cố đợc
kiến thức, phát huy tinh thần tích cực cho trẻ, rèn luyện tính nhanh nhẹn, chú ý, tinh
thần kỷ luật nh thông qua trò chơi "Hoa nào quả ấy" thì những cháu có hoa mang chữ
a sẽ phải nhận biết tìm đúng bạn có quả mang chữ cái a . Hay những cháu có
hoa, quả mang chữ cái ă sẽ tìm nhau và đứng về thành từng cặp hoa nào quả ấy.
Khi trẻ đã tìm đúng hoa hay quả có cùng chữ cái cô sẽ đến và hỏi từng trẻ tên hoa, tên
quả cùng chữ cái gì, yêu cầu trẻ trả lời đúng, rõ ràng.
Ví dụ: Cô giáo hỏi bông hoa của cháu có chữ cái gì, trẻ phải trả lời: tha cô bông
hoa của cháu có chữ cái a.
15
Nếu trẻ trả lời cha đúng, rõ ràng, nói cha đủ câu cô giáo phải sửa sai, luyện trẻ
nói lại và động viên trẻ kịp thời.
Qua nhiều lần chơi, nhiều trò chơi cô giáo chú ý cung cấp thêm từ, mẫu câu để
trẻ có thêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt.
Hoạt động làm quen chữ viết qua khảo sát, điều tra, tổng hợp báo cáo về chuyên
đề làm quen chữ viết ở trẻ 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số ở trờng mầm non Yên Hoà. Tôi
nhận thấy rằng giáo viên đã nhiệt tình yêu nghề, tích cực trong giảng dạy cung cấp
kiến thức, kết hợp rèn giao tiếp tiếng Việt cho trẻ và đã tích hợp đợc các môn học, thực
hiện theo phơng pháp đổi mới truyền thụ đủ kiến thức bộ môn thông qua ba tiết học: 1.
Làm quen chẽ viết; 2. Trò chơi chữ viết; 3. Tập tô chữ viết qua khảo sát chất lợng cuối
năm.
Tôi tiến hành đánh giá hiệu quả chất lợng tiếng Việt qua hoạt động làm quen
chữ viết theo 3 tiêu chí:
Tiêu chí 1: Nhận biết - Phát âm đúng chữ cái đã học
Tiêu chí 2: Nhận biết, phát âm chính xác chữ cái qua trò chơi
Tiêu chí 3: Tô - viết đúng chữ cái và viết đợc tên trẻ.
Mỗi tiêu chí đợc đánh giá theo 3 mức độ:
Mức độ 1: 3 điểm
Kết quả này đợc thể hiện quả bảng 1.
Bảng 1. Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ, tiếng Việt ở trẻ 5 tuổi ngời dân
tộc thiểu số ở trờng mầm non Yên Hoà
Loại
Kết quả
Tốt
Trung
bình
Yếu
X
Số lợng trẻ 41 46 8
6
% 43,16 48,42 8,42
Qua kết quả điều tra trên tôi thấy tỷ lệ trẻ có vốn tiếng Việt qua hoạt động làm
quen chữ viết ở loại trung bình và yếu là rất cao (54/95 trẻ chiếm 56,84%).
3.Hiệu quả hoạt động
Có sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực của giáo viên trong việc thực hiện chỉ tiêu,
nhiệm vụ, kế hoạch năm học.
Có sự phối hợp giữa giáo viên với phụ huynh học sinh và các ban ngành đoàn
thể để vận động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số.
Trẻ đã mạnh dạn hơn trong giao tiếp chủ động tích cực tham gia vào các hoạt
động, có thói quen, nề nếp và kết quả đạt đợc. Nhiều trẻ 5 tuổi đã nhận biết và phát âm
đúng các chữ cái, viết đợc chữ cái theo yêu cầu và viết đợc tên trẻ. Nghe - hiểu làm
theo lời chỉ dẫn của giáo viên.
4. Hạn chế:
-- Nguyên nhân hạn chế:
- Tuy đã có sự cố gắng rất nhiều của giáo viên để dạy và rèn luyện vốn từ tiếng
Việt cho trẻ nhng vẫn còn nhiều học sinh cha nhận biết phát âm đúng chữ cái và viết
đợc theo yêu cầu của giáo viên.
Vì đối với những trẻ này hay theo cha mẹ đi lên rẫy, đi học không đều nên quá