Chúng ta thường gặp lỗi tư duy như thế nào - Pdf 45

Chúng ta thường gặp lỗi khi tư duy như thế nào? Lôgic học với tư cách là khoa học
về tư duy coi nhiệm vụ nghiên cứu chính là làm sáng tỏ những điều kiện đạt tới tri thức
chân thực, phân tích kết cấu của quá trình tư duy, vạch ra thao tác lôgic của tư duy và
phương pháp luận nhận thức chuẩn xác. Lôgic học tiến hành xem xét, đánh giá kinh
nghiệm suy nghĩ thông thường , phát hiện những bản chất sâu sắc hơn và chỉ đạo, hướng
dẫn cho việc tư duy đúng đắn hơn. Dù biết hay không biết về lôgic học thì việc suy nghĩ
của con người cũng đều phụ thuộc vào các quy luật lôgic và các hình thức tư duy. Và như
vậy, lôgic học chiếu rọi vào kinh nghiệm tư duy của mỗi người giúp cho con người tư duy
chủ động và tự giác hơn, thể hiện tính chính xác, tính đúng đắn, nâng cao hiệu quả và tính
thuyết phục của các tư tưởng. Quan trọng hơn, việc nghiên cứu lôgic học giúp chúng ta
phát hiện ra những sai lầm lôgic của chúng ta và những người khác, cũng như để tránh khỏi
sai lầm lôgic do vô tình hay hữu ý phạm phải. Hình thức cơ bản của tư duy trong quá trình
nhận thức là suy luận. Nó xuất phát từ những phán đoán đã biết để rút ra những phán đoán
mới. Cá nhân tôi qua quan sát tư tưởng của nhiều người thông qua các tài liệu, sách báo,
hay sinh hoạt đời sống, công tác... đã gặp và ghi nhận được rất nhiều loại lỗi suy luận. Bên
cạnh những lỗi về tính chân thực gắn với quan sát thực tế, kiến thức của nhiều ngành, lĩnh
vực tri thức khác nhau, còn có một số lượng đáng kể các lỗi liên quan cả đến những thao
tác suy luận. Những lỗi này sẽ gây ra những kết luận sai ở bất kỳ ai. Lỗi suy luận thậm chí
có thể ở cả trường hợp kết quả cuối cùng là đúng. Trong phạm vi bài viết này, tôi phân loại
lỗi suy luận căn cứ vào sự vi phạm các nguyên lý và quy luật logic, gồm: 8 loại lỗi vi phạm
quy luật lôgíc hình thức và 6 lỗi vi phạm quy luật lôgíc biện chứng. Việc phát hiện, mô tả
rõ những lỗi thường gặp này sẽ giúp chúng ta sửa chữa cách suy nghĩ hàng ngày, nâng cao
hiệu quả hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình. I. Lôgic học Lôgíc học là ngành khoa
học nghiên cứu về tư duy với tư cách là một quá trình nhận thức. Đây chính là sự tự ý thức
về hoạt động tư duy. Tư duy với tư cách là một sự vật, hiện tượng đặc thù cũng có quá trình
vận động và phát triển của mình. Trong quá trình ấy, bản thân tư duy cũng là sự thống nhất
của hai trạng thái động và tĩnh. Việc nghiên cứu tư duy cũng phải được xem xét với cả
trạng thái tĩnh và trạng thái động của nó. Trạng thái tĩnh là đối tượng nghiên cứu của lôgic
hình thức, còn trạng thái động là đối tượng nghiên cứu của lôgíc biện chứng. Ví dụ, các loại
hình tư duy cổ đại, cổ điển – như những sự vật đồng nhất trừu tượng là đối tượng của lôgic
Trang 1

lôgíc hình thức cổ điển 1. Quy luật đồng nhất. Mỗi tư tưởng (để phản ánh về đối tượng ở
phẩm chất xác định) phải đồng nhất với chính nó. A là A. Quy luật đồng nhất đảm bảo cho
tư duy có được tính xác định. Tính xác định của khái niệm phản ánh tính xác định của sự
vật mà khái niệm đó phản ánh. Chừng nào sự vật vẫn còn là nó, chưa biến thành cái khác
thì nội hàm của khái niệm về sự vật đó phải được giữ nguyên, phải được đồng nhất. 2. Quy
luật phi mâu thuẫn. Một tư tưởng (đã được định hình) không được đồng thời mang 2 giá trị
lôgíc trái ngược nhau. Điều này đảm bảo cho tư duy có tính nhất quán. 3. Quy luật loại trừ
cái thứ 3 - luật bài trung. Một tư tưởng phải mang giá trị lôgíc xác định, hoặc chân thực,
hoặc giả dối không có khả năng thứ 3. 4. Quy luật lý do đầy đủ. Bất kỳ một phán đoán nào
muốn được thừa nhận là chân thực thì phải có đầy đủ những luận điểm chân thực khác làm
căn cứ/lý do để xác minh. Các phương pháp lôgíc giúp chúng ta tư duy đúng lôgíc và khám
phá bản chất, quy luật, phổ biến của sự vật tồn tại. Ngoài ra, tính thực tiễn cũng đóng vai
trò quan trọng không kém đối với việc kiểm tra, đánh giá chân lý của tri thức con người.
III. Những quy luật của lôgíc biện chứng. 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Mọi sự
vật, hiện tượng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động lẫn nhau. 2. Nguyên lý về sự
phát triển: Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong sự vận động, biến đổi và
phát triển. Quy luật 1: Chuyển hoá lượng - chất. Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi
về chất và ngược lại. Quy luật giải thích cách thức của sự phát triển. Quy luật 2: Thống
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mâu
thuẫn nghĩa là chứa những mặt đối lập. Những mặt đối lập này vừa thống nhất với nhau
vừa đấu tranh với nhau. Quy luật giải thích nguyên nhân của sự phát triển. Quy luật 3: phủ
định của phủ định. Quá trình phát triển sự vật, hiện tượng là quá trình phủ định của phủ
định, phủ định để tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Quy luật giải thích tính chu kỳ,
quá trình của sự phát triển, đổi mới. IV. Các loại lỗi lôgic a) 8 lỗi lôgíc hình thức 1. Lỗi
"Mãi mãi không thay đổi". Ta suy nghĩ về sự vật hay hiện tượng mãi giống như nó đang ở
Trang 3
điều kiện hiện tại hoặc là mãi có một tính chất, thuộc tính cố định nào đó. 2. Lỗi "Nhìn
nhận một quá trình lâu dài như một sự kiện nhất định". Ta suy nghĩ về các đối tượng dựa
trên một vài sự kiện, hiện tượng liên quan chứ không phải là trong suốt cả quá trình. 3. Lỗi
"Giải quyết bằng cách định nghĩa lại". Một dạng của suy nghĩ đánh tráo khái niệm nghĩa là

một động từ. Lỗi này xuất hiện từ việc chúng ta dừng thời gian và coi tư duy với các sự vật,
hiện tượng, quá trình là đồng nhất. Vấn đề là chúng ta cần định nghĩa kỹ những ranh giới
xác định cho một sự kiện vẫn là nó. Ví dụ: chỉ diễn ra 1 sự kiện là một cuộc hội thảo bàn về
phòng chống tội phạm tạo cho nhiều người cảm nghĩ chúng ta có một quá trình tích cực
chống tội phạm lâu dài. Lỗi 3: Giải quyết vấn đề bằng định nghĩa lại nó. Con người sử
dụng và phụ thuộc vào những từ ngữ trừu tượng do mình sinh ra. Một từ đơn giản chưa
chắc đã là dễ hiểu, nhất là nó thay đổi theo tình huống sử dụng, định nghĩa nó. Chúng ta có
thể làm biến mất vấn đề, đảo ngược vấn đề khi phân loại lại nó vào trong một phạm trù
khác, lĩnh vực kiến thức, môi trường văn hoá khác. Lôgíc hình thức hàm ý là không được
thay đổi các khái niệm theo định nghĩa lại, phân loại lại chúng khi đang tiến hành quá trình
tư duy. Điều này không tất yếu làm thay đổi điều kiện. Hiểu sai những thuộc tính cơ bản
của khái niệm hay mức độ hiểu biết thiếu sâu sắc khái niệm cũng thường dẫn đến thay đổi
khái niệm và là nguyên nhân nảy sinh lỗi loại 3 này. Ví dụ, suy luận “Vật chất luôn vận
động. Cái ghế này là vật chất sao chẳng thấy di chuyển gì ?”. Khái niệm Vật chất, vận động
trong triết học đã bị đánh tráo thành khái niệm vật chất, vận động của đời thường. Khi thay
đổi khái niệm như vậy, chúng ta đã vượt khỏi ranh giới vận dụng đúng đắn nguyên lý của
Logíc hình thức. Một ví dụ khác, trong quan hệ giữa Trung Quốc - Đài Loan, việc Trung
Quốc luôn coi Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của mình. Định nghĩa này xuất
phát từ quan điểm coi Đài Loan, Trung Quốc là 2 đối tượng của khác nhau của tư duy
thành một đối tượng, đã từ lâu không cho phép bàn luận, thay đổi tình hình, quan hệ quốc
tế đối với Đài Loan. Lỗi 4. Tự mình độc lập. Lỗi này do người nghĩ coi mình riêng biệt,
phân biệt rõ ràng với những người khác, quên đi những mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau.
Lôgíc hình thức đã coi rằng chính ta là ta chứ không phải là một ai khác. Quy luật cơ bản
xác định hoạt động của một người hay một tổ chức không xem xét đến những ảnh hưởng
Trang 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status