Nghiên cứu thành phần, đặc tính cơ lý của bê tông geopolymer tro bay và ứng dụng cho kết cấu Cầu hầm (tt) - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

Trần Việt Hưng

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, ĐẶC TÍNH CƠ LÝ
CỦA BÊ TÔNG GEOPOLYMER TRO BAY VÀ ỨNG
DỤNG CHO KẾT CẤU CẦU HẦM
Ngành:

Kỹ thuật Xây dựng công trình giao thông

Chuyên ngành: Xây dựng Cầu hầm
Mã số:

62.58.02.05.03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

Hà Nội, 2017


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1: PGS.TS. Đào Văn Đông
2: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Long
Phản biện 1:
Phản biện 2:

kết dính mới này được gọi là chất kết dính geopolymer.
Đại học Curtin, Australia đã có các nghiên cứu sâu về sự phát triển, quá
trình chế tạo, ứng xử và các ứng dụng của bê tông geopolymer (GPC). Các
kết quả nghiên cứu cho thấy GPC đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật, giá
cạnh tranh và nhất là tính thân thiện với môi trường so với bê tông xi măng
truyền thống.
Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh
vực vật liệu xây dựng và các ứng dụng trong các kết cấu. Kết cấu bê tông
geopolymer cốt thép (RGPC) hiện vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu. Vì vậy,
việc nghiên cứu ứng xử của GPC vào các kết cấu chịu lực, trong đó có kết
cấu dầm cầu chịu uốn là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu




Xác định được thành phần của GPC có thể sử dụng được trong kết
cấu cầu.
Xác định được mô hình cơ học của vật liệu GPC dùng để tính toán
chịu uốn kết cấu dầm cầu bê tông geopolymer cốt thép.
Xác định sự phù hợp của mô hình tính toán với kết quả thí nghiệm
ứng xử uốn của dầm bê tông geopolymer có cốt thép.

3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết để định hướng và dự kiến kết quả đạt được, dùng
thực nghiệm để kiểm chứng.


-24. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
• Nêu rõ được bản chất của chất kết dính geopolymer, ưu, nhược điểm


- 3ứng những yêu cầu về môi trường đối với chất kết dính xanh hơn và thân
thiện hơn
1.2. Nghiên cứu về chất kết dính geopolymer trên thế giới
Thuật ngữ “geopolymer” lần đầu tiên được giới thiệu với thế giới vào năm
1978 bởi nhà khoa học người Pháp Joseph Davidovits. Geopolymer là một
trong các hợp chất polymer vô cơ. Thành phần hóa học của vật liệu
geopolymer tương tự như các vật liệu zeolite tự nhiên, nhưng vi cấu trúc là
vô định hình [72, 103]. Quá trình geopolymer hóa liên quan đến một phản
ứng hóa học xảy ra nhanh giữa các oxit aluminosilicat và các silicat khác
nhau trong điều kiện kiềm mạnh.
Bất kỳ dung dịch kiềm mạnh nào cũng có thể được sử dụng để làm chất kích
hoạt cho việc tạo ra geopolymer. Hiện nay, các dung dịch kiềm kích hoạt
thường được sử dụng phổ biến nhất là NaOH hoặc KOH kết hợp với Na2SiO3
hoặc K2SiO3.
Bất kỳ nguyên liệu nào chứa oxit silic và oxit nhôm ở dạng vô định hình đều
có thể được sử dụng để tạo ra geopolymer. Trong đó, geopolymer được tạo
thành từ các nguyên liệu nung như metakaolanh, tro bay và xỉ có cường độ
nén cao hơn khi so sánh với việc tổng hợp chúng từ các vật liệu không nung
như đất sét, kao lanh và các khoáng tự nhiên [26]. Metakaolanh được đánh
giá là nguyên liệu rất tinh khiết của nhôm và silic ở dạng vô định hình và rất
thích hợp cho việc geopolymer hóa. Tuy nhiên, ứng dụng thương mại của
geopolymer dựa trên metakaolanh thường bị hạn chế bởi chi phí tăng cao khi
nung cao lanh và cường độ sản phẩm tạo ra thấp. Xỉ lò cao thường có thành
phần hóa học phức tạp, không đồng nhất. Kích thước hạt xỉ thường lớn cho
nên phải tốn chi phí nghiền nếu muốn sử dụng. Việc sử dụng xỉ làm nguyên
liệu geopolymer sẽ gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân kể trên.
Tro bay là nguyên liệu rất thích hợp cho geopolymer vì nó có chứa tinh thể
aluminosilicat hoạt tính có kích thước hạt mịn, có lợi cho phản ứng hóa học.
Điều này làm cho tro bay trở nên lý tưởng để thay thế metakaolanh do giảm



Cốt liệu bao gồm cốt liệu thô (đá dăm, sỏi) và cốt liệu mịn (cát).

1.3.2. Thiết kế thành phần bê tông geopolymer tro bay
Năm 2008, B. V. Rangan đã đề xuất phương pháp thiết kế cấp phối cho
GPC dựa trên nhiều năm nghiên cứu của ông [82]. Cường độ nén và tính
công tác của GPC bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ và tính chất của thành phần các
nguyên liệu tạo nên chất kết dính geopolymer. Kết quả thực nghiệm của
Hardjito và Rangan chỉ ra như sau [52]:


- 5•

Nồng độ mol của dung dịch NaOH cao hơn sẽ cho cường độ nén của
GPC cao hơn.
• Tỷ lệ khối lượng dung dịch natri silicat với dung dịch natri hydroxit
cao hơn sẽ cho cường độ chịu nén của GPC cao hơn.
• Độ sụt của hỗn hợp GPC tươi tăng khi thành phần nước trong hỗn
hợp tăng.
• Việc bổ xung siêu dẻo có thể cải thiện tính công tác của GPC tươi,
tuy nhiên sẽ có sự sụt giảm cường độ của bê tông cứng.
• Khi tỷ lệ mol H2O/Na2O tăng, thì cường độ nén của GPC giảm.
Khi thiết kế bê tông geopolymer tro bay với hàm mục tiêu là cường độ
nén, có xét đến tính công tác phù hợp thì có thể dựa theo Bảng 1.5 như sau:
Bảng 1.5: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của tỷ lệ AAS/FA [82]
Tỷ lệ khối lượng
Tỷ lệ W/GPS
Tính công tác
Cường độ thiết kế (MPa)

1.3.4. Các tính chất kỹ thuật chủ yếu của bê tông geopolymer tro bay
Tính công tác của GPC được cho là thấp. Điều này là do hồ geopolymer có
tính dính và độ nhớt cao [95]. Khối lượng đơn vị của bê tông geopolymer tro
bay ở tuổi 28 ngày thường trong khoảng 2360 ± 60 kg/m3 [52].


-6Mô đun đàn hồi của GPC có giá trị thấp hơn so với OPC có cùng cường độ
nén [87]. Hệ số Poisson của GPC có cường độ nén tương ứng từ 40 đến 90
MPa nằm trong khoảng từ 0,12-0,16 [52]. Cường độ kéo của GPC cao hơn
tất cả các giá trị tính toán theo khuyến cáo theo tiêu chuẩn Úc AS3600 và
tiêu chuẩn Châu Âu Eurocode 2 [90].
Co ngót khô và từ biến của GPC được đánh giá nhỏ hơn nhiều so với bê tông
xi măng [81]. GPC có tính bền axit, bền sunfat và bền nhiệt cao [84]. Phản
ứng kiềm cốt liệu ít hơn bê tông xi măng [14].
1.3.5. Lợi ích khi sử dụng bê tông geopolymer tro bay
Giá của GPC ước tính rẻ hơn OPC khoảng 10%-30% [80]. Bê tông
geopolymer tro bay có độ co khô ít, từ biến thấp, bền axit và bền sunfat tốt,
nên mang lại những lợi ích kinh tế bổ xung do giảm được chi phí vòng đời
của dự án. Lượng khí CO2 thải ra của GPC thấp hơn 9% so với việc sản xuất
bê tông sử dụng 100% xi măng poóclăng [94].
1.3.6. Sản phẩm thương mại bê tông geopolymer
Công ty Zeobond có trụ sở ở Melbourne đã phát triển nhà máy sản xuất sản
phẩm bê tông E-Crete(TM), cho các dự án hạ tầng cơ sở dân dụng lớn bao gồm
dự án mở rộng đường cao tốc và xây dựng, sửa chữa các công trình dân dụng
khác. Công ty Rocla, đã sản xuất thương mại các cấu kiện bê tông
geopolymer đúc sẵn như ống thoát nước, cống hộp, tà vẹt đường sắt, hầm
mộ nghĩa trang…[98]. Công ty WAGNERS có trụ sở tại bang Queensland,
đã phát triển sản phẩm bê tông thương mại trộn sẵn EFC (Earth Friendly
Concrete),có lượng thí thải cacbon thấp và tiêu thụ ít năng lượng từ năm
2005. EFC sử dụng chất kết dính geopolymer được làm từ hai thải phẩm

pháp quy hoạch thực nghiệm nhằm tìm ra nồng độ mol của dung dịch kiềm
kích hoạt và tỷ lệ khối lượng AAS/FA tối ưu dành cho bê tông geopolymer
tro bay. Hàm mục tiêu lựa chọn là cường độ nén của GPC ở tuổi 28 ngày
giống như quan niệm của bê tông truyền thống.
2.2. Vật liệu sử dụng
Tro bay sử dụng trong thí nghiệm được mua từ nhà máy tro bay Vina
F&C, nguồn lấy từ tro thải của nhiệt điện Phả Lại. Thành phần hóa học đạt
yêu cầu của tro bay loại F theo tiêu chuẩn ASTM C618 - 03 [33].
Dung dịch kiềm kích hoạt phải được chuẩn bị bằng cách hòa tan NaOH
dạng vảy khô vào nước theo nồng độ yêu cầu, sau đó trộn dung dịch NaOH
và dung dịch Na2SiO3 theo tỷ lệ đã định trước.


-8Cốt liệu lớn được sử dụng cho bê tông thí nghiệm là đá dăm, có nguồn
gốc đá bazan, mua từ mỏ đá Hòa Thạch - Hà Nội, được phối trộn lại để thỏa
mãn thành phần hạt theo qui định của tiêu chuẩn ASTM C33-99 [29]. Cốt
liệu nhỏ dùng để chế tạo bê tông thí nghiệm là cát vàng thô có thành phần
hạt theo tiêu chuẩn ASTM C136-01 [31].
2.3. Chế tạo mẫu thử bê tông geopolymer tro bay
Trong phòng thí nghiệm, các cốt liệu đá, cát và tro bay được trộn khô
với nhau trong máy trộn cưỡng bức trong khoảng 3 phút. Dung dịch kiềm
kích hoạt được được pha sẵn theo nồng độ và tỷ lệ yêu cầu từ ngày hôm
trước. Dung dịch sau đó được thêm vào nguyên liệu khô và tiếp tục trộn
trong 4 phút nữa. Bê tông tươi có thể được đúc, đầm nén bằng phương pháp
thông thường của bê tông xi măng [52, 84, 92].

Hình 2.6: Công tác trộn
vật liệu

Hình 2.7: Chế tạo mẫu thử

2M

0,4 ≤ 𝑋1 ≤ 0,5
0,05

Giá trị

Khoảng biến thiên
Bước thí nghiệm

Chọn khối lượng thể tích của bê tông Geopolymer tro bay là 2400 (kg/m3).
Cốt liệu chiếm 77% khối lượng c§Ò xuÊt

10

10

0

0
0

1

2

BiÕn d¹ng

3
0

hình quan hệ ứng suất - biến dạng khi nén của bê tông thể hiện trên Hình
3.21, Hình 3.22, Hình 3.23.
Kết quả cho thấy, quan hệ ứng suất - biến dạng khi nén của bê tông
geopolymer có thể được mô tả bằng phương trình của Sargin [85] như sau:
 = k3 f c'

Ax   D  1 x 2

1   A  2  x  Dx 2

Trong đó: D là tham số ảnh hưởng chính đến độ dốc của nhánh giảm tải,
được tác giả điều chỉnh lại như sau cho phù hợp với kết quả thí nghiệm:
D = 0,65  5. fc' .103
3.6. Thí nghiệm xác định tính thấm nước của GPC
Phương pháp thí nghiệm mức chống thấm theo áp lực nước tối đa để
được mức chống thấm theo TCVN 3116 (1993) [1].

Hình 3.25: Sơ đồ thiết bị
máy thử độ chống thấm
nước

Hình
thấm
GPC
B12

Mức độ chống thấm
của 3 loại bê tông
G_30, G_40, G_50 đều
chịu được cấp áp lực là

2D16
2D18

230

6D6@100

2400

8D6@100

125

Hình 4.2: Sơ đồ cấu tạo của dầm thí nghiệm

Cốt thép dọc chủ chịu kéo: loại CB-400v có gờ fy=400 MPa. Cốt thép đai
D6 và cốt thép dọc chịu nén D8 trơn loại CB-300v, fy=300 MPa.

Hình 4.3: Quá trình sản xuất 9 dầm thí nghiệm

Các dầm thí nghiệm được đúc trong các khuôn thép, đầm chặt bằng đầm dùi.
Sau đó được dưỡng hộ trong tủ sấy ở nhiệt độ 60oC trong 24 giờ rồi tháo
khuôn và lưu ở phòng thí nghiệm cho đủ 28 ngày rồi đem thử nghiệm. Bố trí
thiết bị thí nghiệm như Hình 4.4 và Hình 4.5.

Hình 4.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Hình 4.5: Gắn các thiết bị thí nghiệm




D18_1
D16_1
D14_1

D18_2
D16_2
D14_2

D18_3
D16_3
D14_3

15

20

25

D14_1
D16_1
D18_1

0
0,00

0,01

0,02


80

60

60

40
40

20

20

BiÕn d¹ng

0
-4

-2

0

2

4

0

00


100
80
60
40
20

BiÕn d¹ng

0
-6

-4

-2

0

2

4

6

0

00

8

Hình 4.11: Biến dạng cốt thép chịu kéo

vị trí lực tập trung đối xứng và điều kiện biên tại hai vị trí gối, tiến hành phân
tích kết quả của mô hình.

Hình 4.18: Mô hình phần tử sử dụng
mô hình hóa dầm

Hình 4.19: Chia lưới phần tử trong
ABAQUS

4.5. Phân tích ứng xử uốn của dầm bê tông geopolymer tro bay
4.5.1. Giai đoạn I - Giai đoạn bê tông chưa nứt
Kết quả so sánh giá trị mô men gây nứt thể hiện trên Hình 4.22. Nhận xét:




Giá trị momen gây nứt thực nghiệm gần với kết quả tính toán bằng
ABAQUS với tỷ lệ 0,85 đến 1,05 lần.
Giá trị thực nghiệm cao hơn nhiều so với tính toán theo lý thuyết đàn
hồi với tỷ lệ 1,2-1,3 lần.
Không có sự khác biệt quá lớn về giá trị mô men gây nứt tiết diện
đối với hàm lượng cốt thép của các nhóm dầm khác nhau.


- 18 10

45

8,82



1,8

2,0

40

M« men ch¶y dÎo My (KN.m)

M« men g©y nøt Mcr (KN.m)

9,45

35

39,73
37,09
34,61

32,32
30,26

30
25

24,57
23,53

20


Hình 4.22: Biểu đồ so sánh giá trị
momen gây nứt giữa thực nghiệm và
tính toán

Hình 4.24: Biểu đồ so sánh giá trị
momen chảy dẻo giữa thực nghiệm và
tính toán

4.5.2. Giai đoạn II - bê tông vùng kéo đã nứt, bê tông vùng nén làm việc
trong giới hạn đàn hồi
So sánh giá trị mô men gây chảy dẻo cốt thép trên Hình 4.24. Nhận xét:
• Không có sự chênh lệch lớn về giá trị giữa thực nghiệm và tính toán.
• Momen chảy dẻo từ thí nghiệm lớn hơn giá trị tính toán bằng phương
pháp phần tử hữu hạn với tỷ lệ 1,00-1,11 lần.
• Khi so sánh với tính toán theo lý thuyết đàn hồi thì mô men chảy dẻo
thực nghiệm cao hơn từ 1,10-1,20 lần.
4.5.3. Giai đoạn III - gần phá hoại, dầm ở TTGH Cường độ
5

f cu
f’c
0.85f’c

fcu

Ec
0

0


C-êng ®é nÐn (MPa)

Hình 4.26: Quan hệ ứng suất - biến dạng
theo mô hình Hognestad [54]

Hình 4.27: Quan hệ giữa biến dạng
và cường độ nén của GPC

Nếu tải trọng tiếp tục tăng cho đến khi ứng suất trong bê tông fc  0,5 fc' thì
sự phân bố ứng suất trong bê tông có dạng đường cong. Dầm bị phá hoại khi
bê tông vùng nén bị ép vỡ hoặc cốt thép vùng kéo bị kéo đứt. GPC là loại
vật liệu mới, nên giá trị biến dạng lớn nhất dùng để tính toán ecu cần thiết
phải được xác định. Theo Eivind Hognestad [54], giá trị biến dạng lớn nhất
ecu theo mô hình quan hệ ứng suất - biến dạng được lấy tương ứng với biến


- 19 dạng tại giá trị ứng suất fcu =0,85 fc’ ở nhánh giảm tải. Dựa trên quan hệ ứng
suất - biến dạng khi nén của GPC đã được trình bày trong mục 3.5, ta xác
định giá trị biến dạng như Hình 4.27. Từ đó, đề xuất giá trị ecu như sau:
Bảng 4.12: Đề xuất giá trị biến dạng nén lớn nhất của GPC dùng tính toán
Hỗn hợp GPC

e c ( 00)
e cu ( 0 00)
0

G_30

G_40


Cs

k2c



x

C=k1 f'c bc

Bảng 4.14: Tính toán giá trị
hệ số khối ứng suất chữ nhật

Cs

b1 c

C

d
jd

ey
Biến dạng

T =As fy

T =As fy

Hệ


M n = a1 fc' bb1c  d 

b1c 

  As f s  d  d
2 
'

'

'



(4.22)

Các dầm thí nghiệm trong luận án, sử dụng bê tông geopolymer G_40, tác
giả tính toán sức kháng uốn thông qua hệ số khối ứng suất chữ nhật đề suất,
hệ số khối tính theo quy định trong tiêu chuẩn AASHTO-2007 và tính toán
theo phần mềm ABAQUS để so sánh với kết quả thí nghiệm như sau:
Bảng 4.17: Giá trị các hệ số khối ứng suất sử dụng tính toán
Hế số
a1
b1

GPC

AASHTO


2,2
pháp PTHH, và lớn hơn tính toán theo
Hµm l-îng cèt thÐp (%)
AASHTO khoảng 8,2-9,9%. Giá trị
Hình 4.31: Biểu đồ so sánh giá trị
này phù hợp hơn tiêu chuẩn AASHTO
momen cực hạn giữa thực nghiệm, tính
đối với việc tính toán dầm bê tông
toán và đề xuất.
geopolymer cốt thép.
4.5.4. Độ võng dầm theo các giai đoạn chịu lực
43,35

39,1
38,79
35,86

40

M« men uèn cùc h¹n (KN.m)

35,94

31,97

31,33

27,71

28,83

0
0

20

D_14 trung b×nh thÝ nghiÖm
% (ABAQUS_D14)
% (AASHTO_D14)
% (§Ò xuÊt_D14)

40

60

80

§é vâng (mm)

(1)
(2)
(3)
(4)

20

0
0

20


(2)
(3)
(4)

20

0
0

20

(D18_trung b×nh thÝ nghiÖm)
(ABAQUS_D18)
(AASHTO_D18)
(§Ò xuÊt_D18)
40

60

§é vâng (mm)

Hình 4.35: So sánh quan hệ tải trọng độ võng của dầm D_18 thí nghiệm và
tính toán

Kết quả cho thấy việc phân tích theo
mô hình phần tử hữu hạn ABAQUS là
rất gần với kết quả thí nghiệm. Các
đường quan hệ tải trọng - độ võng tính
theo mô hình mặt cắt theo AASHTO
cho giá trị tương đối an toàn so với kết

4.6. Nguyên tắc tính toán thiết kế chịu uốn dầm cầu bê tông geopolymer
cốt thép sử dụng hỗn hợp bê tông G_40
1) Triết lý thiết kế được lấy theo các TTGH theo tiêu chuẩn 22TCN272-05.
2) Chấp nhận các giả thiết tính toán giống như tiêu chuẩn 22TCN-272-05.
3) Các thông số ở TTGH cường độ được lấy theo các giá trị đề xuất đã nêu
ở trên bao gồm fc′ = 40,46 MPa, ɛ cu = 3,6 ‰, tham số khối ứng suất chữ
nhật 𝛼1 = 0,91 và b1 = 0,79. Các quy định về chiều dài phát triển lực,
khoảng cách trống giữa các thanh cốt thép được lấy giống tiêu chuẩn.
Khoảng cách trống giữa các cốt thép và cự ly.
4) Các thông số ở TTGH sử dụng được lấy theo các giá trị đề xuất ở trên là
Ec' = 26,379 GPa , tỷ số mô đun đàn hồi n = Es / Ec .
4.7. Phân tích ứng xử uốn của dầm cầu bê tông geopolymer cốt thép ở
TTGH cường độ
Lựa chọn hỗn hợp bê tông geopolymer G_40 ở trên để thiết kế dầm cầu mặt
cắt chữ T có chiều dài L=12m, bê tông cốt thép thường, và tiến hành phân
tích tính toán theo tiêu chuẩn 22TCN 272-05 [2]. Kết quả được so sánh với
dầm cầu mặt cắt chữ T thiết kế với bê tông xi măng cấp 40.


- 22 Bảng 4.20: Các giá trị tính toán của G_40 dùng cho thiết kế dầm cầu

hiệu
𝑓𝑐′
𝑓𝑟′
𝐸𝑐′

e𝑐𝑢
a1
b1


1750

175 500

610

1750

1/2 MÆT C¾T TR£N GèI

3x2100
8000

Hình 4.42: Mặt cắt ngang cầu
Lựa chọn mặt cắt ngang dầm chủ như sau:
B

c

bw

a

b

Hg

d

hf

Hình 4.43: Mặt cắt ngang tại giữa nhịp dầm
cầu chữ T-12m
Lựa chọn cốt thép dọc chủ gồm 12 thanh 29 bố trí ở bầu dầm.
Kết quả kiểm toán dầm về chịu lực và độ võng thể hiện trong Bảng 4.23:
Bảng 4.23: Kết quả kiểm toán dầm cầu T12 m
Nội dung

Ký hiệu

Mô men uốn tính toán (KN.m)
Sức kháng uốn (KN.m)

Mu
Mn

Dầm
T12_G40
1404
2160

Dầm
T12_OPC
1404
2155


- 23 Tỷ lệ

Mn/Mu


và độ võng giống như dầm cầu bê tông xi măng.
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP
Với những nội dung nghiên cứu đã được đề cập trong Luận án này, một số
kết luận và kiến nghị sau được rút ra từ kết quả nghiên cứu:
1. Kết luận
1.1. Đề tài đã đưa ra một giải pháp kỹ thuật mới là chế tạo thành công bê
tông geopolymer từ tro bay nhiệt điện và các chất kích hoạt. Sản phẩm
tạo ra sẽ góp phần đa dạng hóa các lựa chọn về bê tông trong xây dựng,
giảm thiểu các chất thải công nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường.
1.2. Về thành phần: đã thiết kế thành phần được ba hỗn hợp GPC có cường
độ tương ứng đạt cấp 30, 40 và 50 MPa bằng phương pháp quy hoạch
thực nghiệm.
1.3. Về tính năng: Mô đun đàn hồi của GPC được đánh giá là thấp hơn so
với tính toán theo các tiêu chuẩn hiện hành giành cho bê tông xi măng
từ 10%-30%, nhưng cường độ kéo uốn lại cao hơn từ 7%-27%. Cường
độ dính bám với cốt thép có giá trị cao hơn khi tính toán theo công thức
theo tiêu chuẩn MC-90 dành cho bê tông xi măng. Khả năng chống thấm
nước đạt mức B12, mức cao nhất theo TCVN 3116-1993.
1.4. Về mô hình vật liệu bê tông geopolymer tro bay trong phân tích tính
toán kết cấu dầm GPC cốt thép: Quan hệ ứng suất biến dạng khi nén
của GPC được xác định là tuân theo quy luật của Sargin với tham số
ảnh hưởng đến độ dốc của nhánh giảm tải trong phương trình D được
tác giả điều chỉnh cho phù hợp.


- 24 1.5. Biến dạng tương ứng với ứng suất cực đại của GPC nằm trong khoảng
2, 45  2,75 0 00 . Biến dạng lớn nhất khi nén của GPC có thể được xác
định theo phương trình e cu = 35,893.  fc' 

0,592

tải trọng động, ứng xử cắt của dầm bê tông geopolymer cốt thép.
- Ứng xử dài hạn của bê tông geopolymer tro bay:
• Quan hệ ứng suất - biến dạng dài hạn;
• Đặc tính dính bám khi tải trọng tác dụng dài hạn…


DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
[1].

Trần Việt Hưng, Đào Văn Đông, Nguyễn Ngọc Long (2015), “Phân
tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tính chất cơ học của vữa Geopolymer
tro bay”, Tạp chí Giao thông Vận tải, số đặc biệt, trang 91-94
(10/2015).

[2].

Tran Viet Hung, Dao Van Dong and Nguyen Ngoc Long (2016), "Mix
design for low calcium of fly ash base Geopolymer concrete", The 7th
International Conference of Asian Concrete Federation
“SUSTAINABLE CONCRETE FOR NOW AND THE FUTURE”,
Hanoi, Vietnam.

[3].

Trần Việt Hưng, Đào Văn Đông, Nguyễn Ngọc Long (2017), “Nghiên
cứu các tính chất cơ học của bê tông Geopolymer tro bay”, Tạp chí
Giao thông Vận tải, Số 1/2017.

[4].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status