Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn HP (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HÒA

TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƢỜI KHÁC
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Đức Hồng Hà

Phản biện 1:…………………………….
Phản biện 2:…………………………….

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi:……giờ……ngày….tháng…năm…

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội

1


định sai tội danh, bỏ lọt tội phạm dẫn đến vụ án bị trả hồ sơ để điều
tra bổ sung hoặc bị sửa, hủy... Tình hình trên do nhiều nguyên nhân
chủ quan và nguyên nhân khách quan.
Từ thực tiễn đó mà tác giả chọn đề tài của đề tài và cũng là lý do
chọn đề tài: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành
phố Hải Phòng” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam là một trong các vấn đề
nóng trong xã hội nên đã được nhiều nhà khoa học Luật gia nghiên
cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác đã được đề cập, nghiên cứu ở nhiều
hình thức, mức độ, khía cạnh khác nhau như: Trong các giáo trình
luật hình sự; Trong các công trình nghiên cứu khoa học về luật hình
sự; Trong các tập bình luận khoa học về luật hình sự, trong các luận
văn thạc sỹ, tiến sỹ của một số tác giả, tiêu biểu như bài viết: Luận
văn thạc sỹ Luật học về “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn tỉnh Bình Phước của tác giả Tô Ngọc Đường - Học viện
khoa học xã hội, năm 2011... Tuy nhiên mỗi vùng miền lại có những
đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến tình hình tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở mỗi
nơi là khác nhau. Đặc biệt thành phố Hải Phòng - một trong những
thành phố có nền kinh tế trọng điểm là góc độ mà sẽ có những cái
nhìn mới mẻ hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

pháp luật, các dấu hiệu pháp lý, cũng như thực tiễn áp dụng đối với
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
3


khác, từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp và nâng
cao chất lượng xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung đề tài thực hiện trong phạm vi của chuyên ngành luật
hình sự và tố tụng hình sự.
Đề tài tập trung nghiên cứu các vụ án cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn của thành phố
Hải Phòng trong năm (2012-2016); nghiên cứu những kết quả đạt
được và những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động xét xử tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài dựa trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của Triết
học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành; các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học trước đó và các
tài liệu tham khảo chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp thống kê số liệu, phương pháp so sánh đối
chiếu, phương pháp logic, phương pháp khảo sát, thực tiễn để hoàn
thành các nhiệm vụ mà luận văn đã đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

định của Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác ở thành phố Hải Phòng trong thời gian
tới.

5


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý
GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC
1.1. Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thƣơng tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác
1.1.1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1.1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
Trong các Bộ luật Hình sự Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác nên sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau. Tội cố ý gây thương tích
là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương, xâm phạm quyền được
bảo hộ về sức khoẻ của con người. Hành vi cố ý gây thương tích bị
coi là tội phạm, tội phạm đó được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình
sự năm 1999. Tội phạm này xâm phạm quyền được bảo hộ về sức
khoẻ của con người. Gây thương tích được hiểu là hành vi tác động
của người này vào cơ thể của người khác và làm người đó bị thương.
Hành vi gây thương tích có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của công
cụ, phương tiện hoặc dùng sự tác động bằng thực thể. Hậu quả của
tội phạm này là gây thương tích cho người khác có tỷ lệ thương tật từ

biểu hiện ra bên ngoài bằng giác quan mà con người có thể nhận biết
được bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; Hậu quả nguy hiểm
cho xã hội; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
c) Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác

7


Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ
có thể là con người cụ thể. Chủ thể của tội phạm là người có năng lực
trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi
phạm tội cụ thể. Và khi thực hiện hành vi phạm tội người ấy có khả
năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của
mình và có khả năng điều chỉnh được hành vi ấy.
d) Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác
Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích là diễn biến bên trong
phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi cố ý gây
thương tích và hậu quả phát sinh từ hành vi gây thương tích gây ra.
Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích bao gồm: Lỗi, động cơ và
mục đích phạm tội.
Lỗi được hiểu là lỗi cá nhân tức là lỗi của con người cụ thể khi
họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Lỗi thực hiện dưới hành
vi cố ý hoặc vô ý. Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong
thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý. Dấu hiệu
động cơ và dấu hiệu mục đích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì có
động cơ thúc đẩy thì người phạm tội mới thực hiện tội phạm để thỏa
mãn động cơ. Đối với tội cố ý gây thương tích thì thông thường động
cơ chủ yếu thúc đẩy người phạm tội là gây thương tích cho người

So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, tội này có hai điểm khác là:
- Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình.
- Hậu quả của tội phạm phải ở mức độ tỷ lệ thương tật từ 31%
trở lên.

9


1.1.2.3. Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng
Về bản chất, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cũng
là trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt TNHS của tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, tội này có hai điểm khác là:
- Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội do động cơ phòng vệ
nhưng đã vượt quá giới hạn cho phép.
- Hậu quả của tội phạm phải ở mức độ tỷ lệ thương tật từ 31%
trở lên...
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây
thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác từ
năm 1945 đến nay
1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm

chế định cơ bản, quan trọng của luật hình sự; phân hóa triệt để TNHS và
hình phạt; nêu cao tinh thần nhân đạo của luật hình sự. BLHS 1999 có
nhiều nội dung mới so với BLHS 1985 được thể hiện cả ở phần chung
và phần các tội phạm, thể hiện rõ những điểm mới trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta nói chung, đối với xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự và nhân phẩm của con người nói riêng.

11


Chƣơng 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY
TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC TẠI THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Một số kết quả đạt đƣợc trong thực tiễn áp dụng quy
định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội cố ý gây thƣơng tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác
Từ đầu năm 2012 đến cuối năm 2016, TAND thành phố Hải
Phòng đã xét xử 6633 vụ, 1060 án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác, chiếm tỉ lệ 16% trong tổng số án thụ lý xét xử
trên địa bàn. Tội cố ý gây thương tích so với tổng số tội phạm đã xét
xử trên địa bàn thành phố Hải Phòng (Từ 2012-2016) chiếm số lượng
lớn nhất. Đặc điểm của loại tội phạm cố ý gây thương tích luôn liều
lĩnh, nguy hiểm, các động thái tội phạm đang có xu hướng gia tăng
tính bạo lực, tính chuyên nghiệp.
Tuy tội phạm cố ý gây thương tích ở trên địa bàn thành phố Hải
Phòng có nhiều diễn biến phức tạp nhưng thực tế các cơ quan tiến
hành tố tụng cũng thể hiện được đúng vai trò của mình, các vụ án
mau chóng được đưa ra điều tra, truy tố, xét xử.

2.2.1. Một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy
định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết định tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
2.2.1.1. Một số hạn chế, vướng mắc trong việc phân biệt tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với
các tội phạm khác
Vấn đề đầu tiên là nhiều tội chưa có ranh giới rõ ràng như cố ý
gây thương tích với cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần
13


kích động mạnh, hay cố ý gây thương tích dẫn đến chết người với
giết người... Vì thế, việc xác định tội danh của người phạm tội
thường gây ra nhiều quan điểm khác nhau giữa các ngành tố tụng
cũng như giữa các cấp xét xử. Bên cạnh đó các cơ quan tố tụng còn rất
băn khoăn về việc: Trong tội cố ý gây thương tích do vượt quá phòng vệ
chính đáng, làm sao xác định sự chống trả như thế nào là cần thiết hay
không cần thiết? Ngoài ra, việc phân biệt giữa tội cố ý gây thương tích
dẫn đến chết người và tội giết người dù đã có nhiều văn bản hướng dẫn
nhưng thực tế áp dụng vẫn xảy ra nhiều tranh cãi…
2.2.1.2. Một số hạn chế, vướng mắc trong việc phân biệt có
phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác hay không phạm tội
a) Trường hợp gây cố tật nhẹ cho nạn nhân
Việc xác định cố tật thường dựa vào ý chí chủ quan của các chủ thể
tiến hành tố tụng, dẫn tới việc áp dụng không đồng nhất quy định này.
b) Trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ
Qua nghiên cứu các vụ án đã xét xử cho thấy, tuy hậu quả tỷ lệ
thương tật của người bị hại từ 11% đến 30% và đảm bảo các yêu cầu
về khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm

vậy, nạn nhân bãi nại cho người chủ mưu thì không thể khởi tố người
này. Nhưng nếu chỉ đem những người thực hành, giúp sức ra xử lý
thì sẽ bất công vì vai trò của người chủ mưu nặng hơn họ rất nhiều
mà lại không hề hấn gì…
Trường hợp thứ hai: Không lấy được yêu cầu của nạn nhân bằng
văn bản.
Trường hợp thứ ba: Nạn nhân liên tục thay đổi yêu cầu khởi tố,
thay đổi lời khai...
d) Khó khăn trong việc xác định hậu quả
Qua thực tiễn cho thấy để xác định một người thực hiện hành vi
cố ý gây thương tích cho người khác có phạm tội hay không, nếu
15


phạm tội thì phạm vào khoản nào được quy định tại Điều 104 Bộ luật
Hình sự, bắt buộc phải giám định mức độ tổn hại thương tích của nạn
nhân, mới xác định được. Nhưng qua thực tiễn đấu tranh với loại tội
phạm này thì việc xác định mức độ tổn hại thương tích của nạn nhân
gặp rất nhiều bất cập, khó khăn. Từ phía nạn nhân kiên quyết không
chịu đi giám định, hoặc để quá lâu mới tố giác hành vi bị xâm hại khi
đó vết thương đã lành, quá trình chữa trị thương tích không chịu lấy
hóa đơn và không làm bệnh án nên đã gây rất nhiều khó khăn, lúng
túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi thụ lý và giải quyết.
e) Cách hiểu không thống nhất về dấu hiệu đồng phạm
Dấu hiệu đồng phạm trong những vụ án cố ý gây thương tích
cũng là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau. Hơn nữa một số quan
điểm cho rằng do không cùng bị xử lý trong một điều luật, nên không
thể có yếu tố đồng phạm được. Do đó, cần tách thương tích ra để xét
xử đối với từng người.
d) Người bị hại không đề nghị khởi tố khi thương tích dưới 11%

hợp thực tế xảy ra.
Thứ tư, Thực tiễn xét xử cho thấy trường hợp cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết
người thì trong thực tế còn có một số trường hợp mặc dù thương tích
mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân chưa phải là nặng thậm chí
không đáng kể, nhưng tính chất của tội phạm rất nghiêm trọng, tuy
nhiên chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về trường hợp cố ý gây
thương tích thế nào là thuộc trường hợp nghiêm trọng.
2.2.3. Một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy
định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về hình phạt của tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
2.2.3.1. Quyết định hình phạt quá nhẹ so với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
17


Trong thực tiễn xét xử các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác tại thành phố Hải Phòng thời
gian qua hoạt động quyết định hình phạt được thực hiện tương đối
hiệu quả đảm bảo người phạm tội phải chịu hình phạt tương xứng với
hành vi do mình gây ra. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại trường
hợp hội đồng xét xử đưa ra phán quyết về hình phạt cho bị cáo tương
đối “nương nhẹ”.
2.2.3.2. Quyết định hình phạt quá nặng so với tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Thực tiễn xét xử cho thấy: trong một số trường hợp người phạm
tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS, được áp
dụng quy định tại Điều 47 BLHS và xử phạt bị cáo dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt của điều luật áp dụng với bị cáo, mức xử
phạt đó là trong khung hình phạt thấp hơn liền kề của điều luật nhưng

- Đội ngũ cán bộ làm công tác giám định ở cấp huyện hiện nay còn
thiếu, về chuyên môn nghiệp vụ và phương tiện làm việc còn hạn chế.
- Đội ngũ cán bộ, Thẩm phán chưa thực sự ổn định, chuyên
nghiệp; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán tuy đã
được nâng lên một mức nhưng chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ
và còn nhiều bất cập, hạn chế.
- Đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn tùy tiện
trong việc vận dụng các quy định của pháp luật trong quá trình điều
tra, truy tố và xét xử dẫn đến hậu quả của quá trình điều tra, truy tố
chưa thực sự khách quan còn tùy tiện trong việc khởi tố và truy tố.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và nhất là
Thẩm phán còn chậm được đổi mới, chưa gắn với yêu cầu xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ nhu cầu
của sự nghiệp đổi mới.

19


- Hoạt động giám đốc việc xét xử đã bộc lộ những khiếm khuyết
thiếu sót chưa đáp ứng được chất lượng xét xử các vụ án hình sự và
đòi hỏi cần phải được hoàn thiện.
Chƣơng 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật
hình sự về tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của ngƣời khác

người, quyền tự do, dân chủ của công dân; động viên khuyến khích
mọi tầng lớp nhân dân yên tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội
phạm, phát triển kinh tế, sáng tạo khoa học.
3.1.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước
pháp quyền
Cải cách tư pháp phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các
nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp như: mỗi cơ quan
thực hiện từng khâu của tiến trình tố tụng phải chịu trách nhiệm độc
lập về kết luận của mình; bảo đảm tính khách quan của việc xét xử
hai cấp; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi
xét xử; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; quyền bào chữa
của bị can, bị cáo được bảo đảm; nhân dân tham gia, kiểm tra và
giám sát hoạt động tư pháp…
Về phương pháp tiến hành, cần chọn cải cách tòa án là khâu đột
phá trong cải cách tư pháp, bởi vì trong hệ thống các cơ quan tư

21


pháp, tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng. Tăng cường đội ngũ thẩm
phán và hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng.
3.2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp
luật hình sự về tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của ngƣời khác
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về
tình tiết định tội, tình tiết định khung và hình phạt của tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
BLHS năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) đánh dấu một
bước tiến trong công tác lập pháp của chúng ta. Tuy nhiên trong quá
trình áp dụng BLHS năm 1999 nói chung và đối với tội cố ý gây

nghiệp vụ, trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối
sống lành mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành, đặc biệt
là đội ngũ Thẩm phán, do đó đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ngành Tòa
án nhân dân đã không ngừng được tăng cường về số lượng và nâng
cao về chất lượng. Bên cạnh đó cần có các giải pháp để phát triển và
nâng cao năng lực của đội ngũ Luật sư là vô cùng quan trọng.
3.2.4. Một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng quy định
của Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác
Quan tâm cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ
chính sách; bổ sung kinh phí hoạt động cho Toà án các cấp để tổ
chức xét xử tốt các vụ án về cố ý gây thương tích, đặc biệt là các vụ
án điểm; đồng thời, tăng cường công tác xét xử lưu động, góp phần
nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân.
Ngoài việc thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của ngành,
cần chủ động tích cực hơn nữa trong công tác phối hợp với các cơ
quan hữu quan.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status