NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS
VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Nhóm ngành: Giáo dục Thể chất

Sơn La, tháng 5 năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS
VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Nhóm ngành: Giáo dục thể chất
Sinh viên thực hiện: Trần Văn Phong

Giới tính:

Nam


Đây là đề tài đầu tiên em thực hiện nghiên cứu khoa học nên còn gặp nhiều khó
khăn và thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô để
đề tài của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La tháng 5 năm 2016
Thực hiện đề tài

Trần Văn Phong


MỤC LỤC
MỤC LỤC

4

Qua kết quả kiểm tra ở bảng 2.4 cho thấy: hầu hết các test kiểm tra thể lực của
học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn An có thành tích thấp
hơn so với lứa tuổi 16 ở quyết định số 53 điều tra thể chất hoc sinh, sinh viên và
điều tra thể chất nhân dân năm 2001.

30

3.1.1. Tuyên truyền, giáo dục học sinh nhằm nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò và tác dụng của TDTT đối
với con người.............................................................33
3.1.1.1. Vị trí, tầm quan trọng của biện pháp........33
3.1.1.2. Mục tiêu của biện pháp.............................33
3.1.1.3. Cách thực hiện...........................................33
3.1.2. Tăng cường các hoạt động vận động trong tập
thể cho học sinh.........................................................34

Bảng 2.5 Thực trạng về thể lực của học sinh khối 10 trường TH,THCS VÀ THPT
CHU VĂN AN

28

Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các biện pháp phát triển thể chất của học sinh
khối 10 trường TH,THCS VÀ THPT CHU VĂN AN

32

Bảng 3.2. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp phát triển thể chất của học
sinh khối 10 trường TH,THCS VÀ THPT CHU VĂN AN

38

Bảng 3.3. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển thể chất của học
sinh khối 10 trường TH,THCS VÀ THPT CHU VĂN AN

39


DANH MỤC VIẾT TẮT
CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CNH –HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa


Tiểu học

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

VĐV

Vận động viên

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

XPC

Xuất phát cao


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Thể chất (GDTC) trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếu
của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhằm tạo ra những con người phát triển,
có sức khỏe để phục vụ xã hội.
Mục tiêu GDTC của nhà nước ta là bồi dưỡng thế hệ trẻ để trở thành những
người phát triển toàn diện như Nghị quyết Trung ương IV chỉ rõ “Con người mới phát

Trong công tác đào tạo của nhà trường chủ yếu tập trung cho học văn hóa mà chưa
thực sự chú trọng đến công tác GDTC của học sinh trong nhà trường vì thế thực trạng
phát triển thể chất của học sinh THPT Trường TH, THCS và THPT Chu Văn An phát
triển chưa tốt, chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy GDTC còn đơn điệu thiếu xinh
động. Nguyên nhân của sự thấp kém là: Do điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, nhận
thức của học sinh về môn học còn chưa tốt, hệ thống bài tập áp dụng trong quá trình
giảng dạy còn chưa phù hợp với đối tượng…
Để nâng cao phát triển thể chất cho học sinh THPT Trường TH, THCS và
THPT Chu Văn An, đặc biệt là mặt thể lực thì cần chú trọng vào việc giảng dạy và
luyện tập cho học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu lựa
trọn một số giải pháp nhằm phát triển thể chất cho học sinh khối 10 trường TH,
THCS và THPT Chu Văn An -Trường Đại Học Tây Bắc.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài tiến hành nghiên cứu, lựa trọn
giải pháp nhằm nâng cao thể chất cho học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT
Chu Văn An nhằm trang bị cho học sinh nền tảng thể chất cần thiết. Qua đó góp phần
nâng cao phát triển thể lực của học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn
An với điều tra thể chất nhân dân 2001 và quy định kèm nghị quyết số 53 của Bộ
GD&ĐT về việc kiểm tra đánh giá thể lực của học sinh, sinh viên 18/9/2008
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết 2 nhiệm vụ
nghiên cứu sau.
3.1. Nhiệm vụ 1: Thực trạng về thể chất của học sinh khối 10 trường TH,
THCS, và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc.54354
3.2. Nhiệm vụ 2: Lựa chọn giải pháp nâng cao thể chất của học sinh khối 10
trường TH, THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc.

2


nhà quản lý, các nhà sư phạm và các giáo viên dạy thể dục tại trường.

3


6.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Thông qua việc quan sát 32 giờ học thể dục của học sinh ( trong thời gian 4
tuần) chúng tôi đã quan sát được thực trạng các giờ tập thể chất của học sinh TH,
THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc và các phương pháp được ứng
dụng trong giảng dạy của giáo viên cơ sở.
6.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đánh giá trình độ phát triển thể chất của
đối tượng nghiên cứu thông qua các chỉ số về thể lực.
6.4.1. Chạy 30m xuất phát cao
Phương pháp này là đánh giá sức mạnh chi dưới của học sinh
Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây; đường chạy thẳng có chiều dài ít nhất
40m, chiều rộng ít nhất 2m. Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cọc tiêu bằng nhựa
hoặc bằng cờ hiệu ở hai đầu đường chạy. Sau đích có khoảng trống ít nhất 10m để
giảm tốc độ sau khi về đích.
Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao. Thực hiện
một lần, khi có lệnh xuất phát thì người được kiểm tra chạy hết 30m đến đích.
6.4.2. Chạy con thoi
Đây là phương pháp được sử dụng để đánh giá sức nhanh và khả năng phối hợp
vận động của học sinh.
Dụng cụ kiểm tra: đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh. Đường chạy thẳng trên
nền khô, 4 góc có vật chuẩn bị để quay đầu.
Cách tiến hành: Người được kiểm tra đứng vào vạch xuất phát, tiến hành các
thao tác “vào chỗ - sẵn sàng - chạy” giống như chạy 30m xuất phát cao. Khi chạy đến
vạch 10m cần 1 chân chạm vạch lâp tức quay người thật nhanh chạy về vạch xuất phát
đến khi chân chạm vạch lại lặp lại tương tự như lần đầu, người được kiểm tra thực

lệnh xuất phát thì người được kiểm tra chạy hết 50m đến cột mốc thì vòng trái qua cọc
rồi chạy lặp lại. cứ như vậy cho tới khi hết 5 phút (nếu mệt có thể đi bộ). Mỗi người
được kiểm tra có một số đeo ở trước ngực và một tích kê cầm trên tay, khi có lệnh báo
hết giờ thì người chạy thả tích kê của mình xuống dưới chân để đánh dấu số lẻ quãng
đường chạy được và chạy thả lỏng kết thúc kiểm tra.
6.5. Phương pháp toán học thống kê
Đề tài đã sử dụng phương pháp này vào việc sử dụng các số liệu, tính phần trăm
các nội dung trả lời trong từng phiếu phỏng vấn so với tổng số phiếu, so sánh kết quả
điều tra giữa các nhóm về nội dung điều tra, trong quá trình xử lý các số liệu đề tài,
các tham số và các công thức toán học thống kê truyền thống được trình bày trong
5


cuốn “đo lường thể thao”, “Những cơ sở toán học thống kê”, “phương pháp thống kê
trong TDTT”
n

Giá trị trung bình:

x=

∑x
i =1

i

n

Trong đó : x : Là số trung bình
xi : Là tần số quan sát

x

Tính t –Student: So sánh hai giá trị trung bình quan sát
x A − xB

t=

δ2 δ2

n A nB

(n A > 30; n B > 30)

đánh giá:
- t< t0,05 : Sự khác biệt không có ý nghĩa, hoặc không có đủ độ tin cậy
mang tính chất ngẫu nhiên ỏ ngưỡng xác suất P> ,0,05.
-

t ≥ t0,05 : Sự khác biệt có ý nghĩa hoặc đủ độ tin cậy ở ngưỡng xác

suất P
Giáo dục Thể chất: GDTC là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo
dục, giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu
chung của quá trình sư phạm, vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động
tương ứng với các nguyên tắc sư phạm
Phát triển Thể chất: Thì phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi
các tính chất, hình thái, chức năng tự nhiên của con người trong suốt cả cuộc sống cá
nhân của nó.
Phát triển Thể chất biểu hiện qua các chỉ số về hình thái như: Kích thước, trọng
lượng cơ thể, sự phát triển về chức năng thể hiện ở sự biến đổi các khả năng chức phận
của cơ thể theo thời kỳ và các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này
thể hiện qua các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm
dẻo, sự biến đổi năng lực hoạt động của hệ hô hấp, tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh,
tâm lý, ý chí phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên. Trong các quy luật đó
có sự tác động lẫn nhau của các xu hướng phát triển di truyền và xu hướng bị điều kiện
sống tác động.
Thể lực chung
Được hiểu là năng lực của các chức năng nguồn lực của cơ thể được biểu hiện
ra dưới sự chi phối của hệ thống thần kinh, loại năng lực này được tổ hợp từ sức mạnh,
sức nhanh ,sức bền và năng lực phối hợp vận động.
Chuẩn bị thể lực: là một nội dung của quá trình GDTC, đây là một hoạt động
chuyên môn hóa, chuẩn bị cho con người thi đấu, lao động phát triển các tố chất thể
lục và nhiệm vụ hoạt động hàng ngày.

8


Trình độ thể lực: là kết quả của quá trình chuẩn bị thể lực. Kỹ năng vận động,
nâng cao khả năng làm việc của cơ thể để tiếp thu hoặc thực hiện một loại hình hoạt
động của con người. Mức độ phù hợp của trình độ thể lực để thực hiện một hoạt động
nào đó gọi là sự sẵn sàng thể lực.

Nghị quyết Đại hội Đảng III: “…công tác GDTC phải được phát triển theo quy
mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có giác
ngộ XHCN có văn hoá, khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằm phục vụ đắc lực cho việc
đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động…”(1)
Trong đại hội đại biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, 1976 cũng nêu
rõ: “… nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chương
trình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dục chủ
nghiã Mác – Lê-nin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng
kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, coi trọng đúng mức giáo
dục thẩm mỹ TDTT và tập luyện quân sự…”(2)
Trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
năm 1996 khẳng định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực
sự trở thành quốc sách hàng đầu.” (3)
Đặc biệt trong hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm
1992 đã ghi rõ: “…việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc…”(4)
Chỉ thị 36 CT – TW ngày 24/3/1994 về công tác GDTC trong giai đoạn mới đã
nêu rõ: “cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo
viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, để
thực hiện GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học”.
Chỉ thị 133/TTg ngày 07/3/1996 về việc xây dựng, quy hoạch và phát triển
nghành TDTT, về GDTC trường học ghi rõ: “…Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt
coi trọng Giáo dục Thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội
khoá, ngoại khoá quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có
quy chế bắt buộc đối với các trường…”
Cùng với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước, bộ giáo dục và đào tạo
đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác GDTC nói chung và GDTC trường học
nói riêng thông qua các văn bản pháp quy, cụ thể là:
Thông tư số 04 – 93/ GD - ĐT – TDTT ngày 14/07/1993 về việc xây dựng kế
hoạch đồng bộ , xây dựng mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ
chức, quản lý TDTT và GDTC trong trường học các cấp.

nghìn giáo viên TDTT (104 thạc sĩ, 27.556 ĐH, 14.827 CĐ, 3.135 trung cấp, 674 sơ
cấp). Cùng với sự gia tăng về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên TDTT,
hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Giáo dục Thể chất và thể thao trong các
nhà trường cũng không ngừng tăng. Trong đó, số nhà tập luyện và thi đấu đa năng tại
các trường học cũng tăng gần gấp đôi. Nếu như năm 2008, trên cả nước chỉ có 833 thì
11


đến năm 2012 đã tăng lên 1.446. Tuy nhiên, con số này mới chỉ đạt 5,6% trong các nhà
trường trên toàn quốc (27.500 trường học), tỷ lệ này vẫn còn quá thấp và chỉ tập trung
ở một số thành phố lớn, những nơi có điều kiện kinh tế xã hội phát triển. Bên cạnh đó,
số bể bơi trong các trường học cũng tăng đáng kể. Năm 2008 chỉ có 18 bể và năm
2012 con số này đã lên tới 353 bể bơi.
Cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, Bộ GD&ĐT
đã chỉ đạo đổi mới chương trình và giáo trình đào tạo giáo viên ở tất cả các bậc học,
với mục đích nâng cao trình độ sư phạm cho các giáo viên thể dục. Trong quá tình đổi
mới về công tác thiết bị dạy học bộ môn, Bộ GD&ĐT đã thực hiện chủ trương khuyến
khích giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Lãnh đạo Bộ GD&ĐT
cũng đã quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn các hoạt động nghiên cứu khoa học GDTC từ
cấp trường.
Việc GDTC được thực hiện theo hướng trang bị những kiến thức về kỹ năng
vận động cơ bản; giáo dục các tố chất thể lực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục
đạo đức, lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách cho học sinh, hạn chế các hiện
tượng tiêu cực và tệ nạn trong nhà trường và xã hội.
Công tác Giáo dục Thể chất trong các trường học được thực hiện ngày càng đa
dạng, phong phú với những nội dung, hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của từng
trường ở từng địa phương...
Ngoài việc tham gia các đại hội dành cho học sinh, sinh viên Thế giới, khu vực,
châu lục, ngành Giáo dục và Đào tạo còn tổ chức, phối hợp tổ chức nhiều sân chơi
dành cho học sinh, sinh viên như: Hội khoẻ Phù Đổng, Đại hội sinh viên toàn Quốc,

trí thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương; Tăng cường chỉ đạo triển khai
thực hiện. Quy hoạch cơ sở Giáo dục Đào tạo có sơ sở vật chất đáp ứng hoạt động
TDTT trường học theo quy chuẩn quốc gia. Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách,
đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên TDTT; đẩy mạnh huy động các
nguồn xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong
các cơ sở giáo dục, đào tạo. Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện Thể dục
Thể thao, hướng dẫn viên TDTT cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước; Tăng cường công tác
đào tạo giáo viên TDTT, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho
hướng dẫn viên TDTT; tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong Giáo dục Thể
chất và hoạt động thể thao trường học…
Nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác gíao
dục thể chất trong trường học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Quang Quý cho rằng, cần
13


tăng cường các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác GDTC
trong trường phổ thông. Đặc biệt quan tâm đến HS nghèo, HS có hoàn cảnh khó khăn,
HS ở vùng sâu, vùng xa, miền núi. GD cho HS những kiến thức, kỹ năng thực hành,
kỹ năng sống để thay đổi thói quen tập luyện TDTT, hình thành được những thói quen
và hành vi sống khoẻ, sống tích cực, tránh xa các tệ nạn xã hội. Xây dựng môi trường
vui chơi, học tập lành mạnh trong các trường học...
1.3. Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc
dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến
25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15 - 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng,
nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý. Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì
không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng

tuổi thiếu niên. Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân
sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá,
không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)
Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu
niên. Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người
ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu”. Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh
hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa
chọn nghề nghiệp sau này của các em.
Điều kiện sống và hoạt động
Vị trí trong gia đình
Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn,
cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình. Các
em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình. Các em
bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị
củagia đình. Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vừa học tập
vừa lao động.
Vị trí trong nhà trường
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì
phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên. Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc
lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo. Nhà trường lúc này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn
15


chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các
em. Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực
độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự
phê bình.
Vị trí ngoài xã hội
Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia

chính là quá trình thích nghi của cơ thể với ngoại cảnh và từ lâu con người đã biết
luyện mình cho quen với sương, gió, nắng, mưa”.
Có thể nói phát triển thể chất chịu ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên như bẩm sinh,
di truyền và điều kiện môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, không khí, nước…
Ngoài ra thể chất của con người còn phụ thuộc vào yếu tố xã hội như: điều kiện
sống, sinh hoạt, học tập, giáo dục, hoạt động học tập, vui chơi…
1.4.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý và tâm lý
Theo nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Điển R. Hedoman cơ thể con người
được ví như một cỗ máy đang hoạt động.
Việc nghiên cứu cấu trúc cơ thể người và hoạt động của các khả năng trong cơ
thể có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức các quy luật phát triển thể lực. Tìm
hiểuđặc điểm giải phẫu và sinh lý lứa tuổi THPT sẽ cho ta thấy các nhìn tổng thể về
ccáu trúc, chức năng và quy luật phát triển thể chất của học sinh , từ đó ta có thể tác
động và điều khiển sao cho phù hợp với mỗi cá nhà và toàn thể xã hội.
1.4.2. Yếu tố bẩm sinh và di truyền
Di truyền là một yếu tố mang tính chất bẩm sinh, được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác, đó là quy luật chung của mọi sinh vật sống trên trái đất, ở loài người
yếu tố di truyền ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất (nếu cha mẹ mang đặc
tính tốt hay xấu về thể lực, tinh thần hay ý chí…con cái khi sinh ra cũng sẽ mang
những đặc tính đó)
Di truyền là cơ sở quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người, yếu tố đó
thể hiện khả năng tiềm ẩn trong mỗi cá thể. Nếu chúng ta biết vận dụng khả năng đó
để điều khiển quá trình phát triển thể chất của mình cho phù hợp với quá trình học tập,
lao động, sinh hoạt thì sẽ đạt được trình độ phát triển thể chất nhất định.
1.4.3. Quy luật trưởng thành và phát dục của cơ thể
Trưởng thành và phát dục là quá trình biến đổi về lượng và chất. Quy luật này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và diễn ra theo các giai đoạn khác nhau, tuần tự nối
tiếp nhau: Thời kỳ trong bụng me, thời kỳ sau khi sinh, thời kỳ nhi đồng, thiếu niên,
thanh niên, trưởng thành và tuổi già.
17

hội, vệ sinh trong ăn uống, học tập, lao động, nghỉ ngơi và tập luyện TDTT có ảnh
hưởng tốt đến sự phát triển thể chất, giúp cơ thể cân bằng với môi trường bên ngoài.

18


trong quá trình tập luyện TDTT việc thực hiện tốt các nguyên tắc vệ sinh sẽ quyết định
tới hiệu quả của quá trình tập luyện.
Chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, đặc
biệt là các năng lực hoạt động của con người. Do đó trong khẩu phần ăn hàng ngày
phải đảm bảo đủ cả về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thể
chất một cách toàn diện.
Chế độ sinh hoạt
Chế độ sinh hoạt ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ con người. Hoạt động vận
động là một nhu cầu tự nhiên không thể thiếu của mỗi cá nhân, đó là điều kiện cơ bản
để con người có thể tồn tại và phát triển. Hoạt động vận động không chỉ đơn thuần là
những hoạt động cơ bắp mà nó bao gồm cả các hoạt động khác trong đời sống con
người như: học tập, lao động, vui chơi, tập luyện TDTT…do đó trong quá trình sống,
lao động và học tập mỗi người cần tìm ra cho mình một chế độ sinh hoạt hợp lý để
giúp cơ thể phát triển thích hợp và toàn diện nhất.
Hoạt động vận động
Từ khi sinh ra nhu cầu vận động của con người đã trở thành nhu cầu tự nhiên,
cần thiết và không thể thiếu, vận động tích cực là các hành vi vận động mà con người
thực hiện trong cuộc sống hàng ngày và diễn ra trong suốt cuộc đời, những hoạt động
đó bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo…không những thế
hoạt động vận động còn bao gồm cả khả năng tư duy, động não của mỗi người trong
việc học và tự học để nâng cao tri thức cho mình và nó cũng chính là điều kiện cần
thiết cho sự phát triển và hoàn thiện thể chất của cơ thể.
Để con người phát triển toàn diện thì cần phải có sự quan tâm giáo dục một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status