1
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CẦU GIẤY
3.1. Định hướng phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD
3.1.1. Định hướng của Nhà nước
Thành phố Hà Nội đang tổ chức lấy ý kiến cho dự thảo “Đề án xây
dựng Hà Nội thành Trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu khu vực phía
Bắc”
1
. Theo đó, bên cạnh vai trò là một Thủ đô - trung tâm chính trị, kinh tế
và văn hoá của cả nước, Hà Nội sẽ nhanh chóng được xây dựng thành một
trung tâm tài chính - ngân hàng lớn, có vai trò quan trọng của cả nước.
Theo đề án này của thành phố, dự kiến lộ trình đến năm 2015, thị
trường vốn, thị trường chứng khoán của thủ đô sẽ trở thành công cụ cơ bản để
huy động vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp; các hoạt động kinh tế - xã
hội trên địa bàn. Thị trường này sẽ từng bước tiếp cận, kết nối và liên thông
với thị trường vốn quốc tế.
Các tiêu chí cụ thể được hoạch định theo lộ trình sau:
Vốn cho vay trung và dài hạn chiếm từ 40% - 42% tổng cho vay
NHTM vào năm 2010.
1 Nguồn: “Hà Nội năm 2010: Trung tâm Tài chính-Ngân hàng lớn” website Báo kinh tế hợp tác Việt Nam
(14/09/2007)
1
2
Tổng giao dịch các hoạt động tài chính - ngân hàng trên địa bàn chiếm
45% - 50% tổng giao dịch huy động cả nước, chiếm 75% - 80% của
khu vực phía bắc, chiếm 90% - 95% tổng giao dịch của vùng thủ đô.
Nhà nước chủ trương tiếp tục thực hiện các biện pháp khuyến khích
đầu tư cho việc phát triển: ban hành, sửa đổi các chính sách về thuế, chính
3.1.2.2. Định hướng phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD
CN NHCTCG thực hiện đúng định hướng của ngành: giảm dần cho vay
DNQD tăng cường cho vay với DNNQD; phấn đấu trở thành một ngân hàng
hàng đầu trên địa bàn trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn. Cơ cấu danh
mục cho vay theo nhóm khách hàng phải đảm bảo đẩy mạnh tiếp thị, tập trung
vốn cho vay với các doanh nghiệp thuộc các ngành có tiềm lực tài chính, sản
xuất kinh doanh hiệu quả như điện lực, dịch vụ, xuất nhập khẩu, … Hoạt
động đầu tư cho vay đang dần tiến tới mục tiêu ngân hàng của mọi thành phần
kinh tế và của toàn dân, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền
kinh tế Việt Nam cũng như định hướng của NHCTVN.
Tăng tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn có đảm bảo bằng tài sản.
Phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản
chiếm trên 70% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh
3
.
Phát triển cho vay trung và dài hạn với khối DNNQD nhưng phải đảm
bảo chấp hành nghiêm ngặt các nguyên tắc và điều kiện tín dụng; tăng cho
vay có bảo đảm, hạn chế cho vay nhiều vào một khách hàng. Phát triển cho
vay trung và dài hạn trong khuôn khổ nhằm đảm bảo an toàn tín dụng: khống
chế cho vay trung và dài hạn trong khoảng 40% tổng dư nợ nền kinh tế. Điều
này có nghĩa là chi nhánh cần lựa chọn những dự án tốt, có vốn tự có tham gia
lớn, hiệu quả cao, thời gian trả nợ nhanh, thực hiện lãi suất thả nổi thị trường,
bù đắp đủ chi phí có hiệu quả trong đầu tư tín dụng.
3 Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007
3
4
3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển cho vay trung và dài hạn đối với
DNNQD tại CN NHCTCG
Dựa trên định hướng phát triển của Chính phủ và của NHNN, cũng như
phương hướng cụ thể mà CN NHCTCG đã hoạch định về phát triển tín dụng
nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh.
3.2.1.2. Tăng cường quản lý hoạt động của các DNNQD
Nhà nước cần có các giải pháp hiệu quả trong việc quản lý doanh
nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng, trước mắt là ở các khía cạnh chấp
hành pháp lệnh kế toán thống kê đối với các doanh nghiệp, thủ tục cấp phép,
đăng ký kinh doanh, … để nhằm lành mạnh hóa môi trường hoạt động cho
các DNNQD.
Đảm bảo môi trường kinh tế phát triển lành mạnh thông qua hoàn thiện
và ổn định chính sách kinh tế, quản lý vĩ mô là bước đầu tiên và quan trọng
nhất để các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh.
3.2.1.3. Thành lập các quỹ hỗ trợ nhằm bão lãnh vay vốn cho DNNQD
DNNQD gặp khó khăn chủ yếu khi tiếp cận nguồn vốn vay từ NHTM
chính là không đáp ứng đủ yêu cầu về tài sản đảm bảo tiền vay cũng như điều
kiện về tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu trên tổng vốn dự án. Bên cạnh việc hỗ
trợ về sửa đổi hành lang pháp lý tạo sân chơi công bằng cho mọi thành phần
kinh tế thì Chính phủ cũng cần thành lập các quỹ hỗ trợ cho DNNQD. Các
quỹ này được lập nên với nhiệm vụ là dùng uy tín của mình, thay mặt Nhà
nước đứng ra bảo lãnh cho các DNNQD có nhu cầu vay vốn ngân hàng song
không đáp ứng đủ điều kiện để được vay vốn. Các quỹ hỗ trợ này không
5
6
những giúp cho DNNQD có được nguồn vốn trung và dài hạn kịp thời đáp
ứng nhu cầu mà còn bảo đảm an toàn hoạt động cho NHTM.
3.2.2. Nhóm giải pháp chủ quan từ phía ngân hàng
3.2.2.1. Nâng cao tính độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng
Cho đến nay, NHTM Nhà nước vẫn là người cho vay DNQD lớn nhất.
Có nhiều lý do: Mối quan hệ truyền thống, cùng hình thức sở hữu, nhu cầu
vay của các DNQD lớn và khả năng cho vay của NHTM Nhà nước cũng lớn